21.15 - cakeo (type done)

17/11/15
21.15 - cakeo (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-cmo4dUxTR0h5cVk/view?pli=1

    Nay ở Lưỡng Quảng (Quảng-đông và Quảng-tây) việc chuyển đệ công-văn có dùng chữ []tạp, tức là theo tục ở bổn thổ mà viết ra chữ.

    Sách Quảng-đông tân ngử (1) chép:

    Người Quảng đông.

    - Gọi những vật nhỏ là []tử (đọc theo giọng Quảng-đông là chẩy).

    - Gọi tính cứng-cỏi không chịu lòn cúi là []cảnh (có nghĩa là cái cổ, ý nói cứng cổ).

    [11a] Người Hoá-châu dựng cái nhà tranh ở đồng nội để ở gọi là []lều (1).

    Ở Lôi-châu có Lều thôn.Ở Ngô-châu có Chỉ lều trấn.

    Người ở núi

    - Gọi anh là mạo.

    - Gọi mình là ngại.

    - Gọi vật không có đuôi là quật.

    - Gọi người không tình nghĩa cũng là quật.

    - Gọi lấy tay che đậy vật là ảm (am thượng thanh).

    Sách Minh đạo tạp chí nói: Vương-Thánh-Mỹ bảo trong kinh truyện không có chữ []thẩm (là thím) chữ []cậm (là mợ).

    Nhưng khảo-cứ thấy rằng:

    - Thẩm (thím) là do hai tiếng thúc mẫu (vợ của chú) nói ríu lại.

    - Cậm (mợ) là do hai tiếng cửu mẫu (vợ của cậu) nói ríu lại.

    _____________


    (1) Quảng-đông tân ngữ, tên sách, có 28 quyển do Khuất-Đại-Quân đời nhà Thanh soạn ra.

    (2) Nguyên tác không ghi âm, có lẽ nên đọc giống chữ lều tranh của ta.


    Sách tạp-chí có chép: Tục ở Hoàng-châu nói

    - Tuý (say) là trực.

    - Ngâm (ngâm vịnh) là ngân.

    Nay tục nước ta nói

    - Ngâm (ngâm vịnh) là ngân cũng giống như thế.

    Sách tiềm xác thư chép tục nước Nam

    - Gọi thiêntrời (1).

    - Gọi địa đất (2).

    - Gọi nhật ngày (3).

    - Gọi nguyệttháng (4)

    Có việc sai biệt khác nhau như thế bởi vì tiếng quốc-âm (nước ta) vốn không có chính-tự, chỉ mượn chữ Tàu [11b] rồi thêm phần bên tả bên hữu để thuận miệng mà đọc không nhập vào bốn vận bình, thượng, khứ, nhập, cho nên người Tàu cũng không thể đọc được và ghi chép dễ sai.

    Vua Mông-Tốn nước Lương mắng kẻ bề tôi rằng: “Cảm nghiên nghiên nhiên?” nghĩa là: “Sao dám nghiên nghiên như thế”.

    Chữ nghiên nghiên giống như là tiếng thổ âm.

    Sách Sử-ký chép: có âm để đọc mà không có nghĩa để hiểu. – Như thế thật đúng.

    Về sau chú: Nghĩa chữ nghiên đồng với nghĩa chữ hoa sức (là trang-sức cho đẹp). – Như thế là sai.

    Tục nước ta nói:

    - Hinh hinh là ý may-mắn.

    - Trân trân là ý mặt chay mày đá không biết hổ thẹn.

    - Thán thán là ý yên-ổn thư-thái.

    ______


    (1) Người Tàu âm tiếng Việt trời ra lôi.

    (2) Người Tàu âm tiếng Việt đất ra đắc

    (3) Người Tàu âm tiếng Việt ngày ra ái.

    (4) Người Tàu âm tiếng Việt tháng ra đãng.


    Những tiếng này đều là loại ấy cả.

    Sách Sơn-đường tứ khảo (1) chép: Mạ không gieo trồng mà tự mọc lên gọi là lữ (2). Hai chữ [] và [] đều là lữ, đồng nghĩa với nhau.

    Lại có thứ cỏ gọi là lữ quỳ.

    Đường-thi có câu: Môn tiền sinh lữ quỳ [] (Trước cửa mọc cỏ lữ quỳ).

