21.10 - hhongxuan (type done)

15/8/15
21.10 - hhongxuan (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-QlBaN3NfWVVXT3c/view?pli=1


    7) Sơn xuyên năng thuyết : Thấy núi sông thì nói được lý-do.

    8) Tang kỷ năng lũy(1) : Trong đám tang thì nên biết làm bài văn kể rõ đức hạnh của người chết.

    9) Tế tự năng ngữ (2) : Trong việc cúng tế thì nên biết nói ra lễ-nghi.

    Người quân-tử làm được chín điều nầy thì có thể gọi là có đức-âm (3) và có thể làm quan đại-phu.

    Nhà Chu chọn lấy kẻ-sĩ đại-khái là như thế, thì có thể bảo văn-chương là việc ngọn được hay sao ?

    Đại để phần tinh-hoa đẹp-đẽ phát-tiết ra ngoài đều do sự hòa-thuận chất chứa ở trong, cho nên người có đức thì tất có lời, người có hạnh thì tất có học.

    Chim phụng rực-rỡ lông vũ [2a], con beo trơn lông bóng lông mao, trau dồi trang-sức ở ngoài và chất-chứa trong lòng đều giống nhau như một.

    Chu-Tử nói : “Uy-nghi đúng pháp-độ, nói-năng đúng lý đều là văn cả”.

    Chu-Tử lại nói : “Lấy lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (cầm cương đánh xe), thư (viết chữ), số (tính toán) dạy người về văn, thì làm sao có người đã theo học những môn ấy rồi mà có thể bảo là còn thiếu về đức hạnh được sao ?

    Xem người, đúng là phải luận xét những điều đó, không nên xem đức với văn là hai cái khác nhau.

    Việc dạy-dỗ về lục-nghệ (4) thì văn-sự và vũ-bị đều đầy đủ cả. Cho nên những người được đào luyện bằng cách dạy-dỗ ấy, hễ vào triều thì làm công-khanh, ra ngoài thì làm tướng-súy. Việc ứng dụng không có gì là không thích-đáng.

    --------------------------
    (1) Lũy, bài văn kể rõ đức hạnh của người chết.

    (2) Câu nầy sách chép sai ra : Tế tự năng chúc.

    (3) Đức-âm, danh tiếng tốt.

    (4) Lục-nghệ, sáu nghề : Lễ, nhạc, xạ(bắn cung), ngư (cầm cương đánh xe), thư (viết chữ), số (tính toán).
    ---------------------------

    Theo cách tuyển chọn người bằng cửu-năng, thì việc chính-trị và từ-hàn (từ-chương) là một thể. Cho nên khi vào triều thì có thể thay vua phán quyết, khi ra ngoài thì có thể tuyên-bố mệnh-lệnh lớn-lao. Việc thi dụng không có điều gì là không thích-nghi.

    Nhân-tài của đời thịnh cổ vượt xa của đời sau đều vì thế đó.

    Vì học mà không thông suốt khắp cả và hoàn toàn đầy-đủ thì có được chăng ?

    [2b] Sách Luận-hành chép : Trông thấy nhà cửa lớn-lao thì biết đó là gia-tộc có danh-tiếng. Thấy cây cao thì biết đó là nước đã lâu đời. Văn-hóa lớn-lao còn ở trong nước là bằng chứng của đời thạnh trị.

    Bậc quốc-quân (vua một nước) mà sáng-suốt thì văn-nhân tụ-tập lại. Thánh-hiền định ý-chí ở ngòi bút. Những ngòi bút tụ-tập lại thành văn. Văn-chương thuật bày đầy đủ tâm-tình và làm hiểu rõ phong-tục.

    Người nào cho văn-chương là cành là lá thì thật chưa biết điều đó.

    Sách Trang-Tử (1), Hoài-Nam-Tử (2) là tổ của văn-chương.

    Sách Sử-ký (3) Tả-truyện (4) là tổ của sử-học.

    Sở-từ (5) là tổ của từ-phú.

