21.09 -hhongxuan(type done)

18/8/15
21.09 -hhongxuan(type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-VXZMMnJjcmluYzg/view?pli=1


    xin bắt chước theo phép ấy, đặt hộ-phận chính-binh, cung tiển thủ và nhân mã đoàn làm chín phủ, hợp trăm đội lại phân ra bốn bộ, Tả, Hữu, Tiền, Hậu.

    Về đội có trú chiến đội (đóng quân mà đánh) và thác chiến đội (mở trận đánh) khác nhau.

    Mỗi tướng có bộ-binh kỵ-binh khí-giới đều đồng nhau, chỉ khác nhau về người ngựa phiên binh.

    Mỗi đội đều tùy theo chỗ ở chia ra mà lệ-thuộc vào.

    Số các tướng không bằng phân nửa của chính-binh là để chế-ngự chúng, cho lính già yếu ở trong thành, so-sánh chỗ xa chỗ gần mà phân biệt.

    Khiến phiên-binh và Hán-binh không được ở lẫn lộn nhau đề phòng việc biển.

    Vua Thần-tông nhà Tống cho những điều ấy là hay.

    Binh-pháp nhà Lý được triều-đình Trung-quốc lấy mà dùng như thế.

    Nhà Lý, phía bắc phá được châu Ung, châu Liêm của Trung-quốc, phía nam dẹp yên nước Chiêm, nước Lào, đi đánh chẳng bao giờ không thắng, thật là vi thể.

    [48a] Phủ-binh nhà Đường biến làm trường-tùng (1), bởi vì đến niên-hiệu Khai-nguyên (713) tình-thế phải như vậy.

    Lý-Bật bình luận việc ấy đã rõ-ràng.

    Năm thứ 2 (714) sau khi vua Huyền-tông lên ngôi, quân Thổ-phồn vào cướp phá, vua mở cuộc tuyển-mộ dũng-sĩ rất lớn lao, và sắp thân-chinh thì các tướng đã phá được quân Thổ-phồn.

    Do đó vua xuống chiếu dạy quân-đội ở các trấn ven theo biên-giới mỗi năm được thay phiên, khiến cho binh

    không biết tướng, tướng không biết binh.

    Các trấn quân-sự ở vùng tây-bắc phải gia tăng quân-số, trước hết đem binh ở vùng phu-cận sung vào và phải tuyển chọn cho kỹ.

    ----------------
    (1) Trường tùng, tùng quân dài hạn. suốt đời.
    -----------------

    Các chiến-sĩ lập riêng thành đội ngũ chỉ chuyên lo việc tập luyện, không được sai làm việc.

    Năm Khai-nguyên thứ 8 (720), vua lại xuống chiếu dạy các châu ở hai kinh chọn lấy mười vạn binh (100.000) đều

    bắt chước theo cấp bậc đương phục-dịch và khiến cho các đoàn ngũ ấy luyện tập. Như thế là đã có ý biến lần lần quân-đội thành trường-tùng.

    Năm Khai-nguyên thứ 18 (730) vua mới xuống chiếu dạy rõ lẫy binh phủ Quảng-tây và dân bạch-đinh (1) hai mươi vạn (200.000) người làm quân trường-tùng [43b] túc-vệ, nhưng quân đóng ở biên-giới vẫn được thay phiên thú phòng.

    Đến năm Khai-nguyên thứ 25 (737), nhà vua thấy vùng biên-giới đã bình-yên, muốn giảm bớt hay đình-chỉ việc đánh thuế làm xâu cho dân được nghỉ-ngơi, xuống chiếu cho quan tể-tướng và các quan tiết-độ-sứ kế nghị, lượng xét quân ở phiên-trấn nhàn rổi hay bận rộn, xem xét mà tính số lính tráng-kiện hợp lại mà định quân ngạch, ủy-thác cho quan tiết-độ-sứ ở các ấp đánh thuế những người

    qua lại và những nhà từ nơi khác đến ở (2), mộ những đinh-tráng tình-nguyện làm quân mạnh khỏe thú phòng biên-giới lâu dài, đên cuối năm thì làm sổ để nộp.

