21.13 - inconchaylonton (type done)

15/8/15
21.13 - inconchaylonton (type done)
  • VÂN – ĐÀI LOẠI – NGỮ

    QUYỂN VI

    [1a] VÂN – ĐÀI LOẠI – NGỮ

    QUYỂN VI

    6 – ÂM TỰ

    ---

    VĂN-TỰ (chữ) phát-sinh từ thanh-âm (tiếng nói). Thanh-âm phát –sinh từ tính-mệnh.

    Đạo trời biến hóa, vạn vật phát sinh đúng theo tính-mệnh của mình.

    Có tính-mệnh thì có hình-thể. Có hình-thể thì có thanh-âm (tiếng nói).

    Thánh-nhân chế ra văn-tự (chữ) là để viết ra tiếng nói của mình.

    Trong phép viết chữ theo lục thư (1), phép trọng-yếu thuộc về Tượng-hình (2) và Hội ý (3) mà thôi.

    ------------------------

    (1) Lục thư, sáu phép viết ra chữ Hán: 1) Tượng-hình. 2) Chỉ -sự. 3) Hội-ý. 4) Hài-thanh. 5) Chuyển-chú. 6) Giả-tá.

    (2) Tượng-hình, phép vẽ hình-tượng món vật ra để đọc thành chữ. Phép tượng-hình phân ra hai loại:

    a – Tượng-hình thuần-túy là phép vẽ hình-tượng món vật ra mà không có hợp với một bộ hay một chữ nào khác.

    Trong chữ viết theo Tượng-hình thuần-túy chúng ta không thể phân-tách ra một bộ hay một chữ nào khác. Thí dụ: [] Mục mắt. Tượng-hình con mắt có tròng trắng tròng đen.

    [] Mộc, cây. Tượng-hình cây có gốc rễ và cành lá.

    b – Tượng-hình hợp-thể là phép vẽ hình-tượng vật-thể ra và có hợp với một bộ hay một chữ khác. Thí.dụ:

    [] My, lông mày. [] tượng-hình lông mày. [] mục, mắt. Lông mày ở phía trên con mắt.

    [] Quả, trái cây. [] tượng-hình trái cây. [] mộc, cây. Trái, quả đơm trên cây.

    (Xem chú-thích 3 ở trang 124)​

    Tiếng nói thì vô cùng mà chữ thì có hạn.

    Chữ lệ (4) ở Trung-quốc chính là chính-âm từ thời Thượng-cổ đến nay.

    Ở muôn nước ngoài Trung-quốc, vì núi sông hẻo-lánh xa-xôi, khí nhẹ nặng trong đục tùy chỗ không đồng nhau, tiếng nói rất khó phân-biệt, cho nên mỗi nước tự chế ra chữ riêng.

    Sách phạm (sách nhà Phật chữ Ấn-độ), sách phiên (sách của dân-tộc ở phiên-quốc ngoài Hán-tộc), [1b] sách Hồi-hồi (sách dân-tộc theo Hồi-giáo), sách Nữ-chân (5), sách Phần (6), sách Tây-dương (các nước Âu-châu), văn và nghĩa đều khác nhau cũng viết ra tiếng nói của một nước. Há có thể giữ lấy chính-âm (chính-âm của chữ lệ ở Trung-quốc, như trên đã nói) mà suy-cầu được tiếng nói của các nước hay sao?

    Nếu không dùng phép phiên-thiết (7) thì âm để đọc của chữ không thể thông.

    --------------------------------

    (Chú-thích tiếp trang 125)

    (3) Hội ý, là phép căn cứ vào một sự vật do tượng-hình hay chỉ-sự trình-bày ra mà hiểu cái ngụ ý. Cái ngụ ý thường là cái cứu-cánh, cái kết-quả của sự-vật được suy-diễn. Thí dụ:

    [] Tây, hướng tây. Cổ văn [] tượng-hình con chim nằm trên ổ. Phải suy-diễn mà hiểu cái ngụ ý: Khi chim chóc về nằm trên ổ thì trời chiều bóng ngã về tây.

