21.16 - nhnhien (type done)

17/11/15
21.16 - nhnhien (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-RU1ZRXRJMF83R28/view?pli=1

    vào chén khiến cho đều mạt bọt. Mạt bọt là hoa nước sôi. Hoa mỏng gọi mạt. Hoa dầy gọi bột (là bọt).

    Sách Chú - thư tự và sách Bổn - thảo ([1]) đều ghi Bột (bồ + hốt phiên-thiết ra bột).

    Tục ngày nay gọi là bọt.

    Sách Trà-kinh chép: Chữ[] đọc lam, đọc lung, đọc cử là đồ đựng làm bằng tre đan chứa được 5 thăng.

    Chú: Theo sách Hán-thư, chữ [] đọc doanh là đồ đựng bằng tre.

    Nay tục nước ta đọc chữ [] là canh (cư + thành phiên-thiết ra canh).

    Sách Trung-quỹ lục chép: Bạch khúc ([2]) 1 cân, muối 3 tiền, đổ nước vào, trộn đều làm bánh nắn thành cục nhỏ, giã với đậu xanh làm bột. Tiếng bột cũng giống với tiếng Việt.

    Về thành - ngữ Tuý như nê [] (say nhừ như bùn), sách Năng cải trai lục của Chu - trạch đời Hán chép: Nước Nam có loài rắn không có xương gọi là nê [17a], ở trong nước thì sống, rời khỏi nước thì say như một cục bùn.

    Sách Hải - quảng phương - ngôn gọi gió biển là cụ []. Cụ là sàng (sàng gạo bỏ cám).

    Lại có thuyết nói cụ [] là cụ tứ phương chi phong []. Nghĩa là: Gió đủ bốn phương thổi lại. Chữ cụ [] có chữ [] cụ (là đủ) hợp với chữ [] phong (là gió), chỉ sự: Gió đủ bốn phương thổi lại.

    Phần Việt thuật ký trong sách Thuyết - linh chép tin cụ - phong (gió con trốt) có ngày tháng mỗi năm.

    Người ta lại chú: Tục gọi cụ phong (gió con trốt) là bão.

    Chữ [] trong tự - điển âm quật, nghĩa là ra sức làm việc cho cuộc đất. Chữ [] quật có chữ [] hựu (là cái tay để làm việc) hợp với chữ [] thổ (là đất), chỉ sự: Tay làm việc (như cày cuốc đào xới gieo trồng..) cho cuộc đất.

    Chữ [] quật với chữ [] thánh, âm và nghĩa khác nhau xa, vậy mà thói tục mượn chữ [] quật làm chữ [] thánh là sai.

    Tào - Bân đời Tống vâng sắc của vua sai đi Giang - nam xử - lý (cấu đương: xử - lý) việc công.

    Tục đọc chữ [] cấu đương (xử - lý) theo bình thinh ra câu đương là sai.

    Theo sách Thông - giám, từ đời Đường về sau, phần nhiều nói: cấu - đương quân quốc trọng sự (nghĩa là : xử - lý việc quan trọng của quân - đội và quốc gia).

    Chú:

    Cấu: cổ + hậu phiên-thiết = cấu.

    Đương: đinh + nương phiên-thiết = đương.

    Tự - điển ghi:

    [] âm cấu

    [] đương bình thinh.

    [17b] Sách Văn - tuyển chép: Bài hịch văn của Tào - công gởi cho các tướng hiệu hạ - bộ của nước Ngô có ghi niên (năm), nguyệt (tháng) nhật (ngày), tý (giờ).

    Chú:

    Tý là giờ phát tờ hịch.

    Thế thì nhật tý là ngày giờ, chớ không phải ngày nào đó.

    Sách Thúc viên tạp ký ([3]) chép: Những chữ nhất [], nhị [], tam [], tứ [], ngũ [], lục [], thất [], bát [], cửu [], thập [], thiên [], bách [], (là 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 1.000, 100 viết theo loại chữ nhiều nét) tương - truyền là bắt đầu từ đời nhà Minh, do quan Hình - bộ Thượng - thư là Khai - Tế định ra.

    Nhưng sách Biên - thực Côn - sơn chi đời Tống đã có những chữ ấy rồi, bởi vì con số về tiền về thóc phải đổi dùng loại chữ nhiều nét để ngăn phòng các lại - dịch gian - xảo sửa đổi chữ nầy ra chữ khác.

    Nhan - Chi - Thôi nói: Xuân thu thuyết lấy [] nhân thập tứ tâm làm chữ [] đức ([4]).

    Thi - thuyết lấy chữ [] nhị viết ở dưới chữ [] thiên là chữ [] dậu ([5]).

