21.14 - quanghop92 (type done)

12/11/15
21.14 - quanghop92 (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-c0VVbk5yYVNlMzQ/view?pli=1

    QUYỂN VI

    Mười hai luật lữ (6 dương-luật và sáu âm-lữ) gồm thêm bốn thỉnh trong (tất cả là 16) , âm-nhạc-gia tương truyền rằng có 16 tự-mẫu (chữ cái) để [5b] phổ vào . Đó không những là phần chính yếu của cor-nhạc mà đều là những phần đang dùng hiện nay .

    Nay nhạc thái thường cũng vẫn là 16 thinh cũ, mà thông-dụng chỉ có thinh hợp của Hoàng-chung, thinh tứ của Thái-thốc, thinh nhị của có-tẩy, thinh thượng của Trung-lữ, thinh câu của Nguy-tân , thinh xích của Lâm-chung, thinh công của Nam-lữ, thinh cửu của Ứng-chung, thinh lục của Thanh hoàng-chung, thinh ngũ của Thanh Thái-thốc.

    Còn những thinh khác đêù có đặt ra mà không dùng, cũng như đời Tùy gọi là á chung(chuông câm), vì lúc cúng tế ca hát tấu nhạc thật không ngoài hai quân (nhạc-khí dài 7 thước, có dây tơ dùng để tiết-chế âm-nhạc ) Hoàng-chung và Trung-lữ là đã đủ rồi.

    Nhưng thinh câu của Nhụy-tân là thinh biến-chủy, cung điệu phần nhiều không dùng đến mà chỉ dùng thinh cửu (của Ứng-chung) mà thôi.

    Thinh cửu (của Ứng-chung) phối-hợp với ngũ âm (1) xuất-phát từ cuống họng, lưỡi. môi và răng mà âm-nhạc-gia phàm tục lại lấy binh, thượng, khứ, nhập phân ra để phối-hợp với cung, thương, giác [6a], vũ.

    Âm chủy có thinh mà không có điệu.

    I.—Binh thinh, bảy điệu vũ :

    1) Đệ nhất vận: điệu Trung-lữ.

    2) Đệ nhị vận: điệu Chinh-bình.

    3) Đệ tam vận: điệu Cao-bình.

    4) Đệ tứ vận: điệu Tiên lữ.

    5) Đệ ngũ vận: điệu Hoàng-cung.

    6) Đệ lục vận: điệu Ban-thiệp.

    7) Điệu thất vận: điệu Cao-ban thiệp.

    (1) Ngũ âm : Cung, thương, giác, chủy, vũ.

    II.—Thượng thinh, bảy điệu giác:

    1) Đệ nhất vận : điệu Việt

    2) Đệ nhị vận : điệu Đại lữ.

    3) Đệ tam vận: điệu Cao-đại-thạch.

    4) Đệ tứ vận: điệu Song (đôi).

    5) Đệ ngũ vận: điệu Tiểu-thạch, cũng gọi là điệu Chính.

    6) Đệ lục vận : điệu Át chỉ.

    7) Đệ thất vận: điệu Lâm-chung.

    III, -Khứ thinh, bảy điệu cung:

    1) Đệ nhất vận: điệu Chính-cung.

    2) Đệ nhị vận: điệu Cao-cung.

    3) Đệ tam vận: điệu Trung-cung.

    4) Đệ tứ vận: điệu Đạo.

    5) Đệ ngũ vận: điệu Nam-cung.

    6) Đệ lục vận: điệu Tiên-lữ.

    7) Đệ thất vận: [6b] điệu Hoàng-chung.

    IV)- Nhập thinh, bảy điệu thương:

    1) Đệ nhât vận: điệu Việt.

    2) Đệ nhị vân: điệu Đại-thạch.

    3) Đệ tam vận: điệu Cao-đại-thạch.

    4) Đệ tứ vận: điệu Song(đôi).

    5) Đệ ngũ vận: điệu Tiểu-thạch.

    6) Đệ lục vận: điệu Át-chỉ.

    7) Điệu thất vận: điệu Lâm-chung.

    V) Thượng binh thinh, điệu là thinh chủy,thinh thương thinh giác cùng dùng thinh cung đuổi theo âm vũ.