    [] Sa, cát, bãi cát, [] thủy, nước, [] Thiểu, ít, vơi cạn. Phép chỉ-sự trình-bày việc nước rút cạn vơi ít đi. Phải suy-diễn mà hiểu cái ngụ ý: Khi nước rút cạn thì cát ở bãi lộ ra.

    (4) Lệ, là một loại chữ đời Tần, tuy tương-truyền do Trịnh-Mạc bày ra, nhưng có lẽ chữ lệ đã có từ trước đời Tần và được nhà Tần thông-dụng trong các quan nha, vì lẽ loại chữ triện khó viết, người ta mới bày ra loại chữ lệ để viết được rõ-ràng mà giúp đỡ các lại-dịch trong quan nha biên chép sổ sách.

    (5) Nữ-chân, nước Mạt-hạt ở Hắc-thủy.

    (6) Phần, tây di, rợ ở phía tây Trung-quốc gọi là Phần (chú-thích của nguyên-bản).

    (7) Phiên-thiết, phương pháp hài-âm của một chữ, dùng âm của hai chữ thiết thành âm của chữ muốn đọc. Lấy thanh của chữ trước, như M (của chữ MA) ghép với vận của chữ sau, như AI (của chữ SAI) thành ra âm của chữ muốn tìm là MAI.

    MA + SAI = MAI.​


    Chữ trước dùng để định thanh trọc của chữ muốn tìm. Chữ sau dùng để định bình trắc của âm chữ muốn tìm.

    Nếu không dùng huấn cổ (1) thì ý nghĩa không thể phân-biệt.

    Có chỗ nào không phiên-thiết được thì chữ dứt mà âm không dứt.

    Có chỗ nào không huấn cổ được thì ý đúng mà nghĩa không đúng.

    Nhà nho đời trước bảo: “Tiếng của người Đông-phương là nói ở răng (xỉ ngôn).

    Tiếng của người Tây phương là nói ở môi (thần ngôn).

    Tiếng của người Nam-phương là nói ở nướu răng (ngạc ngôn) (2)

    Tiếng của người Bắc-phương là nói ở cuống họng (hầu ngôn).

    Cho nên ngôn-ngữ của người ở mọi miền không giống nhau.

    Ông Khang-Tiết (3) lấy bình, thượng, khứ, nhập (4) của chính thinh và khai, phát, thu, bế (5) của chính âm liệt kê ra mà làm [2a] bản-đồ.

    Lấy thinh phối với mặt trời, mặt trăng và tinh-tú.

    Lấy âm phối với nước, lửa, đất và đá.

    Gặp số lẻ thì thinh làm thanh (trong) âm làm tịch (mở).

    Gặp số chẵn thì thinh làm trọc (đục) âm làm hấp (thu

    ------------------------------

    (1) Huấn cổ, nói dạng mạo của sự vật cho người ta biết là huấn. Giải-thích lời nói khác nhau của xưa và nay là cổ.

    (2) Ngạc là nướu răng.

    (3) Khang-Tiết, tức Thiệu Khang-Tiết. Thiệu-Ung đời nhà Tống, tên thụy là Khang-Tiết, người ở đất Phạm-dương, tự là Nghiêu-phu, học đồ thư tiên thiên tượng số với Ông Lý-Chi-Tài ở Bắc-hải, giỏi về Dịch số. Sách của Ông viết có: Quan vật thiên, Ngư tiều vấn đáp, Y xuyên kích nhưỡng tập, Hoàng cực kinh thế.

    (4) Bình là thanh phát ra ngang bằng không cao không thấp. Thượng là thanh cao vút mãnh liệt. Khứ là thanh ngân nga đi ra xa. Nhập là thanh ngắn mà cấp bách, tiếng như nhập vào trong miệng.

    (5) Khai là mở. Phát là tiến ra. Thu là rút về. Bế là đóng.

    lại), thinh làm luật (1), âm làm lữ (2), luật làm xướng, lữ làm hòa.

    Có thinh mà không có âm thì điệu không xuất ra được, thì làm cái khoen nnhor mà đóng tròn lại.

    Có âm mà không có chữ thì phiên-thiết không được, thì làm cái khoen nhỏ mà đóng vuông lại.