    --------------------------
    (1) Trang-Tử, tên sách, do Trang-Chu soạn có nhiều tư-tưởng phóng khoáng siêu-việt cao xa gần giống như của Lão-Tử.

    (2) Hoài-Nam-Tử, tên sách, do Hoài-Nam-Vương đời Hán là Lưu-An soạn, có tất cả 21 quyển.

    (3) Sử-ký, tên sách, có 130 quyển, do Tư-Mã-Thiên tiếp-tục công việc của cha mà soạn ra, là một bộ sử rất có giá-trị.

    (4) Tả-truyện, tên sách, cũng gọi là Tả-thị Xuân-thu do Tả-Khâu-Minh đời nhà Chu soạn ra, là một bộ sử rất có giá-trị.

    (5) Sở-từ, tên sách, do Lưu-Hướng đời nhà Hán (hoặc người đời sau) sưu-tập những bài phú của Khuất-Nguyên, Tống-Ngọc, Cảnh-Sai có phụ thêm những tác phẩm của Giả-Nghị, Hoài-Nam, Tiểu-Sơn, Đông-Phương-Sóc, Nghiêm-Kỵ, Vương-Bao, và bài Cửu-thán của Lưu-Hướng bài Cửu-tư của Vương-Dật.
    ---------------------------

    Đời xưa chưa có Tử-thư (1).

    Quản-Trọng (2) làm loại sách ấy ở nước Tề.

    Trang-Chu, Hàn-Phi (3) và Tuân-Huống (4) noi theo viết sách loại ấy.

    Những thiên sách ấy đều thành những bản văn nghị-luận mà thư-thể đã biến đổi hẳn.

    Đời xưa chưa có từ-phú.

    Khuất-Nguyên (5) khởi-xướng lối từ-phú ở nước Sở. Tống-Ngọc, Đường-Lặc và Cảnh-Sai họa theo.

    Những câu văn ấy đều bay bướm mà [3a] thể thơ từ đấy biến đổi hẳn.

    Đọc sách Tả-truyệnQuốc-ngữ (6) mới biết người xưa ghi chép sự việc tường-tận. Cho đến những câu chuyện nói riêng với nhau, những lời thân-thiết gần-gũi nhau, những lời đoán mộng, những lời xem bói, không có điều gì mà người xưa không biên chép, cũng chưa từng thấy là rườm-ra.


    -------------------
    (1) Tử-thư, sách của Chư-tử bách-gia. Sách mà tác-giả lập thuyết tự-thành một phái riêng gọi tử-thư, như Lão-tử, Trang-Tử, Tuân-Tử, Hoài-Nam-Tử...

    (2) Quản-Trọng, tự là Di-ngô, làm tướng-quốc nước Tề đời Đông-Chu, làm hùng-cường nước Tề và giành ngôi bá-chủ cho Tề Hoàn-công.

    (3) Hàn-Phi, công-tử nước Hàn đời Chiến-quốc viết nhiều sách : Cô-phẫn, Ngũ-đỗ, Nội ngoại trừ thuyết, Thuyết lâm, Thuyết nan.

    (4) Tuân-Huống, người nước Triệu đời nhà Chu được người bấy giờ tôn xưng là Tuân-Khanh, tuổi đã 60 còn đi học ở nước Tề, thường xướng lên thuyết tính ác trái ngược với tính thiện của Nho-giáo.

    (5) Khuất-Nguyên, (343-290 trước Thiên-Chúa). Khuất-Đột-Nguyên, chính tên là Bình, hiệu là Linh-quán, làm chức Tam-lư đại-phu đời vua Sở Hoài-vương thời Chiến-quốc. Khi Vua Sở đem quân đi đánh nước Tần, ông ngậm gươm treo mình can vua mà không được. Vua Sở bại trận và chết ở đất Tần. Vua Sở Tương-vương lên ngôi, nghe lời gièm siễm đày ông ra Giang-nam, ông thất chí trầm mình ở sông Mịch-la mà chết vào ngày mùng 5 tháng 5.