    Đó là danh-xưng của âm-nhạc gia phàm tục dùng ở giáo-phường, nhưng đó tức là ý xoay tướng (1) làm cung của cổ nhạc.

    (1) Tướng một loại nhạc-khí làm bằng da như cái trống dùng để tiết-chế âm-nhạc.

    Nhưng lấy bình thượng khứ nhập phân-phối vào ngũ âm thường thường không phù-hợp nhau, chẳng bằng phân-biệt thinh trong đục cao thấp của chữ, thẩm xét với họng, lưới, môi, răng mà quy về ngũ âm và lục luật, gộp chung với chín chữ hợp , tứ, công, thượng, xích, nhị, cửu, ngũ, lục (1), phổ vào mỗi cung đều có bảy điệu mà nguyên thinh đại nhã có thể suy tưởng có thể bảo rằng kim nhạc cũng như cổ nhạc vậy.

    [7a] Hát do nhạc sinh ra. Tất cả bát âm ( tiếng chuông, tiếng khánh, tiếng huyên, tiếng trống, tiếng lơ, tiếng chúc-ngữ, tiếng sênh, tiếng sáo) đều dùng để hòa với hát.

    Về những bài ca (2) bài nhã (3) bài tụng (4) ngày xưa, cách hát không được lưu-truyền .

    Nay chỉ lấy một chữ một vần thẩm xét chỗ phát âm ở họng hay ở lưỡi hay ở môi hay răng để định âm luật của nó

    Tất cả những chữ đều có thinh và âm.

    Thinh tức là chữ . Âm tức là lục vận.

    Chữ có khi không hợp với âm luật , thì lấy lạc vận hợp với âm luật. Như khúc đại-thành (5) đã dùng những chữ hợp, tứ, thượng, xích, công, lục.

    -Chữ hợp thuộc cung, phát âm ở trong họng.

    - Chữ tứ thuộc thương, phát âm ở răng rồi sa vào ở trên cuống lưỡi.

    -Chữ thượng thuộc giác, phát âm ở trên lưỡi mà sa ở chỗ gần trong trên nướu răng.

    - Chữ xích thuộc chủy, phát âm ở đầu lưỡi rồi sa ở chỗ gần trong trên nưới răng(6).

    (1) Tức 9 chữ nhạc của ta: Hồ, xứ,cống, xang, xề, nhi cẩu, liu,ú.

    (2) Ca, thi văn có thể hát được gọi là thi ca.

    (3) Nhã , có nghĩa là chính-đính, những bài hát ở chốn triều-đình.

    (4) Tụng có nghĩa là ngợi khen, những bài hát ca tụng công đức của các vua đời trước hát ở nơi tông-miếu.

    (5) Đại-thành, khúc nhạc to. Tập hợp cả những khúc nhạc nhỏ làm thành một khúc nhạc to.

    (6) Ngạc, thịt ở chân răng, tức nướu răng.

    - Chữ công thuộc vũ, phát âm ở môi rồi sa ở chỗ lỗ mũi ở nướu răng trên.

    - Chữ lục thuộc thiếu cung, phát âm ở họng mà sa ở phía [7b] ngoài họng.

    Tổng kết lại , hát ở trong miệng, lấy 9 cung luật lữ cho qua lại luân chuyển như dây đàn cầm đàn sắt, như lỗ ống tiêu, như chuông khánh đang treo lên.

    Từ chữ hợp đến chữ lục, thinh lần lần cao mà trong.

    Từ chữ lục tới chữ hợp, thinh lần lần cao mà trong.

    Từ chữ lục tới chữ hợp, thinh lần lần thấp mà đục .

    Được thinh âm của chín cung ấy, hễ miệng hát thi đều hợp với luật lữ cả.

    Phần bàn luận về âm-nhạc kể trên khá rõ-ràng đầy đủ.

    Việc móc, nhận, bật dây khi đánh đàn cầm , việc vuốt nắn móc dây khi đánh đàn sắt, việc thổi ống sênh (1), ống tiêu (2), huyên (3), trì (4), song-quản (5), động-can long-địch (6) với việc đánh chúc ngữ (7), đánh chuông, đánh khánh , đánh trống đều có nhạc-phổ và phương-pháp, nay bất tất phải chép vào.

