21.11 - yelgre (type done)

14/9/15
21.11 - yelgre (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-Z0NhekhYckxhUms/view?pli=1


    Lời người đánh máy: Chữ màu đỏ là chú thích cuối trang.

    Ông lại nói: <<Không biến trả lời mà lời nói tự nhiên đẹp-đã. Không biến dị lý lẽ mà lý lẽ tự nhiên mới-mẻ. Như thế cũng là biết nói>>.

    Ông lại nói: <<Văn trong [], mô, huấn cáo, quốc-phong, nhã, tụng, văn-ngôn, hệ-từ rất là dễ-dàng, rất là thẳng-thắn, tuy lớn-lao bao-quát cả trời đất, nhỏ-nhen không có kẽ hở, mà những lời nói kỳ-quái chưa hề có bao giờ.

    Ý theo văn mà thấy rõ, việc theo ý mà thi-hành.

    Chỗ nào nên văn-hoa mới văn-hoa, chớ nào cứ văn-hoa mãi đâu>>.

    Đó là lời bình-luận rất chí-lý.

    Như ông nói với Lý-Tường rằng: <<Xem ý chỉ chế-tác của em ngày gần đây thường cho rằng văn-chương của người bây giờ có nhiều ngẫu-đối, câu đẹp, chắp gió, kết mây, buộc thanh, bó vận, đó là cái bịnh làm văn.

    Cho nên lấy lời hùng ý xa mà sửa lại tất cả. [8a] Đó là lấy văn-chương làm ý.

    Văn-chương, thánh-nhân mượn đó để đạt tới chỗ lòng mình muốn nói, đã đạt tới thì thôi, đã cùng lý thì thôi, không phải cố ý đề cao nó, hay hạ thấp nó, hay làm tỏ tường nó, hay giản-lược nó.

    Cho nên chỗ đồng nhau hay khác nhau về văn-chương là do ở khí-cách cao hay thấp, ở ý-tứ cạn hay sâu, chớ không phải ở việc cắt phân chương cú, phế bỏ thanh vận>>.

    Thì kiến thức của Ông lại cao hơn của người ta mấy bậc.

    Sự-nghiệp của Tấn-công (1) đã bình-chính, rạng-rỡ, thông-suốt và tròn-trặn.

    Khí tượng của Ông đã đầy-đủ ở đấy, cho nên nêu ra để làm khuôn phép cho đời.

    Vương-An-Quốc thường nói với Ngô-Xử-Hậu rằng: <<Cách-điệu văn-chương phải theo quan dạng (2)>>.

    (1) Tấn-công, tức Bùi-Độ. Ông được phong Tấn-quốc-công.

    (2) Quan dạng văn chương, nói công-văn thư phải có một cách-thức nhất định. Người đời sau nhân đó gọi những công-văn viết theo lệ nhất định không có thực-tế là quan dạng văn chương.

    Ngô-Xử-Hậu lại nói: <<Văn-chương tuy cũng xuất-phát từ tâm thuật nhưng phải có hai hạng:

    1) Có hạng văn-chương sơn lâm thảo dã (ở núi rừng đồng nội cỏ cây). Khí-cách của văn-chương hạng nầy thì khô héo tiều-tụy.

    2) Có hạng văn-chương triều-đình đài-các. Khí-cách của văn-chương hạng nầy thì ôn-nhuận phong-phú.

    [8b] Dương-Đại-Niên triều nhà Tống nói: <<Chiếu và chế của Tống-Lữ-Công soạn ra đều đẹp-đẽ thuần-hậu, mà con người của ông cũng giống như văn chương của Ông>>.

    Sách Đàm-lục của Vương-Thu chép: Bậc vương công dạy các con rằng: <<Hạng tráng-niên làm văn phải lấy khí phừng cháy mãnh liệt làm chủ. Những lời bi-ai tiều-tụy hãy cẩn-thận không được bắt chước theo>>.

    Điều nầy phải nên biết.

    Chu-Biện nói: <<Người thợ khéo không cho người ta xem viên ngọc chưa mài giũa, vì sợ người ta thấy biết vết đục đẽo>>.