    Năm Khai-nguyên thứ 26 (738), tờ chiếu thư đại xá có viết :

    “Trẫm mỗi lần nhớ đến lê dân (dân đen) chết vì việc chinh-chiến và đồn thú, họ-hàng thân-thích phải nhiều nỗi sầu oán biệt-ly, quan ải núi non lắm nỗi qua lại nhọc-nhằn, thường sao không trắc ẩn ở lòng, thức ngủ thêm thở-than, cho nên mới khiến chiêu mộ riêng để sung vào quân biên-phòng, ban thưởng trọng hậu cho họ để họ thường ở luôn nơi đấy.

    “ Nay số người do các quân chiêu-mộ [49a] đã đủ, thì

    -------------------------
    (1) Bạch-đinh, thường dân không có quan chức.

    (2) Khách hộ, nhà từ nơi khác dọn đến ở.
    -------------------------

    ở Trung-hạ (1) có thể bãi binh, đã không có việc chiến-tranh, thì đủ để bảo-vệ nghề làm ruộng trồng dâu.

    “Từ nay trở về sau, những binh tráng-kiện của các đạo quân đều được đình-chỉ việc đồn thú ở biên-giới, còn những trấn binh có hiện tại đều được cho về.

    “Từ nay, ở trong thì Túc-vệ, ở ngoài thì biên-trấn đều dùng mộ binh, còn phép bắt lính phủ-binh thì bỏ hết.

    Đầu quốc-triều, phủ-binh chỉ cung-cấp việc thay phiên túc-vệ chớ không có việc canh giữ biên-thùy. Lòng người được yên cho nên được tồn-tại lâu dài.

    Khoảng giữa quốc-triều mở-mang lập ra phiên-trấn. Phải đi làm nơi xa, đồn thú lâu ngày, lòng người thấy bất tiện, cho nên phép ấy hỏng.

    Vua Đường Minh-hoàng xuống chiếu mộ những khách hộ (nhà từ nơi khác dời đến ở), cho về những dân binh chinh-chiến và đồn thú. Ý ấy chưa phải là không hay.

    Đương lúc ấy các quan bàn nghị có thể chỉnh-lý việc ấy : Ở ngoài tùy dùng mộ binh, ở trong vẫn dùng dân binh, há [49b] rằng chẳng tiện lợi cả đôi bề ?

    Lại bãi bỏ đoàn-giáo, đình-chỉ phiên-thượng, dẹp hết phủ-binh và túc-vệ để trở thành cái thế đuôi to lớn, giữa khô khan, đó là lầm vậy.

    Khảo xét Sách phủ nguyên quy (2) thì tự thấy việc đó.

    Sử chép: Phủ-binh đời Đường, từ tuổi thành-đinh (3) tùng-quân đến 60 tuổi thì được miễn, gia-đình lại không khỏi những việc làm xâu lặt-vặt, rồi lần lần vì nghèo yếu trốn tránh gần hết, đến nỗi không bắt được lính, như thế tự hồ như chưa cứu xét sự thật.

    -------------------
    (1) Trung-hạ, Trung-quốc, nước Tàu.
    (2) Sách phủ nguyên quy, tên sách, có 1.000 quyển, do nhóm Vương-Khâm-Nhược và Dương-Ức phụng sắc biên soạn, chép những sự tích của vua tôi trải qua các đời chia làm 31 bộ, 1.104 môn.
    (3) Thành-đinh tức thành-niên, con trai đủ 20 tuổi gọi là thành-đinh hay thành-niên.
    --------------------

    Đời Khai-nguyên (713 - 741) toàn thịnh, dân-chúng giàu có dồi-dào, như ở Quan-nội và Quan-ngoại hơn 800 phủ-dân ở thôn ấp đều trốn cả, không ai làm lính thì lấy gì trị đời được?

    Ngạch quân cấm-vệ khuyết trống mà không điền bổ, quân thú-biên quá số mà không trừ bớt, đương lúc bấy giờ thật đã có cái tệ ấy.

    Nhưng nếu trách dân hộ điền bổ và trừ bỏ thì há rằng tất cả đều không có người?