    Ông là người có tư-tưởng cao thượng, trong sạch, thiết tha với nước, đau khổ với đời. Ông đã mở một kỷ-nguyên mới cho văn-thể thi-ca, vì từ lúc bấy giờ trở về trước, thi-ca Trung-Quốc chỉ là ca-dao tục-ngữ, từ đời Ông trở về sau mới có lối thơ Sở-từ. Lối thơ thất-ngôn bắt nguồn từ lối thơ của Ông ở trong các tập Ly-tao, Cửu-chương, Thiên-vấn của Ông.

    (6) Quốc ngữ, tên sách, gồm có 21 quyển, do Tả-Khiêu-Minh đời nhà Chu soạn ra.
    -----------------------

    Đọc sử đời Đường đời Tống mới biết người đời sau ghi chép sự việc rất sơ-lược. Cho đến những tấu chương, đối, sơ, điển-hiến, điều mục có nhiều chỗ sót lậu, cũng chưa từng thấy là đơn-giản.

    Sách Tả-truyện có chép một đoạn kể việc Kính-vương xin nước Tấn xây thành ở Thành-chu (1). Sách Sử-ký có chép bức thư của Nhạc-Nghị (2) đáp lời Yên-vương. Sách Tam-quốc-chí có chép bức thư của Gia-Cát-Khác gởi cho Tề-vương. Ba bài văn ấy nghĩa-lý thông-đạt sáng-sủa.

    Tôi nói : Ai đọc những bài văn ấy thì đạt đến chỗ thú-vị, bởi vì đọc sách thì phải xem cho được chỗ thần tình, làm văn cũng quý ở chỗ có thần [3b] tình.

    Tô Đông-pha (3) nói : “Ý dứt mà lời hết là lời nói rất hay trong thiên-hạ. Nhưng lời dứt mà ý không hết thì lại càng hay hơn nữa. Như xem sách Lễ-ký Tả-truyện thì có thể thấy được việc đó”.

    Trương-Tử nói : “Đọc sách ít thì không do đâu mà khảo tra được ý nghĩa. Muốn hiểu sách được tinh-tường thì phải học đọc thuộc lòng (4) và suy nghĩ tinh-tường,

    ---------------------
    (1) Thành-chu, tên đất ngày xưa, thành xưa ngày nay ở phía đông-bắc huyện Lạc-dương tỉnh Hà-nam.

    (2) Nhạc-Nghị, người nước Yên thời Chiên-quốc, được vua Yên Chiêu-vương phong làm Thượng-tướng-quân, đem binh năm nước Triệu, Sở, Hà, Ngụy, Yên đánh nước Tề, phá được quân Tề, đánh lấy hơn 70 thành của Tề, được phong Xương-quốc-quân.

    (3) Tô Đông-pha (1036-1101), tên Thức, tự là Tử-chiêm, người ở đất My-sơn đời Tống, con của Tô-Tuân, anh của Tô-Triệt, đỗ Tiến-sĩ năm Gia-hựu. Khi Vương-An-Thạch thi-hành tân-pháp, Thức và Triệt dâng thư lên vua Tống Thần-tông trần bình những điều bất tiện. Do đó Tô-Thức bị đổi đi nhiệm-chức ở Hàng-châu rồi dời sang Hồ-châu, Hoàng-châu, Huệ-châu, Quỳnh-châu. Lúc ở Hoàng-châu, Tô-Thức làm cái nhà ở Đông-pha, nhân đó tự xưng là Đông-pha cư-sĩ. Khi vua Tống Triết-tông lên ngôi, Ông được triệu về, làm quan đến chức Đoan-minh-điện Thị-độc học-sĩ. Lối văn của Ông mạnh-mẽ súc-tích trôi chảy bình-dị, thơ của Ông thanh-nhã phóng-dật. Ông viết chữ rất đẹp và vẽ tranh rất khéo. Ông có soạn những sách : Dịch-thư truyện, Luận ngữ thuyết, Cừu trì bút, Đông-pha chí lâm, Đông-pha toàn tập, Đông-pha từ.