    Hoàng-Lỗ-Trực thường được một đoạn của một chương trong Đường-sử của Tống-Kỳ, đem về xem cho chín-chắn, từ đó văn-chương ngày thêm tiến-bộ, bởi vì thấy được những câu những chữ sửa đổi cùng với ý tứ lúc mới viết ra không giống nhau mà biết được cái dụng ý là vì cớ ấy.

    Chu-Tử nói: <<Người nào muốn biết làm văn phải đọc văn của bộ Tây-Hán, văn của Âu-Dương-Tu, văn của Nam-Phong [9a] và văn của Hàn-Dũ (1).

    (1) Hàn-Dũ, người ở Nam-dương đời nhà Đường, tự là Thoái-chi, người đời gọi là Hàn Xương-Lê, lúc bé mồ-côi, học nho rất khắc-khổ, lớn lên giữ hạnh-thảo kiên-trinh, nói năng chân-chính, trong thời vua Đức-tông đỗ tiến-sĩ, làm Giám-sát ngự-sử, dân sớ can những điều tệ ở thị-tứ trong cung, bị biếm làm Dương-sơn-lịnh, trong thời vua Hiến-tông được triệu về làm Quốc-tử bác-sĩ, cải sang Sử-quán tu-soạn, chuyền qua Khảo-công lang-trung, biết về chế-cáo, được trao chức Trung-thư xá-nhân, mắc tội, cải làm Thái-tử hữu thứ-tử, can-gián việc rước cốt Phật, bị biếm làm Thứ-sử Viên-châu, đến đâu đều thi-hành chánh-trị tốt đẹp, được triệu về làm Quốc-tử Tế-tửu, thăng Lại-bộ thị-lang.

    Hàn-Dũ bác thông kinh-sử, hiểu cả bách-gia, bình-sinh bài-xích dị-đoan và đạo Phật đạo Lão.

    Về văn-chương, Ông chủ-trương lối văn giản-dị mạnh-mẽ trầm hùng để chống lại lối văn ủy-mị cầu-kỳ, biền-ngẫu, từ-chương đang thạnh-hành lúc bấy giờ.

    Bài Bút-ký của Tống-Kỳ (2) chép: <<Văn-chương có đối-ngẫu, bình trắc, người ta dùng nó để cho các công-gia tuyên độc thi-hành cho tiện lợi mau lẹ trong một lúc, nhưng không thể dùng về sử truyện.

    Tôi tu chỉnh sách Đường-thư, chưa thấy một bài chiếu, một bài lịnh nào của người nhà Đường chép ở phần truyện cả.

    Chỉ nên bỏ lối văn biền-ngẫu, dùng lối văn cận cổ mới có thể chép vào sách.

    Đại-đế, sử cần lối văn cận cổ, lấy lối văn đối-ngẫu cho vào sử sách là dùng không đúng>>.

    Lời bình-luận nầy chưa đúng.

    Sử là để chép việc. Việc nhờ văn mà hiển rõ. Nếu không ghi chép rõ-ràng thì mất cả sự thật, thì hà tất phải luận đến thể-cách văn-chương của người xưa?

    Vả lại từ thời Tam-đại đến thời Đường Tống thể-cách văn-chương không biết đã bao lần biến đổi, lại chọn lối văn cận cổ để chép vào sử thi cũng là ít có.

    [9b] Tư-Mã-Thiên và Ban-Cố chỉ căn-cứ vào sự thật mà chép, vốn không có ý làm văn-chương, cho nên văn hay.

    Đầu đời nhà Tống thì có ý lấy việc tu-chỉnh bộ sử làm văn-chương, cho nên văn không hay.

    Lưu-Nguyên-Thành có nói: <<Sách Tân Đường thư chép việc thích lời giản-lược, cho nên việc chép ra phần nhiều tối-tăm không rõ.

    Bài Tiến thư biếu có câu: <<Sự tặng ư tiền, văn tỉnh ư cựu>>. Nghĩa là: Việc chép thì tăng nhiều hơn trước, văn thì giản-lược hơn xưa.

    Văn Tân Đường-thư không bằng của Lưỡng Hán-thư là ở chỗ đó.

    Lời bàn nầy có thể làm định án được.