    Nay giọng quốc-âm tiếng Việt gọi là hoà [] là lúa (3).Chữ [12a] tục (chữ nôm) lúa cũng viết chữ [] nầy.

    Sách Mạc-trang mạn lục chép: Thế tục dùng tiếng a a tắc tắc làm tiếng than thở.

    Sách Thông-giám chép: Nhà Lương đời Ngũ-đại có Lê-Trĩ làm tù-trưởng Man hiệu là Điêu-kim bảo (5) Tam-vương (tên là Tam-vương ở luỹ Điêu-kim).

    Chú: Chữ [] điêu (phiên-thiết: điêu + yêu = điêu) theo tiếng man có nghĩa là nhiều là lớn. (Điêu-kim bảo nghĩa là luỹ nhiều vàng).

    Sách Tuỳ Đường gia thoại lục chép: Thôi-Thực thường khinh Trương-Gia-Trinh, gọi ông nầy là Trương-Để. Về sau cùng hội họp thương-lượng mấy việc, Thôi-Thực kinh ngạc tiễn mộ Trương-Gia-Trinh rất lâu, nói với quan đồng liêu rằng: “Tri vô! Trương-Để nãi ngã bối nhất ban nhân” nghĩa là: Biết không! Trương-Để lại là một bọn người chúng ta.

    Hai chữ tri vô rõ-ràng là tiếng đầu lời nói (khẩu đầu thoại) của người bây giờ.

    Lại tiểu-thuyết bảo: Người ta có ước hẹn gì với nhau thì vỗ tay làm quyết-định, và những việc như mặc áo đội

    ________


    (1) Sơn-đường tứ khảo, tên sách có 228 quyển, phần bổ-di có 12 quyển, do Bành-Đại-Đực đời nhà Minh soạn ra. Nội-dung chia 45 môn rất có điều lý.

    (2) Lữ, lúa tự nhiên mọc lên, không do người nào gieo trồng.

    (3) Chữ []lữ đọc theo chứ nôm là lúa.

    (4) Bảo, cái thành nhỏ đắp bằng đất, tức cái luỹ.


    mão để xung hỉ (1), uống rượu ăn quả để áp kinh (2) không khác gì tục ngày nay.

    Đại-khái [12b] tâm tình, lời lẽ, giọng nói của mọi người vô luận là xưa hay nay, xa hay gần đại-lược đều giống nhau.

    Thơ của Trương-Vịnh có câu:

    Giang-nam nhàn sát lão Thượng-thư.

    []

    Nghĩa là:

    Đất Giang-nam nhàn quá đối với quan Thượng-thư già.

    Chữ thượng đọc bình thinh.

    Theo sách Hành hoàng tân luận của Tống-Bình-Trọng chép: chữ thượng trong thượng-thư (chức quan Thượng-thư), thượng thực (dâng đồ ăn lên vua), thượng công-chúa (cưới công-chúa) là đồng nghĩa. Thế-tục nối nhau đọc bình thinh là lầm.

    Sách Thuyết linh ngôn chinh chép: Lão-Tử nói: “Chữ duy [] (dạ, vâng) và chữ ha [] (dạ, vâng) khác nhau là bao? Chữ duy ha đều là lời vâng dạ. Tiếng duy thì nhanh, tiếng ha thì dài.

    Nay các ty thuộc ở trước mặt quan trên đều nói ha mà không kéo dài tiếng ra.

    Theo đó mà xét, theo tục bản-quốc (nước Việt ta), lên tiếng đáp-ứng nói dạ. Có lẽ tiếng dạ do tiếng ha chuyển ra chẳng?

    Hoài-Nam-Tử nói: “Khiêng cây gỗ to, người ở trước hô “Tà hử” người ở sau cũng đáp-ứng lại. Đó là tiếng hô để gắng sức lúc khiêng nặng.

    Tục ngày nay hô “ô hà” tức là đó

    ________


    (1) Xung hỉ, cưới chạy tang, như người chồng chưa cưới đau nặng gần chết thì lo cưới người vị hôn-thê về nhà.

    (2) Áp kinh, thấy người vừa qua cơn sợ-hãi, đem rượu trà bánh trái đến yên-ủi người gọi là áp kinh.


    [13a] Sách Thuyết linh ngôn chinh chép: Người ta nói đích-đáng thì bảo là “đích một xác hai”.

    Sách Phản tao của Dương-Hùng chép: Thành tỵ tổ ư Phần dương.