    (4) Thành tụng, đọc thuộc lòng.
    --------------------------

    Hễ không nhớ thì suy nghĩ không ra. Nhưng sau khi mình thông suốt được đại nguyện (1) thì sách cũng dễ nhớ.

    Ở chỗ không nghi-ngờ mà có điều nghi-ngờ mới là có tiến-bộ”.

    Sách Thuyết-phu nói : Đọc sách hàng trăm lần thì tự nhiên thấy ý-nghĩa.

    Lời nầy thật hợp với chỗ nầy.

    Sách Môn sắt tân ngữ : Văn-chương không sử-dụng sự việc thì khó nhất, sử-dụng nhiều sự việc cũng khó nhất. [4a] Không sử-dụng sự việc thì khó lập ý, sử-dụng nhiều sự việc thì khó khiến lời.

    Sách ấy lại chép : Đọc sách là để nhớ được chắc-chắn, thì hằng ngày thấy có tiến-bộ hữu ích.

    Sách ấy lại chép : Hoàn-Ông (2) xem Bát-trận-đồ (3) cho là hình-thế con rắn ở núi Thường-sơn (4), không những riêng dùng về binh-pháp mà còn dùng văn-pháp nữa.

    Văn-chương phải uyển-chuyển hồi-phục đầu đuôi ứng nhau mới là tuyệt hay.

    Đó là những lời nói có danh tiếng về văn-chương.

    Người xưa nói : “Làm thơ làm văn chép việc tuy nhiều mà chỉ sợ không biến hóa”.

    Ý nói nên đem lời và ý của cổ-nhân huyện lại biến thành mới cả chớ không nên bắt chước theo lối cũ.

    ---------------------
    (1) Đại nguyên tức đại bồn, nền-tảng chủ-yếu của sự-vật.

    (2) Hoàn-Ôn, người ở đất Long-cang đời Tấn, tự là Nguyên-tử, lúc mới sinh ra, Ôn-Kiều nghe tiếng khóc bảo là bậc anh-tài, cha mẹ nhân đó đặt tên là Ôn. Trong thời vua Nguyên-đế, Hoàn-Ôn cưới Nam-Khang Trưởng công-chúa, được phong Phò-mã Đô-úy. Trong thời vua Minh-đế Hoàn-Ôn đem quân đi đánh Thục, Phù-kiên và Diêu-tương, làm quan đến chức Đại Tư-mã, được phong Nam Quận-công, được ban cửu-tích, uy-thế hống-hách, lần lần có chí phản-nghịch, thường than rằng : “Làm trai không để tiếng thơm cho trăm đời thì cũng nên để tiếng xấu lại muôn năm”. Về sau đánh nước Yên bị thua, trở về, phế Đế-Đội, lập Giản Văn-đế, âm mưu soán ngôi, chưa thành-công thì mất.

    (3) Bát-trận-đồ, Gia-Cát-Lượng lấy đá bày ra Bát-trận-đồ, di tích còn ở tỉnh Thiểm-tây và tỉnh Tứ-xuyên.

    (4) Thường-sơn xà, con rắn núi Thường-sơn ở Cối-kê, hễ mình động nó ở đầu thì đuôi nó phóng tới, mình động nó ở đuôi thì đầu nó phóng tới, mình động nó ở giữa bụng thì cả đầu và đuôi nó cùng phóng tới.
    -------------------------

    Văn-Tử (1) nói : “Bậc thượng-học lấy thần mà nghe, bậc trung-học lấy tâm mà nghe, bậc hạ-học lấy tai mà nghe”.

    Nghe bằng tai là học ở da, nghe bằng tâm là học ở thịt, nghe bằng thần là học ở xương tủy.

    [4b] Thiệu-Tử nói : “Những người có thể đọc sách, trong thiên-hạ rất ít”.

    Chu-Tử nói : “Phàm xem văn, những chỗ dị đồng (2) của các nhà rất đáng xem. Tôi ngày trước xem văn thi chuyên đọc chỗ dị đồng”.