    (2) Tống-Kỳ, người ở đất An-lục đời nhà Tống, tự là Tử-kinh, đỗ tiến-sĩ một lượt với anh, làm quan đến chức Long-đồ các học-sĩ, Sử-quán tu-soạn, cùng với Âu-Dương-Tu tu-chỉnh sách Đường-thư, thăng chức Tả-thừa, Công-bộ Thượng-thư, Hàn-lâm học-sĩ thừa-chỉ, soạn sách Tống cảnh văn tập.

    Trương-Văn-Tiềm nói: <<Viết văn, lấy ngôn-ngữ chấm phết làm cho lạ kỳ, nhai đi nhai lại rốt cuộc cũng chẳng có gì, ấy là văn quê vụng>>.

    Lời bàn-luận nầy thật trùng với cái tệ về làm văn của đời sau.

    Đỗ Mục (1) nói: <<Sinh ra sau trăm đời chưa ắt là không may, vì sách thì đấy-đủ mà việc thì dồi-dào>>.

    Từ đời nhà Hán đến nay, việc thành bại, hưng phế, sự nghiệp, dấu vết của những bậc làm vau nhiều đền một hai ức vạn. Những màu xanh vàng đen trắng, việc hư thược [10b] đều có thể vẽ thành tranh.

    Xét lý-do của nó, liệu lường chỗ dài chỗ ngắn của nó, trong mười phần thời được bốn năm phần cũng đủ ứng-phó với mọi việc của đương thế, không như người xưa phải nghiệm tìm cùng trời, moi bới nơi xa mờ, giẫm bước vào chỗ không dấu vết, tính toán ở nơi huyền-diệu không có mảy-may nào cả, rồi sau mới có thể học được.

    Cho nên ông mới bảo rằng: <<Sinh ra sau trăm đời chưa ắt là chẳng may>>.

    Thuyết nầy rõ-ràng dễ thích.

    Nhưng người đời xưa và người sau, khí bấm không giống nhau, gốc ngọn cũng khác nhau.

    Người đời xưa học cốt vì thực-tế. Người đời sau học cốt vì danh tiếng.

    Người đời xưa học được một câu thì thực-hành một câu, được một chữ thì thực-hành một chữ. Người đời sau học mà không thể thực-hành.

    (1) Đỗ-Mục, người ở đất Vạn-niên đời nhà Đường, cháu của Đỗ-Hựu, tự là Mục-chi, hiệu là Phàn-xuyên, trong niên hiệu Thái-hòa đỗ tiến-sĩ, trong niên-hiệu Hội-xương, làm quan đến chức Trung-thư xá-nhân, là người cương-trực tiết-tháo, nổi tiếng về thi-văn ngang hàng với Lý-Thương-[], được người đời gọi là Lý-Đỗ, có soạn sách Phàn xuyên tập.

    Vả lại, như cái học của Quản-Trọng, Tuân-Huống, Thân-Bất-Hại (1), Thương-Ưởng (2) tuy phức-tạp và thiên về một mặt, nhưng phương-thuật nghị-luận của họ tự thành một phái.

    Xem danh sách của họ để lại mà xét việc làm của họ thì thấy không có một điều nào là không hợp.

    Sau nữa đến Tô-Tần (2) Trương-Nghi (4) cũng đều theo cái học thực-dụng, không phải phó-thác công việc vào lời nói suông.

    [10b] Người đời sau đàm-luận cao-siêu lục kinh (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân-thu), thuộc làu sách Luận-ngữ, sách Mạnh-Tử, thêm thông suốt những sách tử-thư (5) và sử-thư (6), đạo-lý, chính-sự thì miệng nói rất thú-vị, nhưng xét việc làm của họ thì lặng-lẽ tầm-thường không có kết-thúc.

    (1) Thân-Bất-Hại, người nước Hàn đời Chiến-quốc, làm tướng giúp Hàn Chiêu-hầu trong 15 năm, ở trong thì sửa-sang chính-giáo, ở ngoài thì ứng-phó với chư-hầu. Cái học của Ông gốc ở Hoàng-Đế và Lão-Tử. Ông có viết sách Thân-tử có 2 thiên.