    Chú: Tỵ tổ là thuỷ tổ

    Phần Huệ-đế kỷ chép: Nhĩ-tôn.

    Chú: Nhĩ-tôn tức con của Huyền-tôn.

    Bài Bút ký của Lục-Du chép: Lúc ông ở Nam-bỉ thấy người ở Tây-thuỳ tình-cờ nói chuyện với nhau gọi cha là lão-tử (1) tuy người cha này mới 17, 18 tuổi mà có con cũng được gọi là lão-tử, mới hiểu rằng người ở Tây-thuỳ gọi Đại Phạm Lão-tử là vì tên xưng người như cha.

    Người phương Bắc gọi cha đa [].

    [13b] Người nước Ngô gọi cha là xa [], tục gọi là da [].

    Thanh âm đại để giống nhau.

    Người Hồi-hột (2) gọi cha là đa cũng giống như loại nầy.

    Tiếng nước ta gọi cha cũng gần giống như thế.

    Sách Thanh sương tạp ký (3) chép: Phong-tục người ở vùng Lĩnh-nam không lấy thứ-tự mà gọi nhau, chỉ lấy tên của đứa con trai con gái mà gọi cha mẹ.

    Trong niên-hiệu Nguyên-phong (đời vua Tống Thần-tông, 1078-1085) Ngô-Xử-Hậu làm quan Đại-lý (4) xử tấu án ở Tân-châu, có người dân tên là Vi-Ngao, đứa con trai của y tên Mãn. Người ta gọi Vi-Ngao là “Cha Mãn” (tức cha thằng Mãn).

    ________


    (1) Cũng như tục nước ta gọi cha là ông già.

    (2) Hồi-hột, dòng dõi của Hung-nô.

    (3) Thanh sương tạp ký, tên sách, cả thảy 10 quyển do Ngô-Xử-Hậu đời nhà Tống soạn ra, chép những điều nghe thấy lúc bấy giờ, cũng có nhiều thi-thoại.

    (4) Đại-lý, chức quan coi về hình-pháp, tức như chức Thẩm-phán ngày nay.


    Cha tên Vi-Toàn, đứa con gái của y tên Đào-Nương. Người ta gọi Vi-Toàn là “Cha Đào” (tức cha con Đào).

    Cha tên Vi-Độ, đứa con gái của y tên Thuỵ-Nương. Người ta gọi Vi-Độ là “Cha Thuỵ” (tức cha con Thuỵ), gọi vợ của Vi-Độ là “Thím Thuỵ” (tức Thím mẹ con Thuỵ) (1).

    Xét theo đó, ấy là phong-tục thông-thường vũng Lĩnh-ngoại, đại ý đối với những người lớn tuổi người ta không gọi tên, mới lấy tên con trai con gái của họ gọi họ vậy.

    [14b] Sách Cựu Đường-thư chép: Người Thổ-phồn (2) lén đem đàn bà gả cho người môn-tử ở Duy-châu. Môn-tử là người giữ cửa thành, nay gọi chung là gia-đồng (tớ bé trong nhà).

    Sách Thông-giám chép: Điển-Vi là quan Tư-mã của Tào-Tháo nói với đẳng-nhân.

    Chú: Đẳng-nhân là lập đẳng-cấp để mộ người. Người trong đẳng-cấp gọi là đẳng nhân (3).

    Người đứng đầu trúng tuyển trong kỳ thi Hương thi Hội tục gọi là Thủ khoa cũng có căn cội.

    Sách Đường đông quan tấu ký chép: Dưới thời Đường Tuyên-tông (847-859), Trịnh-Hạo, con nhà tướng đỗ thủ-khoa tiếng tăm lừng lẫy.

    Sách Hán ngoại thích truyện chép: Tổ-sư của Định-Duy-Dị ở Định-đào là cháu huyền tôn của Định-Khoan tướng-quân.

    Người [14b] đời sau nói tổ-sư bắt đầu từ đấy.

    Vua Phù-Sai nước Ngô đóng đô ở Cô-tô, mở cửa Xà-môn (cửa rắn) để trấn-áp người nước Việt.

    Người nước Việt làm cửa Lôi-môn (cửa sấm) để trừ các hoạ ấy, đánh trống to ở dưới cửa Lôi-môn thì con rắn nghe.

    ________


    (1) Cũng như tục người miền Nam gọi: Ba thằng Hai, má con Tư.