    Ông lại nói : “Lúc xem phần chú-giải thì không thể nào bỏ sót những chữ khẩn yếu”.

    Ông lại nói : “Đọc sách thì nên đem bổn văn đọc cho thuộc, nhai gậm mỗi chữ mới có thú-vị, nếu có chỗ hiểu không được thì suy nghĩ sâu xa, mà không hiểu được nữa mới đem phần chú-giải ra xem mới có ý-vị”.

    Ông lại nói : “Xem phần giảng giải thì không nên chuyên câu nệ thuyết khác và không tìm lẽ phải trái mà vội bảo rằng lời nói của bậc thánh-hiền đời trước đều là đích-đáng. Như những lời chép trong những sách còn truyền lại há rằng không có chỗ quá đáng hay thất thực và cũng có chỗ nói không đến”.

    Ông lại nói : “Lúc đầu mới xem liền lấy ý riêng của mình mà phán-đoán trước, những lời của thánh- [5a] hiền đời trước đều không cho vào tai. Đó đúng là cái bịnh của học-giả bây giờ”

    Tất cả mấy lời ấy hẳn là để chỉ bảo phép đọc sách cho học-giả, xin tiện chép ra đây.

    Nhan-Chi-Thôi (3) nói : “Từ xưa văn-nhân phần nhiều

    -------------------------
    (1) Văn-Tử, học-trò của Lão-Tử, đồng thời với Khổng-Tử. Sách Văn-Tử có hai quyển.

    (2) Dị-đồng, chỗ khác nhau và chỗ giống nhau.

    (3) Nhan-Chi-Thôi, người ở đất Lâm-nghi thời Nam-Bắc triều, tự là Giới, lúc đầu làm quan cho nhà Lương làm đến chức Tán-thị-lang, sau chạy sang Tề làm chức Trung-thư xá-nhân, Hoàng-môn thị-lang, Bình-nguyên Thái-thú, giữ Hà-tân. Nước Tề mất, vào nhà Chu là Ngự-sử thượng-sĩ. Ông là người đọc nhiều sách và làm nhiều sách. Sách Nhan-thị gia-huấn là do Ông soạn ra.
    -------------------------

    mắc bịnh khinh bạc, nguyên là thể-chất súc-tích văn-chương nêu cao hứng-thú, phát dẫn linh-tính khiến người ta kiêu-căng, cho nên quen giữ-gìn tiết-tháo, quá mạnh về tiến-thủ. Tôi cho đó là vì ít học-vấn, thiếu hàm dưỡng và bị khí làm chủ-động.

    Hứng-thú và linh-tính tự nhiên vốn bình-đạm (phẳng-lặng lạt-lẽo) một khi nêu cao lên thì càng thây thung-dung. Cho nên thánh-nhân nói : “Hưng ư Thi”. Nghĩa là : Hưng-khởi lên nhờ đọc kinh Thi.

    Thánh-nhân lại nói : “Từ đạt nhi dĩ hĩ”. Nghĩa là : Lời nói cốt được bình-dị mà thôi (1).

    Thánh-nhân lại nói : “Hành hữu dư lực tắc dĩ học văn”. Nghĩa là : Làm đã dư sức rồi mới học văn.

    Thể-chất của văn-chương vốn vươn ra từ trong học-vấn, thì há lại có cái lẽ văn-chương khiến người ta kiêu-căng được ?

    [5b] Lữ-Cư-Nhân nói : “Học-giả nên làm cho văn hữu-dụng, và không nên đem hết văn hữu-dụng thành lời nói suông mới được”.

    Về văn nghị-luận thì phải lấy sách của Đổng-Trọng-Thư (2) và Lưu-Hướng (3) làm chủ.

    -------------------
    (1) “Từ đạt nhi dĩ hĩ. Đạt giả bình dị chi vị dã”. Nghĩa là : Lời nói cốt được bình-dị mà thôi. Chữ đạt là nói bình-dị.