    (2) Thương-Ưởng, công-tử dòng thứ của nước Vệ đời Chiến-quốc, họ Công-tôn, thích cái học về Hình-danh và Pháp-thuật, làm tướng giúp Tần Hiểu-công, đượng phong ở đất Thương, gọi là Thương-quân. Làm tướng giúp nhà Tần, trong 10 năm thì ngoài đường không ai lượm của rơi, nhưng dùng pháp-luật quá nghiêm cho nên bậc quý thích đại thần phải oán-hận. Ông chết bị cực hình xé xác.

    (3) Tô-Tần, người đất Lạc-dương thời Chiến-quốc, tự là Quý-tử, học-trò của Quỷ-Cốc-tử, đầu tiên đến du-thuyết Tần Huệ-vương mà không được dùng, bèn đi du-thuyết nước Tề, nước Sở, nước Yên, nước Triệu, nước Hàn, nước Ngụy, khiến sáu nước nầy hợp lưng chống lại Tần, làm tướng sáu nước khiến quân Tần không dám dòm ngó Hàn-cốc-quan trong 15 năm. Về sau bị quan đại-phu nước Tề sai người đâm chết.

    (4) Trương-Nghi, người nước Ngụy thời Chiến-quốc, đầu tiên cùng với Tô-Tần là học trò của Quỷ-Cốc-tử. Lúc Tô-Tần làm tướng nước Triệu, Trương-Nghi đến bái-yết rồi lại bỏ đi sang Tần, được Tần Huệ-vương cho làm tướng, đi du-thuyết sáu nước khiến họ chống Tô-Tần để liên-hoành thờ Tần, được Tần gọi là Vũ-tín-quân. Khi Tần Huệ-vương mất, Vũ-vương lên ngôi, Ông bị quần-thần gièm siễm, gặp lúc sáu nước hợp tung chống Tần, Ông bỏ Tần làm tướng cho nước Ngụy, được một năm thì chết.

    (5) Tử thư, những sách lập thuyết tự thành một phái như Nho-gia, Binh-gia, Pháp-gia, Đạo-gia, Thích-gia, và những sách về kỹ-nghệ thuật-số với tiểu-thuyết.

    (6) Sử-thư, sách của sử-quan.

    Ít người có thể suy xét đem cái học ra thực-dụng.

    Dẫu sách đủ, việc nhiều cũng nào có ích lợi gì?

    Ông Y-Xuyên (1) nói: <<Đọc sách học được một thước chẳng bàng làm được một tấc>>.

    Lữ-Hối nói: <<Đọc sách không cần nhiều. Đọc được một chữ thì thực-hành được một chữ>>.

    Cái học của các bậc hiền đời trước là như thế.

    Hoàng-Phủ-Thực (2) gởi thơ cho Lý-sinh có lời như sau:

    <<Gần đây phong-hóa giáo-dục bạc-bẽo, người ta tranh nhau hư trương thanh-thế để làm cao với nhau.

    Thơ thì họ chưa có một câu nào như của Lưu-Trường-Khanh (3) mà đã gọi Nguyễn-Tịch (4) là lão binh (tên lính già).

    Bút-luận thì học chưa có một chữ nào như của Lạc-Tân-Vương (5) mà đã mắng Tống-Ngọc là đứa tội-nhân

    (1) Y-Xuyên, tức Trình-Di, hiệu là Y-Xuyên tiên-sinh, người đất Lạc dương đời Tống, tự là Chính-thúc, với anh là Trình-Hạo cùng học với Chu-Đôn-Di. Cái học của Y-Xuyên bốn ở thành, chủ ở cùng lý, lấy thánh-nhân làm thầy. Người theo học với Ông rất đông, Ông có soạn ra những sách Dịch-truyện, Xuân-thu truyện.

    (2) Hoàng-Phủ-Thực, người ở đất Tân-an đời nhà Đường, tự là Tri-chính, trong niên-hiệu Nguyên-hòa đỗ tiến sĩ, giỏi về thi văn, nổi danh ngang hàng với Lý-Ngao, Trương-Tịch, tính người nóng- nảy, ưa uống rượu, làm quan đến chức Công-bộ lang-trung, có viết sách Hoàng-phủ Tri-chính tập.