    Trình-Tử nói : “ Tất cả danh-tự (tên và chữ) của mọi vật tự nhiên có âm, nghĩa và lý thông nhau, ngoại trừ những vật khác có [8a] hình chất để chỉ vào bản chất để chỉ vào bàn luận mà được

    (1) Sênh chính âm Sanh, một loại nhạc-khí, làm bằng vỏ trái bầu,có gắn 13 ống sáo để thổi.

    (2) Tiêu, một loại nhạc-khí, thứ lớn có 23 ống sáo, thứ nhỏ có 16 ống sáo kết lại thành hàng.

    (3) Huyên một loại nhạc-khí làm bằng đất to bằng con ngỗng, trên nhọn dưới to, có 6 lỗ để thổi .

    (4) Trì , ống sáo bằng trúc, dài 1 thước 4 tấc ( thươc xưa) tròn 3 phân, có 7 lỗ đều nhau và có 1 lỗ tách lên cao, tất cả có 8 lỗ, để cầm thổi ngang( chớ không được thổi dọc).

    (5) Song-quản, nhạc-khí có tám ống sáo kết lại.

    (6) Long-dịch, ống địch có làm hình cái đầu rồng ở đầu ống.

    (7) Chúc-ngữ, một loại nhạc-khí bằng gỗ có một cái thùng vuông không có nắp, ở giữa đáy có gắn một cây trụ dùng để đánh qua đánh lại vào cái thùng vuông.-

    Tên, thì thiên (trời) sở dĩ được gọi là thiên , vì sao lại được cái tên ấy?

    -Vì rằng việc đó do ở lẽ tự nhiên.

    Thinh âm phát ở khí mới danh tự đó.

    Như người sành nghe âm thinh của người thì biết được tính tình của người. Người bói giỏi thì biết được họ tên của người. Lý cũng như thế.

    Tôi xét lời của Thiệu-Tử nói về số, lời của Trinh-Tử nói về lý , thì nên hợp hai thuyết ấy mà xem xét mới là đầy đủ.

    Thinh-âm ngôn-ngữ của thiên-hạ ở mọi chốn không giống nhau, cho đến việc viết văn làm thơ thì bình trắc thượng hạ khứ nhập không hề không giống nhau. Đó là chính âm tự nhiên.

    Xưa Khấu-công và Đinh-Tấn -công cùng ở Chinh-sự-đường (nhà Hành-chính) gặp ngày nhàn rảnh mói bàn luận đến ngôn-ngữ trong thiên-hạ nơi nào là đúng.

    Khấu-công bảo:

    -[8b] Người ở Tây-lạc được ngôn-ngữ đúng trong thiên-hạ.

    Đinh-Tấn –công nói:

    -Không phải. Bốn phương đều có ngôn-ngữ địa-phương. Chỉ có luật thư rồi sau mới đúng.

    Dương-Hùng(1) thích theo nhân-viên. Thượng-kế-lại đi khắp trong nước tìm hỏi những ngôn-ngữ địa-phương để viết sách Du-hiên ngữ(2) có thể nói là người có chí. Nhưng tác-phẩm của Ông có những cổ-văn (chữ đời xưa) và ký tự (3) thì là quá đáng.

    (1) Dương-Hùng, người ở Thành-đô đời nhà Hán, tự là Tử-văn, là người giản-dị phóng đãng, miệng cà-lăm, nhưng học rộng nghĩ sâu, lấy văn-chương nổi tiếng trên đời.

    (2) Du-hiên, loại xe nhẹ-nhàng của sứ-giả dùng đi nước ngoài.

    (3) Ký tự, một rong sáu thể chữ trong thời Vương-Mãng nhà Hán, là lối chữ cổ mà khác lạ.

    Trinh-Tử-Mạc (1) biến lối chữ triện (2) làm lối chữ lệ (3) là từ khó vào dễ, cho nên có thể dùng được.

    Còn Dương-Hùng đổi lối chữ lệ ra ký tự là từ dễ vào khó cho nên phải bỏ.