    Trương-Duyệt muốn biển đổi pháp-độ mượn cớ đó để khiến những kẻ trốn tránh phải ứng mộ là để nói vậy thôi.

    Xét ra: năm Tiên-thiên thứ 2 (712)[50a] vua Đường Duệ-tông (3) xuống chiếu nói rằng:

    “Vận Hoàng-gia buổi đầu, quân chính mới chỉnh tu,đặt hai quân-lữ, bắt đầu phân phủ-binh và túc-vệ, tính số hộ-tịch để sung quân vừa đủ dùng, bèn khiến trai-tráng tuổi 21 nhập vào lính mộ, đến tuổi 60 thì giải ngũ, đã sợ lao nhọc, đều mưu tính ẩn trốn, nên không có sửa đổi lại thì lấy gì đề làm cho hợp lý ?

    Nay ra lịnh cho thiên-hạ, lấy trai-tráng 25 tuổi trở lên chọn vào lính vệ-sĩ, sung được 15 năm thì cho về, chọn người đã nhiều lần chinh-chiến và trấn-thủ được 10 năm thì cho về. Sở dĩ đã như thế là vì lúc bấy giờ người ta và nhà cửa đông nhiều cho nên có ý khoan thử.

    Đã xuống tờ chiếu ấy thì dân 40 tuổi và 35 tuổi đã thành hạng quân già đề sa-thải, thì một thôn còn được mấy người thay thế. Thi-hành lịnh ấy hơn mười năm thì trai-tráng sung vào đội ngũ sẽ ít đi.

    [50b] Nhà Minh lấy quân của một trấn do quan Tổng-binh quản-lãnh làm chính-binh, lấy 3.000 quân do quan Phó Tổng-binh chia ra quản-lãnh làm kỳ-binh, lấy 3.000 binh do du-kích chia ra quản-lãnh qua qua lại lại phòng-

    ---------------
    (2) Chỗ nầy sách chép sai. – Tháng 8 năm Nhâm-tý vua Đường Duệ-tông truyền ngôi cho Thái-tử Long-cơ, tức Đường Huyền-tông (chớ không phải Đường Duệ-tông).
    -----------------

    ngự làm du-binh, lấy quân của quan Tham-tướng chia giữ các lộ để phía đông phía tây sách-ứng (1) nhau làm viện-binh. Bày quan đặt tướng đã có ý ngụ trận pháp.

    Chế-độ nhà Minh đặt mỗi vệ 5 thiên hộ-sở, lấy 5.600 người làm một vệ, 1.120hgười làm một thiên hộ (2) sở, 120 người làm một bá hộ sở.

    Ở trong và ở ngoài khắp trong thiên-hạ được tất cả 547 vệ, 2.593 sở.

    Về sau ngạch thì còn mà thực-chất đã mát. Binh-thế bèn trở thành yếu-đuối.

    Phép phủ-binh quả đã kho có cái tệ hay sao?

    Nhà Minh có 12 đoàn doanh, 38 vạn quân (380.000).

    Trong niên-hiệu Gia-tĩnh (1522-1566) số lính được ghi trong bộ chỉ có 14 vạn (140.000), nhưng sự thật [51a] không đến 5 hay 6 vạn (50.000, 60.000). Lương-hướng chi cấp cho quân thì có, mà điều-khiển thì không, việc quân-chính sao mà bại-hoại đến như thế?

    Cấp tướng-lãnh và bậc quyền-quý chiếm một số lính cho làm việc riêng, cuối cùng không thể nào cứu-xét được, là vì cớ ấy.

    ---------------
    (1) Sách-ứng, quân ở bên tả ở bên hữu hay ở tiền ở hậu hô ứng nhau để tác chiến.
    (2) Thiên hộ, chức quan ở vệ sở cai-quản 1.000 binh.
    ---------------



    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    QUYỂN V

    5 – VĂN-NGHỆ (48 điều)

    ------------


    KHỔNG-TỬ nói : “Từ đạt nhi dĩ hĩ”. Nghĩa là : Văn-từ cần đạt mà thôi. Đạt là nói bình-dị (bình-thường dễ hiểu).