    (3) Lưu-Trường-Khanh, người ở đất Hà-giang đời nhà Đường, tự là Văn-phóng, trong niên-hiệu Khai-nguyên đỗ tiến-sĩ, làm quan thứ-sử Tùy-châu, giỏi thơ Ngũ-ngôn.

    (4) Nguyễn-Tịch, người nước Ngụy thời Tam-quốc, tự là Tự-tông, là một trong Trúc-lâm thất-hiền (7 người hiền tài ở rừng tre), học nhiều đọc rộng, thích Lão Trang, giỏi đàn, làm mắt trắng để khinh người, làm mắt xanh để trọng người, thích uống rượu, nghe nhà bếp Bộ-binh nấu rượu rất ngon, và có chứa 300 hộc rượu, bèn xin làm Bộ-binh Hiệu-úy, thường tự ý rong xe đi, cùng đường thì khóc thảm-thiết mà trở về. Ông có viết những sách: Vịnh hoài thi hơn 80 thiên, Đạt-sinh-luận, Đại-nhân tiên-sinh truyện.

    (5) Lạc-Tân-Vương, người ở đất Nghĩa-ô đời nhà Đường, lúc bé thông-minh, giỏi văn-chương, là một trong tứ kiệt thời Sơ Đường, đầu tiên làm chức thừa ở Lâm-[], bất đắc chí bèn bỏ đi, theo Từ-Kính-Nghiệp chống Vũ-hậu. Kính-Nghiệp thua, có người bảo Ông bị giết hay chạy trốn làm nhà sư ở chùa Linh-ẩn-tự. Ông có để lại sách Lạc-thừa-tập.

    Viết chữ thì họ chưa biết thiên và bàng (1) mà đã đàm-luận cao-siêu [11a] về Ông Tắc (2) Ông Tiết (3).

    Đọc sách thì họ chưa biết chấm phết mà đã khinh-thị Ông Phục-Kiền (4) Ông Trịnh-Huyền (5).

    Đó là cái bịnh nặng của đời nầy.

    Anh có tài chớ nên giống họ>>.

    Đó là lời dạy bảo rất thiết cận và trọng-hậu đối với kẻ hậu học.

    Than ôi! Lão-Đỗ (6) có thơ rằng:

    1) Văn chương thiên cố sự.

    [] [] [] [] []

    2) Đắc thất thốn tâm tri.

    [] [] [] [] []

    3) Tác giả giai thù biệt.

    [] [] [] [] []

    4) Thanh danh khỉ lãng thùy (7).

    [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Văn-chương là sự-nghiệp của ngàn xưa truyền lại.

    2) Được hay mất (thành hay hỏng) thì chỉ tấc lòng mình biết.

    (1) Thiên bàng, trong chữ nho thuộc loại hợp-thế, phần bên tả gọi thiên, phần bên hữu gọi bàng.

    (2) Tắc, Ông Hậu-Tắc, thần Ngũ-cốc.

    (3) Tiết, vị danh-thần đời vua Thuấn.

    (4) Phục-Kiến, người ở Đông-Hán, tự là Tử-thận. Trong thời vua Linh-đế làm quan Thái-thú ở Cửu-giang. Ông giỏi viết văn, viết sách Xuân-thu Tả-thị truyện giải.

    (5) Trịnh-Huyền, người ở đất Cao-mật đời Đông-Hán, tự là Khang-thành, đọc rộng biết nhiều, đi học hơn 10, trở về cày ruộng ở Đông-lai. Ông viết rất nhiều sách. Sau khi Ông mất, học-trò chép lời vấn đáp của Ông làm thành sách Trịnh-chí. Ông có chú những sách: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nghi-lễ, Luận-ngữ, Hiếu-kinh, Thượng-thư đại truyện. Ông có viết những sách: Thiên văn thất chính biên, Lỗ lễ đề hợp nghĩa, Lục nghệ luận, Mao thi [].

    (6) Lão-Đỗ, nhà thơ gọi Đỗ-Phủ là Lão Đỗ.

    (7) Lãng-thùy cũng như lãng truyền, là lưu-truyền một cách khinh suất không cẩn-thận.