    Những điều nầy thấy chép ở Kinh thế thư.

    Đến như việc lấy thinh khởi số, lấy số hợp quẻ thì Chúc-Kiềm nói rõ-ràng hơn nhưng người ta chưa được thấy.

    Tôi trộm nghĩ rằng: Tiên-sinh (Thiệu Khang-Tiết) có thể tiên-tri, cái thuật ấy ắt là ở đó. Hận rằng phép ấy không được truyền lại.

    Suy diễn cho cùng toàn số của thinh-âm thì việc lành dữ, việc thành bại, việc trị loạn, việc hưng suy, việc hoãn cấp, việc cứng mềm, việc chậm mau, việc xa gần có thể thấy rõ-ràng [2b] trước mắt.

    Đường lối của trời và đất, quy-tắc của dân và vật, sự việc của xưa và nay, tâm-tình của người Trung-hoa và người rợ đều ở cả trong ấy.

    Sách Khư nghi thuyết (3) của Trừ-Vịnh đời Tống nói: Phép xạ phú (4) rất nhiều, nhưng chỉ có một phép dùng thơ thất ngôn hai bài thì bao quát được tất cả chữ trong thiên-hạ. Tất cả chữ có âm đều bao gồm ở trong đó mà không sót.

    ---------------------

    (1) (2) Luật lữ, Hoàng-Đế sai Ông Linh-Luân cắt những ống trúc dài ngắn khác nhau để phân biệt âm của nhạc-khí trong đục cao thấp, phân ra 6 tiếng thuộc dương là luật, 6 tiếng thuộc âm là lữ. Gọi chung là thập nhị luật. Dương luật có 6 tiếng là: Hoàng-chung, Đại-thốc, Cổ-tẩy, Nhuy-tân, Di-tắc, Vô-xạ. Âm lữ có 6 tiếng là: Lâm-chung, Nam-lữ, Ứng-chung, Đại-lữ, Giáp-chung, Trung-lữ.

    (3) Khư nghi thuyết, tên sách, có 1 quyển do Trừ-Vịnh đời Tống soạn. Trừ-Vịnh bình sinh dốc chí học thuật số, theo đuổi đã lâu nên biết rõ đó là trá ngụy, mới viết sách nầy để biện-luận. (Nguyên-văn chép sai tên sách ra Khư nghi thoại).

    (4) Xạ phú, phép dùng quẻ Dịch đoán biết vật bị úp giấu. (Nguyên văn chép sai ra Phú xạ).

    Hai bài thơ ấy, mỗi bài có 49 chữ (tức là có 7 câu, mỗi câu 7 chữ: 7x7=49) tổng-quát được các vận, hợp thành phiên-thiết. Cho nên những chữ trong thiên-hạ không thể nào không biết được. Nhưng điều có thể tìm được là âm của chữ, và điều khó có thể cùng tột được là thể của chữ.

    Tất nhiên phải thông hiểu văn-lý rồi sau mới có thể cùng tột được.

    Bằng không thì luống công.

    Nhưng phép lập ra giản-lược và vi-diệu mình không thể lấy tri-thức mà suy độ được.

    Tôi xét rằng: Trừ-Vịnh nói đại-khái như thế mà không chép bài thơ ra đã khiến những kẻ thích nói thuật tiên-tri không do đâu mà trắc [3a] nghiệm được.

    Vậy cũng không ngoài con số về thinh-âm của Thiệu Khang-Tiết.

    Nhạc của thượng cổ hòa do thinh hạ, nhạc của đời sau không hòa do thinh cao.

    Thinh hạ do lòng người yên tĩnh mà không cạnh-tranh. Thinh cao do lòng người cấp bách mà háo sự.

    Việc biến của lòng người sinh ở khí, mà thành ở hóa. Việc yên trị hay rối loạn cũng theo đó.

    Âm quý trung hòa.

    Thinh đời xưa hạ vì so với của đời sau là hạ (thấp). Xem xét thinh của nhạc trải qua lục-triều (1) và ngũ-đại (2) mỗi khi thinh nhạc cao thì vận nước ngắn.