    Nước Quyên-đốc (4) đời nhà hán, về sau gọi sai ra Càn-đốc rồi Thiên-trúc, các nhà nho đời trước bảo ngôn-ngữ nước ấy không có chính âm. Người dịch chỉ lấy tiếng của nước ấy gần gần với của TRung-quốc mà dịch âm ra cho nên mỗi thời mỗi biến đổi mà khong nhất định.

    [9a] Sách nhà Phật có ba loại sách gọi là Tam tạng (5): Kinh tạng (6), Luật tạng (7) và Luận tạng (8), từ thời nhà Hán trở về sau, đời nào cũng có phiên-dịch, nhưng tưởng rằng cũng chưa được đúng vì thinh âm không thong nhau. Nhà sư Huyền-Trang (9) đời đường dịch kinh Phật.

    (1) Trinh-Tử-Mạc tức Trinh-Mạc người ở đất Hạ-đỗ đời Tần, tự là Nguyên-Sầm, đầu tiên làm huyện lại bị giam ở Vân-dương, 10 năm suy tư ở trong ngục, sáng-chế ralối chữ lệ, được tần Thủy-hoàng đem ra khỏi ngục cho làm Ngự-sử.

    (2) Triện. Chữ triện có 2 loại: Đại-triện và tiểu-triện. Đại-triện là lối chữ cổ đời nhà Chu. Tiểu-triện là lối chữ cỏ dời nhà Tần do Lý-Tư soạn ra.

    (3) Lệ, một lối chữ đời nhà Tần , tuy tương trường do Trinh-Mạc định ra, nhưng có lẽ loại chữ lệ đã có trước đời Tần và được nhà Tần thông-dụng trong các quan nha, vì lẽ loại chữ triện khó viết, người ta mới bày ra loại chữ lệ để viết được rõ-ràng.

    (4) Quyên-đốc quốc, nước Ấn-độ xưa dịch ra Quyên-đốc quốc.

    (5) Tạng, kinh sách của nhà Phật gọi à tạng vì bao hàm uẩn tích văn nghĩa (tạng là súc tích chất chứa).

    (6) Kinh tạng, loại sách của nhà Phật kết tập những lời của Phật nói.

    (7) Luật tạng, loại sách về luật cấm của nhà Phật để các sư sãi phải noi theo.

    (8) Luận tạng, loại sách của các vị Bồ-tát làm để giảng nghĩa thảo-luận rộng them những lời giảng của Phật.

    (9) Huyền-Trang (595-664), một nhà sư người Trung-hoa đời Đường thái-tông , một mình đi qua Ấn-độ học tiếng Ấn-độ và chưa Phạm rồi dịch kinh Tam tạng, trải tất cả 17 năm (2 năm đi và về 13 năm lưu-trú) đem về Trung-quốc 657 bộ kinh Phật, 6 tượng Phật và 150 xá lợi (tinh cốt của Phật), mất ngày mùng 5 tháng 2 năm Giáp-tý 644) tại chùa Ngọc-hoa ở Trường-an và an-táng ở Bạch-lộc nguyên.

    Vua Đường Cao-tông xuống chiếu dạy các quan đại-thần duyệt lại những kinh đã dịch ấy, nếu có chỗ nào chưa ổn-đáng thì được tùy ý nhuận-sắc (1).

    Nếu như thế thì những bài ca vịnh tiếng Phạm há ắt đều là lời của Đại-hùng thị (2) hay sao?

    Văn đời nhà Đường có nhiều loại văn tập-thể.

    Kinh Tứ thập nhị chương (3) được dịch vào đời nhà Hán, lời văn thư thả hòa hoãn đứng-đắn giống như thể văn chư-tử.

    Kinh Lăng-nghiêm (4) được dịch vào đời nhà Đường với lời lẽ sắc bén đẹp-đẽ dồi-dào giống như văn tập-thể.

    Thử ngẫm nghiệm tinh tế thì tự-nhiên thấy ý nghĩa ngôn ngữ không giống nhau, khonng phải vì Nội-diển (5) có điều khác nhau, mà vì người diễn-dịch nhuận-sắc khác nhau.

    Nhà Nho dời trước nói:” Thế chữ lệ bắt đều từ Trinh-Mạc”(6).