    (2) Đổng-Trọng-Thư, người ở đất Quảng-xuyên đời Hán, lúc trẻ chuyên đọc Xuân-thu, làm bác-sĩ trong thời vua Hán Cảnh-đế, rủ màn dạy học, các học-sĩ đều tôn Ông làm thầy, được vua Hán Vũ-đế tôn trọng cho là Giang-đô-tướng. Ông mắc tội bị phế làm Trung-đại-phu, nhân việc Ông nói điều tai dị, Ông bị hạ ngục và lên án tử hình, nhưng rồi Ông được tha.

    Cái học của Đổng-Trọng-Thư có căn-bản. Ông có viết những sách Xuân-thu phiền-lộ.

    (3) Lưu-Hướng, cháu bốn đời của Sở Nguyên-vương Giao, người đời Hán, tự Tử-chính, vốn tên là Cánh-sinh, là người thông-đạt, hay viết văn, giản-dị không có uy-nghi, ban ngày đọc kinh truyện, ban đêm xem tinh-tú, thường thức đến sáng. Ông làm Gián-đại-phu trong triều vua Tuyên-đế, thăng chức Cấp-sự-trung, mắc tội và được miễn, lại được trọng-dụng làm chức Trung-lang, đổi tên là Hướng, thăng chức Quang-lộc đại-phu, trong thời vua Nguyên-đế, là Trung-lũy hiệu-úy. Ông có soạn những sách : Hồng phạm ngũ hành truyện, Liệt nữ truyện, Liệt tiên truyện, Tân tự, Thuyết-uyển.
    ------------------

    Những loại sách Chu-lễ, Tân-tự, (1) và Thuyết-uyển (2) đều phải thông-suốt và khảo-cứu chín-chắn.

    Sách Điển-luận (3) của Tào-Phi chép : Văn tấu nghị phải nhã, văn thư luận phải hợp lý, văn minh (4) và văn lũy (5) phải thiết-thực, văn thi phú phải đẹp-đẽ. Đấy gọi là tứ khoa.

    Sách Văn tâm điêu long (6) chép : Luận-thuyết, từ, tự thì kinh Dịch làm đầu. Chiếu sách chương tấu thì kinh Thư khởi nguồn. Phú tụng ca tán thì kinh Thi dựng thể-cách. Minh, châm, lũy, chúc thì kinh Lễ mở mối. Ký truyện di hịch thi kinh Xuân-thu làm gốc.

    Tăng-Nam-Phong nói : “ Văn-chương nguồn-gốc [6a] ở Lục-kinh (7) thật đã thấy rõ điều đó ở đây.

    Tào-Phi (8) nói : “Làm văn lấy ý làm chủ, lấy khí làm phụ, lấy từ làm vệ. Những tác-phẩm của các danh-gia của ngàn xưa đều không ngoài những lời ấy”.

    Câu nầy không phải Tử-Hoàn (tức Tào-Phi) có thể nói được, chắc là được ai truyền dạy cho đấy chăng ?

    Văn-chương hay tuyệt được người ta gọi là Bát đẩu chi tài (tài được tám dấu).

    ---------------
    (1) Tân-tự, tên sách, có 10 quyển, do Lưu-Hướng đời Hán soạn ra, ghi chép những sự việc đời Xuân-thu, Chiến-quốc, Tần, Hán, đại để trích những truyện ký của Bách-gia mà xếp theo từng loại, với chủ ý chính kỷ-cương, theo đường giáo-hóa, phân-biệt tà chính, bỏ dị-đoan.

    (2) Thuyết-uyển, tên sách, có 20 quyển, do Lưu-Hướng đời Hán soạn ra, chép những chuyện lặt-vặt, trích những sách khác mà chép lại. Những sách xưa thất-lạc nhờ đấy mà được lưu-tồn.

    (3) Điển-luận, sách do Ngụy Văn-đế Tào-Phi soạn ra. Sách nầy đã thất-lạc từ lâu.

    (4) Minh, thể văn thường được khắc ở vạc, ở mâm, ở bia đá ngụ ý ca-tụng hay giới-răn.