    (2) Thổ-phồn cũng gọi là Thổ-phiền, nay là nước Tây-tạng.

    (3) Đẳng-nhân. Trung-văn đại từ điển giải-thích đẳng-nhân là người đồng bối, bạn đồng liêu.


    Phần Vương tôn truyện trong sách Hậu Hán thư có câu:

    Cảm trì bố cổ quá Lôi-môn

    []

    Nghĩa là:

    Dám đâu cầm trống vãi qua cửa sấm. Tỷ-dụ: Kẻ có văn tài nông cạn không đạt đến cửa của bậc thánh-nhân.

    Câu tục-ngữ Đánh trống qua cửa nhà sấm nguồn gốc ở đây.

    Sách Dậu dương tạp trở (1) chép: Mai-Bá-Thành giỏi đoán mộng.

    Lý-Bá-Lịnh sai em đi lấy gạo 100 hộc ở Kinh-hà, đã quá kỳ mà chưa thấy về đến.Lý-Bá-Lịnh nằm mộng thấy tẩy bạch mã (nghĩa là: Tắm con ngựa trắng), đến hỏi Lý-Bá-Thành đoán cho.

    Lý-Bá-Thành nói: “Người ta hay nói lái. Tẩy bạch mã [] nói lái ra Tả bạch mể []. Nghĩa là: Gạo trắng chảy đổ xuống. Hoặc giả có việc lo ngại về sóng gió chăng?”

    Vài ngày sau người em về đến [15a] quả nhiên nói thuyền gạo lật úp ở sông Vị.

    Lại sách Tập dị ký chép: Trương-Dật chiêm-bao thấy người ta bảo: Nhiêm-Điều bái tướng []. Nghĩa là: Ông Nhiêm-Điều được trao chức tể-tướng.

    Ông suy nghĩ bên nội bên ngoại từ xưa không có ai tên ấy cả.

    Đứa cháu của ông tên Lý-Thông giải rằng: “Nhiêm-Điều nói lái ra Nhiêu-Điềm [] nghĩa là ngọt nhiều. Ngọt nhiều thì không gì hơn cam-thảo.Cam-thảo là trân dược [] (nghĩa là thuốc quý).Trân dược nói lái ra Trương-Dật tức là tên của người cậu.

    ________


    (1) Dậu dương tạp trở, tên sách có tất cả 20 quyển, tục tập 10 quyển, do Đoàn-Thành-Thức đời Đường soạn, chép nhiều chuyện quỷ quái hoang đường, không chính đáng.


    Ông rất mừng.

    Được ít lâu người ta báo vua xuống chế phong Trương-Dật làm tể-tướng.

    Cho nên người đời Đường thích nói lái.

    Sách Tục hô tiểu lục của người nhà Minh chép:

    - Chấp tay vái chào gọi là xướng nặc (1) [].

    - Ở quận ấp đánh trống khởi đầu canh gác gọi là Tàng lôi [].

    Ở nước ta lúc triều hội đánh trống lên gọi là phát lôi [] (2) tức là đấy.

    Câu tục-ngữ: Dụng như hổi, bất dụng như thử []. Nghĩa là: Dùng thì như cọp, không dùng thì như chuột.

    Sách Hán-thư, phần Đông-Phương-Sóc nan khách có câu: Dụng chi tắc vi hổ, bất dụng tắc vi thử (Nghĩa là: Dùng nó thì nó làm cọp, không dùng nó thì nó làm chuột).

    [15b] Dương-Tử nói: Chấn phong (3) lăng vũ (4) nhi hậu tri hạ ốc chi vi bình mộng []. Nghĩa là: Gió gấp mưa rào rồi sau mới biết đến sự che chở của nhà cửa.

    Thế tục nói “ơn che chở” gốc ở đấy.

    Sách Bắc Chu thư chép: Trưởng tôn Trừng nói với vua Thái-tổ rằng: Tự đính chí túc giai thị minh công ân tạo []. Nghĩa là: Từ đầu đến chân đều là ơn của Minh-công tạo lập cho.

    Người đời sau nhân đó mới có câu: Đính chủng giai ân []. Nghĩa là: từ đầu đến chân đều là ơn huệ của người.

    ________


    (1) Xướng nặc, chắp tay vái chào

    (2) Lôi tức lôi cổ [] là một loại trống có 8 mặt đánh lên khi cúng tế trời.