    Nhưng sách Tả truyện có câu chỉ qua vi vũ (chữ chỉ # ghép với chữ qua @ thành chưa vũ *) và chữ hợi $ có [9b] hai đầu sáu thân. Thế thì đời Xuân-thu đã có thế chữ lệ rồi.

    Người Trung-hoa viết chữ, nghĩa lý ghi ở mặt chữ chớ không ở âm thinh.

    (1) Nhuận-sắc, them văn-chương vào cho đẹp đẽ.

    (2) Đại-hùng thị, một danh-hiệu của Phật Thích-ca-mâu-ni.

    (3) Tứ thập nhị chương kinh, tên bộ kinh Phật đời Đông-Hán do Ca-diếp Ma đằng và Trúc-pháp-lan cùng dịch có tất cả 42 chương, cho nên gọi là kinh Tứ thập nhị chương.

    (4) Kinh Lăng-nghiêm, Kinh Đại Phật Đinh Như-Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ-tát tạng Vạn-hạnh thủ Lăng-nghiêm gọi tắt là kinh Lăng-nghiêm do Sa-môn Bát-lạt mật đế đời Đường dịch có 10 quyển, giẳng rõ bản-thể của tâm tính, là tinh-túy của phấp môn trong một đời.

    (5) Nội điền, sách giảng dạy của nhà Phật.

    (6) Trình-Mạc (đã chú ở trước rồi).

    Người ngoại –quốc ghiaam, nghĩa lý ghi ở âm thinh chứ khong ở mặt chữ.

    Chữ của người Trung-quốc thì từ chỗ thấy được ở mặt chữ mà sinh ra ý tưởng hiểu biết. Nếu lấy âm-thinh mà tìm hiểu thì sai.

    Học thinh-âm tiếng ngoại-quốc thì từ chỗ nghe được mà sinh ra hiểu biết. Nếu lấy chữ mà tiềm hiểu thì kẹt.

    Chu Khảo-đinh (Chu-Hy) đáp bức thư của Dương-Nguyên-Phạm có viết:” Chữ viết và âm-vận là một việc hệ-trọng trong kinh sử mà các chế nho phần nhiều không lưu ý đến. Nhưng họ không biết rằng những điều ấy mà không suy nghĩ dến thì uổng phí biết bao nhiêu công-phu nói nhảm viện dẫn bổ-túc mà rốt cuộc không tìm được bổn ý của nó. Thật là một việc rất tai hại”.

    Tập Thi-thoại của Thái-Khoan-Phu có viết: Âm-thinh trong ngũ phương (bốn phương và trung-ương) đều không giống nhau. Từ xưa văn-tự sao lại không tùy chốn [10a] mà dùng. Phát-ngữ-từ (tiếng đầu lời nói) của người nước Sở là khương là kiền, còn tốt-ngữ-từ (tiếng cuối của lời nói) lF ta, một khi được Khuất-Nguyên và Tống-Ngọc chọn lấy mà dùng thì đời sau cho là câu hay (giai cú).

    Nay tốt-ngữ-từ của người Bì-lăng (1) đều là chung , của người ở Kinh-khẩu(2) là đâu, của người ở Hoài-nam(3) là ổ, cũng như của người nươc Sở là ta.

    Xét những tục-ngữ của bổn quốc ( nước Việt-nam) cũng thường nói ổ, lại nói xá.

    Tôi trọm nghĩ chữ đó trong Thượng-thư (kinh Thư) cũng là phát-ngữ-từ của người xưa.

    Các nhà nho đời trước bảo đô là chỗ người quân-tử

    (1) Bì-lăng, tên quận, trị sở nay ở phía đông-nam huyện Trấn-giang, tỉnh Giang-tô.

    (2) Kinh-khẩu, tên đất, trị-sở ở Trấn-giang huyện, tỉnh Giang-tô.

    (3) Hoài-nam, vùng phía nam sông Hoài.


    ở, than mà tỏ ý khen ngợi thì nói đó tựa hồ như là phụ hội vậy.

    sách Quế hải ngu hành chí chép: Theo phong-tục bỉ-lậu nơi biên-giới xa-xôi, những tờ điệp, tố, khoán, ước đều viết bằng chữ ở bản-thổ, chữ tuy quê lậu mà phần ghép ở bên tả (gọi thiên) phần ghép bên hữu (gọi bàng) cũng có ý nương-tựa nhau như chữ:

    @ Ải( ải+ giải thiết= ải) (1) là không dài, có chữ # bất (là không) hợp với chữ $ trường (là dài) chủ sự: không dài.