    (5) Lũy, bài văn thuật lại đức hạnh của người chết lúc sinh thời.

    (6) Văn tâm diêu long, tên sách, có 10 quyển, do Lưu-Hiệp nhà Lương thời Nam-triều soạn ra, phiếm-luận nguyên-lý, nguyên-tắc, chuộng tự-nhiên, tình-tình, thanh-luật, luận biểu ngẫu...

    (7) Lục-kinh, sáu bộ kinh : Thi, Thư , Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân-thu.

    (8) Tào-Phi, tức Ngụy Văn-đế, con của Ngụy Vũ-đế Tào-Tháo.
    ------------------

    Lời nầy vốn là của Tạ-Linh-Vận (1). Vận thường nói : “Tài hoa trong thiên-hạ cộng chung được một thạch ( 1 thạch có 10 đấu). Tử-Kiến tức Tào-Thực riêng chiếm hết 8 đấu, tôi được 1 đấu, những người khác thì chia nhau 1 đấu.

    Sách Thuyết-uyển nói : Học giả phải lấy ba điều nhiều : 1) Đọc sách nhiều. 2) Trì-luận nhiều. 3) Trứ-thuật nhiều.

    Trong ba điều nầy [6b], trì-luận là khó.

    Vĩnh-Thúc cũng nói : “Làm văn có ba điều nhiều : 1) Xem nhiều. 2) Làm nhiều. 3) Thương-lượng nhiều, là đấy.

    Ngô-Lai (2) nói : “Lòng không có biết qua ba vạn quyển sách, mắt không có xem qua núi sông kỳ lạ của thiên hạ, thì chưa có thể viết văn được”.

    Tô Đông-pha nói : “Về văn-chương phải khiến cho khí-tượng cao vút, màu sắc rực-rỡ, càng già càng chín-chắn, mới đến chỗ bình-đạm (phẳng-lặng lạt-lẽo mà có thú-vị).

    Sách Độc thư ngẫu kiến chép : Văn-chương quý ở chỗ như gió lướt trên mặt nước, như muôn sao mắc ở vòm trời, bởi vì gió là lấy ý xuôi thuận thông suốt hồi chuyển tự nhiên gợn lên những lằn sóng đẹp-đẽ, muôn sao là lấy ý bố-trí đều-đặn chỉnh-tề tự-nhiên sinh ra ánh [7a] rạng-rỡ.

    Diệp-Thích (3) đời Tống thường nói : “Về kinh thì muốn

    --------------
    (1) Tạ-Linh-Vận, người ở đất dương-hạ nhà Tống thời Nam-triều, học rộng, viết chữ và vẽ rất khéo, tung-hoành vượt bậc về thi-văn, một mình một cõi ở Giang-tả, tính xa-xỉ hay sửa-đổi lề-lối xưa, lúc đầu làm Thái-thú Vĩnh-gia, mặc tình vui thú núi sông, không lo việc chính-trị, bị đuổi về, ở ẩn ở Đông-sơn vùng Cối-kê, làm bài Sơn cư phú, lại được làm Nội-sử ở Lâm-xuyên, cũng phóng lãng như cũ, sau cùng mưu-phản mà bị bắt chém đầu.

    (2) Ngô-Lai, người ở Phố-dương đời nhà Nguyên, tự là Lập-phu, thiên-tư hơn người, có soạn những sách Thượng-thư tiêu thuyết, Xuân-thu thế biến đồ, Xuân-thu truyện thụ phổ, Cổ chức phương lục, Mạnh-Tử đệ tử liệt truyện, Sở Hán chính thanh, Nhạc phủ loại biên, Đường luật cương yếu và những văn-tập.