    Chu-Tử nói : “Đạo lý diệu xứ khước đa tại bình dị”. Nghĩa là : Chỗ tinh-diệu của đạo-lý phần nhiều ở chỗ bình dị.

    Chu-Tử lại nói : “Độc giả ninh tường vô lược, ninh chuyết vô-xảo, ninh cận vô viễn”. Nghĩa là : Đọc sách nên đọc tường-tận, chớ nên sơ lược, nên thấp, chớ nên cao, nên vụng, chớ nên khéo, nên gần, chớ nên xa.

    Thẫm-Ước cũng nói : “ Văn-chương đương từng tam dị : Dị kiến sự, dị thức tự, dị tụng độc dã”. Nghĩa là : Văn-chương nên theo ba điều dễ : Dễ thấy việc, dễ biết chữ và dễ đọc.

    Văn-chương là gốc to của việc lập thân, là việc lớn của sự sửa trị việc đời.

    Người nhà Đường nói : “Chọn lấy kẻ-sĩ mà dùng thì trước hết tất phải nhắm đức hạnh, sau cùng mới xét về văn-nghệ. Đó là nói về chức Thư-phán, chớ không phải lược chung.

    [1b] Chu-Tử nói : “Ngôn chi vô văn hành chi bất viễn. Tứ giáo (1) tất liên chi, dĩ văn ước lễ, tất liên bác văn,

    ------------------
    (1) Tứ giáo, bốn điều dạy bảo của Khổng-Tử : Văn, hạnh, trung, tín. – Thiên Thuật–nhi trong sách Luận-ngữ có câu : “Tử dĩ tứ giáo”. Nghĩa là : Khổng-Tử lấy bốn điều dạy người : Văn, hạnh, trung, tín.
    ------------------


    vị thường chỉ vi mạt sự”. Nghĩa là : Lời nói mà không có văn-chương thì không đi xa. Trong bốn điều dạy bảo của Khổng-Tử, trước hết tất phải lấy văn-chương, muốn ước-thúc lễ-giáo trước hết tất phải rộng văn-chương. Văn chương chưa từng bị chỉ-định là việc ngọn.

    Sách Luận-ngữ chép : “ Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ”. Nghĩa là : Dốc chí vào đạo, giữ vững ở đức, nương tựa vào nhân, vui chơi ở nghệ.

    Đó là nói ngang nhau theo bình-diện, chớ không từng phân-biệt gốc ngọn.

    Lời truyện (1) ở thiên Đính chi phương trung thuộc thơ Dung-phong trong kinh Thi của Mao-Công nói về cửu năng (chín điều nên) như sau :

    1) Kiến bang năng mệnh quy : Khi dựng nước nên bói bằng mai rùa.

    2) Điền năng thi mệnh : Khi đi săn thì nên thi-hành mệnh-lệnh.

    3) Tác khí năng minh : Khi làm vật-dụng gì thì nên làm bài minh (2).

    (4) Sứ năng tạo mệnh (3) : Khi đi sứ thì nên biết chuyển họa thành phúc.

    (5) Thăng cao năng phú : Khi lên cao thì nên biết làm bài phú.

    (6) Sư lữ năng thệ (4) : Khi xuất quân đi chinh-phạt thì nên biết tụ hợp quân-sĩ lại mà răn dạy.

    --------------
    (1) Truyện, phần giải rõ ý-nghĩa trong kinh.
    (2) Minh, bài văn thường được khắc trên vạc trên mâm hay trên bia đá để tỏ ý khen ngợi hay giới răn.
    (3) Tạo mệnh, chuyển họa thành phúc. – Vua Tần sai sứ sang nước Sở. Vua Sở bảo sứ giả : “Ta sẽ giết ngươi để bôi chuông”. – Sứ giả đáp : “Tôi chết mà không về nước được thì vua tôi biết, lo chỉnh-bị quân-đội sang đánh nước Sở”. Vua Sở bèn tha sứ-giả cho trở về. Như thế gọi là tạo-mệnh. – Sách chép sai tạo mệnh ra đạt mệnh.
    (4) Thệ, tức thệ sư, khi xuất chinh, vua hay tướng-lãnh tụ họp quân-sĩ lại mà răn dạy.
    ----------------------