    Khoảng giữa đời Đường đời Tống cũng như thế.

    Sách Khuyết lý chí chép: Theo sách Chu-lễ, quan Thái sư coi giữ lục luật lục đồng (3), lại hợp thinh thuộc âm thuộc dương để làm nhạc.

    -------------------------------

    (1) Lục-triều, sáu triều-đại: Ngô, Đông-Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần (420-581).

    (2) Ngũ-đại, năm đời: Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu (907-959).

    (3) Lục-đồng tức lục-lữ, sáu tiếng âm do sáu ống bằng đồng quy-định.

    Quan Điển-đồng coi giữ việc giao hòa của lục luật lục đồng để phân-biệt thinh âm dương của bốn phương trong trời đất, [3b] quảng-bá vào bát-âm (1) để làm nhạc khí, cho nên đời xưa Ông Thần Cổ (Thần mù mắt rất giỏi về âm-nhạc) khảo trung âm (2) để lượng độ mà phân-biệt trường âm (âm dài), đoản âm (âm ngắn), quảng âm (âm rộng), hiệp âm (âm hẹp), đại âm (âm to), tiểu âm (âm nhỏ), khinh âm (âm nhẹ) trọng âm (âm nặng) đều có số.

    Số là dấu vết của âm dương co duỗi qua lại.

    Ba lần ba thay đổi vận chuyển. Chín lần chín cùng nhân với nhau. Vạn vật trong trời đất sinh ra bởi đó. Nguyên khí thái hòa chung đúc ở đó.

    Nhà thinh luật gọi đó là nguyên thinh. Đó là đạo trung rất hòa vậy.

    Cho nên hễ hình hòa thì khí hòa, khí hòa thì thinh hòa, thinh hòa thì việc giao hòa của trời đất ứng theo.

    Hoàng chung là sự vận chuyển âm dương của trời đất.

    Gốc của ngũ thinh (3) sinh ở dương luật Hoàng-chung (4). Số 9 số 6 tương sinh, âm dương thuận hòa ứng nhau mà sinh ra. 12 luật, sáu dương là luật, sáu âm là lữ.

    Khí của bát âm đều lấy đó làm tiêu-chuẩn, không trái nghịch mảy may nào.

    Cho nên thinh xuất ở nhạc [4a] khí.

    Nhạc khí được hay hỏng thì thinh đúng hay sai.

    Trong bát âm chỉ có âm cách (tiếng trống) và âm mộc (tiếng chúc-ngữ) là không hệ thuộc vào dương luật.

    ------------------------------

    (1) Bát-âm, tám thứ tiếng về âm-nhạc: 1) Kim (tiếng chuông). 2) Thạch (tiếng khánh). 3) Thổ (tiếng huyên). 4) Cách (tiếng trống). 5) Ty (tiếng đàn). 6) Mộc (tiếng chúc ngữ). 7 Bảo (tiếng sênh). 8. Trúc (tiếng sáo).

    (2) Trung âm, âm thứ ba trong âm-giai, đứng giữa chủ âm và thuộc âm, cho nên gọi là trung âm.

    (3) Ngũ thinh: cung, thương, giác, chủy, vũ.

    (4) Hoàng-chung, âm đầu tiên của 6 dương-luật: Hoàng-chung, Đại-thốc, Cổ-tẩy, Nhuy-tân, Di-tắc, Vô-xạ.

    Còn sáu âm khác (kim, tiếng chuông, thạch, tiếng khánh, thổ, tiếng huyên, ty, tiếng tơ đàn, bào, tiếng sênh, trúc, tiếng sáo) thì trong đục cao thấp tất phải tùy theo nhạc-khí mà xem xét cho đồng nhau thì nhạc mới hòa.

    Tổng-hợp các âm mà nói, thì âm kim (tiếng chuông) muốn ứng với âm thạch (tiếng khánh), âm thạch (tiếng khánh) muốn ứng với âm ty (tiếng tơ đàn), âm ty (tiếng tơ đàn) muốn ứng với âm trúc (tiếng sáo), âm trúc (tiếng sáo) muốn ứng với âm bào (tiếng sênh), âm bào (tiếng sênh) muốn ứng với âm thổ (tiếng huyên), mà âm của tám thứ nhạc-khí (chuông, khánh, huyên, trống, tơ đàn, chúc-ngữ, sênh, sáo) tất phải nguồn cội ở Hoàng-chung.