    (3) Các nhà làm thơ đều khác hẳn nhau.

    (4) Danh tiếng há được lưu-truyền một cách khinh-suất (không cẩn-thận)?

    Dịch thơ

    Ngàn xưa sự-nghiệp: văn-chương,

    Nên chăng chỉ có lòng thường biết thôi.

    Nhà thơ khác hẳn từng người,

    Tiếng-tăm khinh-suất truyền đời há đâu?

    Bọn chúng ta xem xét nội-tâm như thế nào?

    Giả-sử có ý-tứ tài-tình, văn-chương đẹp-đẽ, bước một mình một cõi trên đời, mình cũng không ra ngoài phạm-vi rào giậu của các bậc tiền-bối, lại còn kiêu-căng, lố-lăng, phóng-túng, chê bai thì chẳng là quái-gở, sai lầm hay sao?

    Văn-chương là của công trong thiên-hạ, ý-kiến mỗi người mỗi khác, phân-tích thì được, chê mắng thì không nên.

    Cuối đời Nam Tống, người học lục kinh (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân-thu) không đọc bốn văn và phần truyện (1) phần chú (2) của các nhà nho đời trước, chỉ lấy những bài văn trúng tuyển trong khoa-cử đời gần đây [11b] đọc lên bắt chước theo. Chọn lấy những câu có thể làm đề-mục trong kinh rồi đem ý nắn-nót làm càn lấy chủ-trương.

    Đó là điều mà Ông Khảo-đinh (3) phải than thở và là cái tệ hại thông-thường của hậu-lai.

    Làm sao mà có thể biến lòng người và phản đạo xưa được?

    (1) Truyện, phần giải rõ nghĩa trong kinh.

    (2) Chú, chua, chú-thích.

    (3) Khảo-đinh, tức Chu-Hy, người ở đất Vụ-nguyên đời nhà Tống, ở trọ Kiến-châu, tự là Nguyên-hối, một tự nữa là Trọng-hối, lúc về già lấy hiệu là Hối-ông, Vân-cốc lão nhân, Thương-châu độn tầu, đỗ tiến-sĩ trong niên-hiệu Thiệu-hưng, làm quan dưới bốn triều: Cao-tông, Hiến-tông, Quang-tông và Ninh-tông, đến chức Bảo-văn các đãi-chế. Cái học của Ông là cùng là [] trí tri. Chỗ giảng học của Ông gọi là Khảo-đinh, học-phái của Ông gọi là Khảo-đinh học-phái. Trong niên-hiệu Khánh-nguyên, Ông tri-sĩ về hưu, Ông mất, thọ 71 tuổi. Người đời gọi Ông là Chu-tử hay Chu-văn-công.

    Chọn lấy kẻ-sĩ lại không chuyên thực-hành, giảng học lại không chuyên kinh-thuật, thì không thể ngăn cấm việc phù-phiếm khô-khan rối-loại được.

    Đọc sách lại không xem xét đại ý, ra đề bài lại không đề cao chính-nghĩa thì không thể trách việc chia cắt rã-rời.

    Hễ là cái học để đi thi thì sao lại không xua theo thói đời ưu thích? Người trên lấy đó (việc khoa-cử) để chọn tìm, kẻ dưới cũng lấy đó (việc khoa-cử) để đáp-ứng, cho nên hẳn đã đành như thế.

    Vả lại nhà nho đời Hán lấy kinh nghĩa phân xử việc hình-án và quyết đoán bàn luận việc đại sự của triều-đình.

    Người đời sau thì chuyên lấy bụng dạ riêng mà giải-quyết mọi sự.

    Có một hai tờ tấu sớ có viện dẫn kinh truyện, lại nhiều tản mạn rời-rạc mà không thiết-thực khiến người đọc phải chán ngấy, khinh-bỉ cho là vu-khoát viễn-vông.

    [12a] Sách cổ chưa có bản khắc, người học phải sao chép bằng tay và đọc từng chữ cho thuộc lòng.

    Người đời sau chỉ căn-cứ vào bản in, xem qua sơ-lược, không nhớ được chính-văn, rốt cuộc không thể biết được ý-vị của bài văn.