    (3) Chấn phong, gió dữ gió gấp.

    (4) Lăng vũ, mưa thình-lình.


    Trong sách Văn-giám, thơ của Nguỵ-Dã có câu:

    Hữu danh nhàn (1) phú quý,

    Vô sự tiểu thần tiên.


    []

    Nghĩa là:

    Có danh tiếng là người giàu sang lớn-lao,

    Vô sự (không có việc gì làm mình phiền lòng) là bậc thần tiên nhỏ ở cõi đời.

    Thơ của Đỗ-Phủ có câu:

    Dĩ tố trưng cầu bần đáo cốt

    []

    Nghĩa là:

    Đã kêu cầu việc nghèo thấu xương.

    Thế tục thường đọc câu thơ nầy.

    Sách Nhan thị gia huấn ở Bắc-Tề chép: Ngạn-ngữ có câu:

    Tích tiền thiên vạn bất như bạc nghệ tuỳ thân.

    []

    Nghĩa là:

    Chứa tiền hàng ngàn vạn không bằng nghề mọn theo mình.

    Sách Tuần-ký của Tăng-Tán-Ninh chép câu ngạn-ngữ:

    Cung kính bất như tùng mệnh.Tụng huấn bất như tùng [16a] thuận []. Nghĩa là: Cung kính không bằng vâng lịnh. Đọc lời dạy bảo không bằng thuận chiều theo.

    Tục ngày nay người ta thường đọc câu nầy.

    ________


    (1) Nhàn, lớn-lao.


    Bài Tân-tựcủa Lưu-Hướng chép: Điền-nhiêu đáp Ai-công rằng: “Thực kỳ thực bất huỷ kỳ khí. Ấm kỳ thụ giả bất chiết kỳ chi []. Nghĩa là: Ăn cơm thì không đập bát. Núp dưới bóng cây thì không bẻ cành (1).

    Đó là đường lối ăn ở trung hậu của người xưa.

    Tục-ngữ nói: Thực kỳ quả giả phiên kỳ thụ []. Nghĩa là: Ăn trái cây nào thì rào gốc cây ấy (2).

    Ý nghĩa cũng giống như thế.

    Sách Thuyết-uyển có câu: Thụ đào lý giả hạ đắc hưu tức, thu đắc kỳ thực yên []. Nghĩa là: Người trồng cây đào cây lý thì mùa hạ được nghỉ-ngơi dưới bóng mát, mùa thu thì được ăn trái.

    Đời truyền rằng Địch-Nhân-Kiệt (3) có câu: Đào lý giai tại công môn []. Nghĩa là: Cây đào cây lý đều ở cửa công, chính là dùng điển này. Ý nói Địch-Nhân-Kiệt tiến-cử được nhiều trung-thần cũng như đã trồng nhiều cây đào cây lý.

    Sách Tam-quốc chí chép: Viên-Thượng sai Lý-Phu trong canh một (cổ nhất trung) phải đến Nghiệp-huyện. Vậy cổ nhất trung cũng là tục-ngữ.

    [16b] Sách Trà-kinh (4) của Lục-Vũ (5) chép: Phàm rót

    ________


    (1) Tục-ngữ của ta có câu cùng một ý ấy: “Chớ ăn cháo đá bát”.

    (2) Tục-ngữ của ta có câu cùng một ý ấy: “Ăn cây nào, rào cây ấy”.

    (3) Địch-Nhân-Kiệt, người ở đất Thái-nguyên đời Đường, tự là Hoài-anh, thi đỗ khoa Minh-kinh, làm quan ba triều vua Cao-tông, Trung-tông và Duệ-tông, trải qua những chức Tuần-phủ Hà-nam, Thứ-sử Dự-châu, xử những án bị đình-trệ, phá huỷ những miếu thờ bất chính, tiến-cử được nhiều bậc trung-thần.

    (4) Trà-kinh, tên sách gồm có 3 quyển, do Lục-Vũ đời Đường soạn ra, nói về chuyện trà, tường thuật cách chế trà, pha trà và uống trá.

    (5) Lục-Vũ, người ở đất Cánh-lăng đời Đường, tự là Hồng-Tiệm, ẩn cư ở Điêu-khê, có khi đi một mình trong đồng nội, đọc thơ và quất cây, khóc thảm rồi trở về, thích uống trà, viết sách Trà-kinh.
  • Đang tải...