    # Ổn (2) là ngồi yên-ổn, có chữ # đại (là hình người ta) hợp với chữ @ tọa (là ngồi), chỉ sự: người ngồi yên ổn.

    $ Niều (3) là con trẻ nhỏ, có chữ @ nhân (là người) hợp với chữ # (là nhỏ bé), chỉ sự : người còn bé nhỏ.

    # Khám (4) là núi đá hiểm-trở , có chữ # thạch (là đá) hợp với chữ % sơn (là núi) , chỉ sự: núi đá hiểm trở.

    # Ổn (5) là ngồi yên-ổn ở trong cửa, có chữ # tọa (là ngồi) hợp với chữ $ môn (là cửa)

    , chỉ sự ngồi yên-ổn ở trong cửa.

    ^ Động [10b] (6) là người gầy ốm, có chữ ^ bất (là không) hợp với chữ # (là to), chỉ sự: người gầy ốm thì không to béo.

    # Chung (7) là người chết, có chữ # bất (là không) hợp với chữ # sinh (là sống), chỉ sự: không còn sống là chết.

    # Lạp (8) là không cất chân bước đi được, có

    (1) Chú của nguyên-tác theo phiên-thiết.

    (2) Chú của nguyên-tác, âm ổn.

    (3) Chú của nguyên-tác, âm niều.

    (4) Chú của nguyên-tác, âm khám.

    (5) Chú của nguyên-tác, âm ổn.

    (6) Chú của nguyên-tác, âm động.

    (7) Chú của nguyên-tác, âm chung.

    (8) Chú của nguyên-tác, âm lạp.

    Chữ # bất (là không) hợp với chữ # hành (là đi), chỉ sự: không cất chân bước đi được.

    # Đại (1) là con gái lớn bằng chị, có chữ # nữ (là con gái ) hợp với chữ $ đại (là lớn), chỉ sự. con gái lớn (bằng chị).

    @ Soan (2) là cây ngang để gài cửa, có phần $ ( là hình cây ngang) hợp với chữ # môn (là cửa) tượng hình cây ngang gài cửa.

    Số chữ loại này rất nhiều.

    Sách Thuyết linh có thặng có chép: Tiếng trong đất Việt(3) ít chính âm, viết nhiều tục-tự (chữ viết theo tục ở bổn thổ). Những chữ ấy theo tục viết ra, như những chữ:

    # Ổn

    # Ải

    # Mang

    # Khám núi đá

    # Lưu, SInh là đá ngầm ở dưới nước, có chữ # thạch (là đá) hợp với chữ # thủy (là nước), chỉ sự: là dá ngầm ở dưới nước.

    $ Nhỉ là đất tích nước, có chữ # thủy (là nước) hợp với chữ # ất (là cây cỏ mọc lên), chỉ sự: chỗ đất tích nước thì cỏ mọc um-tùm.

    # Tẩm là đường nước lưu-thông, có chữ # thổ (là đất) hợp với chữ# xuyên ( là sông) , chỉ sự: sông ngòi dẫn thủy lưu-thông trong một vùng đất.

    # Tạp là đường hẹp nguy-hiểm, có chữ # thượng (là ở trên) hợp với chữ # hạ ( là ở dưới), hội-ý: đường ở triền núi rất hẹp, bờ ở trên cũng như liền với bờ ở dưới.

    (1) Chú của nguyên-tác, âm đại.

    (2) Chú của nguyên-tác, âm soan. Chữ này với ân-soan là chữ nho, chớ không phải chữ bản thổ, các sách Khang-hy tự-điển, Từ-hải và Từ-nguyên đều có ghi chữ soan này ở bộ # môn.

    (3) Nguyên văn: Việt trung ngữ là tiếng trong đất Việt, vì không có địa-danh Việt-trung.

    Nghi Sơn-Tĩnh Gia-Thanh Hóa-26/10/2015