    Ôi! làm sao mà nói cho xiết?

    Văn-chương được lưu-truyền hay không được lưu-truyền cũng là có định-số.

    Xem bài Tây đô phú của Ban-Cố, lời tựa nói: Đời Vũ-đế, Tuyên-đế chuộng lễ xét văn và ngôn-ngữ.

    Bề tôi theo hầu vua thì có như bọn Tương-Như (1), Thọ-Vương sớm tối suy nghĩ luận bàn, ngày tháng hiến nạp.

    (1) Tư-mã Tương-Như, người ở Thành-đô đời nhà Hán, tự là Trường-khánh, lúc bé ham viết, học đánh kiếm, thích con người như Lạn-Tương-Như, miệng cà-lăm nhưng viết văn rất giỏi, trong thời vua Cảnh-đế làm Vũ-kỵ thường thị, trong thời vua Vũ-đế làm Hiếu-văn viên lịnh. Tác-phẩm của Ông có: Tử hư phú, Thượng lâm phú, Đại nhân phú.

    Bậc công-khanh đại-thần như Đổng-Trọng-Thư, Tiêu-Vọng-Chi (1) cũng thường-thường thỉnh-thoảng có làm văn.

    Đến đời Hiếu-Thành, thì chỉ luận mà chép, bởi vì tấu sớ có hơn một ngàn thiên.

    Văn-chương đời Hán rực-rỡ cũng như của thời Tam-đại (Hạ, Thương, Chu). Thịnh như thế mà nay còn lưu-truyền trên đời [12b] chỉ có mấy thiên thấy chép trong văn-tuyền, còn số dư ra thì chẳng có gì cả (2).

    Xem khắp thư-mục Đường-thư và Tống-thư đều không có một chỗ nào nói về thể phú đời nhà Hán. Chỉ có Văn tuyển chú còn dẫn dụng một hai câu đối, nhưng tìm cả toàn thiên thì không thể có.

    Há rằng có hơn ngàn thiên mà đều không đáng truyền lại hay sao?

    Thế mới biết văn-học của người xưa đã rạng-rỡ hàng ngàn năm mà không tiêu mất cũng là có cái may phước của trời vậy.

    Người xưa đọc sách không cẩu-thả, như việc Ông Hạ-Tri-Chương (3).

    Đường Huyền-tông (713-755) triệu Ông hỏi về bài U-cư phú của Tào-Thực, vì sao lại lấy những cảnh-vật ở xa, ý chỉ ở đâu?

    (1) Tiều-Vọng-Chi, người ở đất Lan-lăng đời nhà Hán, dời về ở Đỗ-lăng, tự là Trường-Thiến, ham học nghe nhiều, trong thời vua Tuyên-đế làm đến chức Thái-tử Thái-phó, khi vua bịnh nặng, nhận di-chiếu phò ấu-chúa (tức Nguyên-đế), về sau bị Thạch-Hiến hãm hại, phải uống thuốc độc tự-sát.

    (2) Tử-Hư Ô-Hữu, Tư-Mã Tương-Như đời nhà hán có làm bài Tử-Hư phủ, bịa đặt ra Tử-Hư công-tử (là nói người nầy không có), Ô-Hữu tiên-sinh (là không có ông nầy) và Vô-Thị-Công (là người nầy không có).

    Người đời sau nhân đó gọi việc không có là Tử-Hư Ô-Hữu.

    (3) Hạ-Tri-Chương, người ở đất Sơn-âm đời nhà Đường, tự là Quý-Chân, giỏi về văn-từ, tinh về loại chữ thảo chữ lệ, đàm thuyết rất giỏi, trong niên-hiệu Chứng-thánh đời Vũ-hậu thi đỗi tiến-sĩ, trong thời vua Huyền-tông làm chức Lễ-bộ thị-lang đổi làm Thái-tử tân-khách, [] chức Bí-thư giám, tự gọi là Bí-thư ngoại-giám, người đời gọi là Hạ-giám, về già phóng-tứ hiệu là Tứ-minh cuồng khách, trong đầu niên-hiệu Thiên-bảo xin làm đạo-sĩ trở về quên. Ông thọ được 86 tuổi.
  • Đang tải...