    Tuy nhạc-khí có hàng vạn thứ không đồng nhau mà đều hòa hài với nhau cả.

    Người đời chỉ biết lấy 7 luật làm 1 điệu mà chưa biết ý nghĩa về độ khúc (1), biết lấy một luật phối vào một chữ mà chưa biết ý-chỉ của vĩnh-ngôn.

    Thất luật (bảy luật) là như lấy Hoàng-chung làm cung, thì lấy Lâm-chung làm chủy, lấy Thái-thốc làm thương, lấy Nam-lữ làm vũ, lấy Cô-tẩy làm giác, lấy Ứng-chung làm biến cung, lấy Nhuy-tân làm biến chủy.

    Bảy luật ấy tự làm một [4b] quân (2) mà thinh của nó tự nhiên hòa hài.

    Thất âm (3) hiệp với tứ thinh (4) đều có điều-lý.

    Chớ lấy thinh bình thinh nhập phối với thinh nặng đục, chớ lấy thinh khứ thinh thượng phối với thinh nhẹ trong, thì đều không hòa hợp.

    Về việc phân định của lục khí (5) thì đàn cầm đàn sắt là khó nhất

    ---------------------

    (1) Độ-khúc, ẩn độ làm thành khúc ca nhạc.

    (2) Quân, nhạc khí, dài 7 thước có dây tơ dùng để tiết-chế âm-nhạc.

    (3) Thất âm: Cung, thương, giác, chủy, vũ, biến cung, biến chủy.

    (4) Tứ thinh: Bình, thượng, khứ, nhập.

    (5) Lục khí, sáu nhạc-khí, tức bát âm, trừ cách âm mộc âm, còn lại lục âm của lục khí là: Chuông, huyên, đàn, sênh, sáo.

    Đàn cầm thì mỗi điệu phải sửa dây.

    Đàn sắt thì mỗi điệu phải dời cây trụ

    Cao thấp cùng sinh ra, lý rất huyền-diệu.

    Cung là vua, là cha.

    Thương là tôi, là con.

    Cung thương hòa nhau thì vua tôi, cha con hòa nhau.

    Chủy là lửa.

    là nước.

    Phương nam là vị của lửa.

    Phương bắc là chỗ của nước.

    Thường khiến thinh thủy suy, thinh hỏa thịnh thì có thể giúp Nam mà nén Bắc.

    Cung là chồng.

    Chủy là vợ.

    Thương là cha.

    Cung thực là con của chủy, thường muốn dùng con giúp mẹ, dùng vợ giúp chồng, rồi sau thinh thành văn.

    Chủy thịnh thì cung xướng lên mà có giao hòa.

    Thương thịnh thì chủy có con, mà sinh sinh hóa hóa không [5a] cùng.

    Người khéo đạt âm luật phải cứ đó mà xoay sở.

    Liệu độ luật quân bình chung thì lấy tai so thinh, lấy thinh định luật mà chính đính cung của Hoàng-chung.

    Chuẩn định trung-thinh ấy, quân-bình thứ-tự 16 thinh của đàn sắt, lại lấy 16 thinh mà so vào sáu nhạc-khí.

    Thinh cao thì nén cho thấp xuống. Thinh thấp thì kéo cho cao lên. Thái quá và bất cập thì giảm tăng mà liệu lường cho vừa phải. Từng mỗi nhạc-khí một mà điều-hợp khiến cho âm của các nhạc-khí hòa hợp không lấn át nhau, để khi cùng tấu lên thì như xuất-phát ở một người.

    Hợp nhau tấu ở một nhà, sẽ thấy gió 8 phương theo luật, khí không đình trệ, âm cũng không phân-tán, dương chế vật, hoàn-bị mà nhạc thành.


    https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-LWMycUNQUlUza3M/view?pli=1