    (3) Diệp-Thích, người ở đất Vĩnh-gia đời Tống, tự là Chính-tắc, trong niên-hiệu Thuần-hy đỗ tiến-sĩ, trong thời vua Ninh-tông làm quan đến chức Bảo-mô các đãi-chế, mắc tội mà mất chức, bình-sinh ý-chí khảng-khái, văn-chương đẹp-đẽ, được học-giả gọi là Thủy tâm tiên sinh, có soạn ra sách Thủy tâm tập.
    ---------------


    được tinh tường, về sử thì muốn được rộng-rãi, về văn thì muốn được phóng-tứ, về chính-trị thì muốn được thông-đạt”.

    Vương-Thu nói : “ Sách kinh thì hàm dưỡng nguồn cội của con người, sách sử thì mở-mang ý tứ của con người”

    Lý-Ngao (1) nói : “Nghĩa sâu thì ý xa, ý xa thì lý rõ, lý rõ thì khí dầy, khí dầy thì lời giàu, lời giàu thì văn hay”.

    Âu-Dương-Tu (2) cũng nói : “Muốn hay văn-chương, phải siêng đọc sách và viết văn nhiều thì tự nhiên văn hay. Ở đời hẳn là chưa có kẻ học cạn biếng viết mà nổi tiếng về văn-chương.

    Người tài-tình thông-minh sáng-suốt thì ý-khí thường cao, tầm mắt thường rộng, không phải kẻ tầm thường thấp hèn có thể sánh kịp được”.

    Xem bài luận văn của Bùi-Độ (3) đáp Lý-Tường thì thấy việc ấy.

    Ông nói : “ Văn của Tương-Như, Tử-Vân, Giả-Nghị, Mã-Thiên, Trọng-Thư, Lưu-Hướng phẩm-bình đều xác-đáng”.

    -------------
    (1) Lý-Ngao, người ở Triệu-quận đời Đường, tự là Tập-chí, theo Hàn-Dũ làm văn, đỗ tiến-sĩ, tính-tình cao-siêu, cứng-cỏi, nghị-luận bất-khuất, làm quan đến chức Sơn-nam đông-đạo tiết-độ-sứ, soạn ra sách Luận-ngữ bút giải, Ngũ mộc kinh, Lý văn công tập.

    (2) Âu-Dương-Tu, người ở Lư-lăng đời nhà Tống, tự gọi là Túy-ông (ông say), về sau tự gọi là Lục nhất cư-sĩ, thi đỗ tiến-sĩ giáp khoa, làm quan đến chức Hàn-lâm-viện thị-độc học-sĩ, Khu-mật phó sứ, Tham-tri chính-sự, về sau ra nhiệm chức ở Thanh-châu, nghịch với Vương-An-Thạch, trí-sĩ trở về.

    Ông đọc rộng các sách, thi-văn ngang hàng với Hàn-Dũ, Lý-Bạch và Đỗ-Phủ, có soạn những sách : Tân ngũ đại sử, hợp với Tống-Kỳ soạn sách Tân Đường thư. Người đời sau gom những thi-văn của Ông làm thành Văn-trung tập (Văn-trung, là tên thụy của Ông).

    (3) Bùi-Độ, người ở đất Văn-hy, đời nhà Đường, tự là Trung-lập, thần khí sáng-suốt, tiết-tháo kiên-trinh, trong niên-hiệu Trinh-nguyên đỗ Tiến-sĩ, làm quan đến chức Trung-thư Thị-lang, Đồng-binh chương-sự, dẹp yên Hoài-Thái, bắt được Ngô-Nguyên-Tề, được phong Tấn-quốc-công. Khi vua Kính-tông bị viên hoạn-quan Lưu-Khắc-Minh thí nghịch, Bùi-Độ định kế giết Lưu-Khắc-Minh, rước Văn-tông lập làm vua. Phúc-tộ nhà Đường nhờ Ông mà không đổ nát. Ông nhiều lần cầm quân-chính, uy chấn tứ di. Về sau, hoạn-quan chuyên quyền, Ông dựng biệt thự ở Đông-đô, gọi đấy là Lục-dã thảo-đường, cùng với các danh-sĩ uống rượu ngâm thơ ở đấy, không màng hỏi đến việc đời. Ông mất tên thụy là Văn Trung.
    --------------