    Sách Hán - thư lấy chữ [] tuyền hoá làm Bạch thuỷ chân nhân [] ([6]).

    Sách Tân - ngữ ([7]) lấy chữ [] kim hợp với chữ [] cấn làm chữ [] ngân.

    Sách Quốc - chí lấy chữ [] thiên ở trên có chữ [] khẩu làm chữ [] ngô ([8]).

    Sách Tấn - thư lấy câu [] Hoàng đầu tiểu nhân (Nghĩa là: người nhỏ bé đầu tóc đã trổ vàng) làm chữ [] cung là cung kính. [] là phần trên đầu chữ [] hoàng (màu vàng), [] tiểu (nhỏ), [] nhân (người).

    Người nhà Tống lấy chữ [] triệu [18a] ghép với chữ [] đao thành chữ [] thiệu.

    Sách Tham đồng khế ([9]) lấy chữ [] nhân (là người) đội chữ [] cáo làm chữ [] tạo.

    Những điều như loại nầy là những lời sai lầm của các nhà thuật – số đã giả tá (mượn chữ nầy làm chữ kia), phụ hội xen vào để làm trò cười, như chuyển chữ [] cống làm chữ [] làm chữ [] hạng, lấy chữ [] sất làm chữ [] thất, thì làm sao có thể dùng âm của loại chữ ấy mà đọc được?

    Tôi cho rằng lời bình-luận nầy rất chính-đáng.

    Người đời bảo sách Mai hoa Dịch số là của Thiệu –tử làm ra, lấy nét chữ đoán việc họa phúc của người, phụ hội với những điều bỉ - lậu thiển-cận, mười điều trúng được môt hai thì không đáng tin.

    Trần-Hậu-Sơn, người ở Kim-lăng thích giải tự (phân-tích chữ nho ra từng phần từng bộ) lấy:

    - chữ [] đồng (chung) và chữ [] điền (ruộng) làm chữ [] phú (là giàu. – Chung gộp ruộng lại thì giàu).

    - chữ [] phân (chia) và chữ [] bối (tiền) làm chữ [] bần (là nghèo. – của-cải bị phân-tán thì nghèo).

    Sách Phật Hoa nghiêm biểu nghĩa chép: Chữ [] vạn vốn không phải là chính-tự. Trong niên-hiệu Trường-thọ thứ 2 (693) nhà Chu tạm chế ra chữ ấy. Đó là chữ vạn của nước Tây-vực (Ấn-độ) viết ở trước ngực của Phật, đó là tướng cát tường ([10]).

    Nay ở các vật-dụng người ta thường khắc chữ ấy [18b] là ý nương-tựa vào điều tốt lành.

    Sách Tây khê tối ngữ chép: Từ nhà Hậu-Ngụy cho đến khoảng nhà Tề nhà Lương, mỗi lần gặp đốt hương, trước hết người ta hơ tay vào khói thơm hoặc lấy phấn thơm rải ở lối đi, gọi đó là hành hương.

    Đầu đời đường cũng noi theo đó.

    Sách của đạo Lão lấy một quyển làm một cuộc.

    Sách Thuyết-phu ([11]) của Đào-Cửu-Thành ([12]) cũng dùng như sách Phật, lấy một điều làm một tắc.



    Sách Dung trai tùy bút ([13]) của Hồng Cảnh-lư ([14]) cũng dùng theo đó.

    Sách Tống-Kỳ ([15]) bút ký chép: Làm nhà theo thế quanh co gọi là bô[]. Tuấn bô là nhà lố-nhố không bằng-phẳng.

    Chữ dũng đạo [], sách Thông- giám chú rằng: Dũng đạo như loại đường đi giáp thành dưới đời nhà Đường, là đường đi có xây tường ở bên như lối ngõ.

    Sách Nhĩ-nhã chép: Ngả năm (chỗ tẽ ra năm ngả) gọi khang, ngả sáu (chỗ tẽ ra sáu ngả) gọi trang.

    [19a] Sách Giám giới lục chép: Sử đời trước nói dây đai lưng dài mười vi. Chữ vi, bề dài hai ngón tay cái hợp lại là một vi, tức nay là một nách [].

    Sách Quy điền lục ([16]) chép: Tờ tấu của người nhà Đường không phải là tờ biểu hay tờ trạng thì gọi là bảng tử, người đời Tống gọi là tráp tử.

    Sách Tuyết linh ngôn chinh chép: Cái cô [] là thanh gỗ để học viết chữ, hoặc để ghi chép sự việc, chuốc gỗ mà làm, có 6 mặt hay 8 mặt đều có thể viết được cả, vì thanh gỗ ấy có góc cạnh nên gọi là cô (chữ cô nghĩa là loại chén có 8 cạnh dùng để uống rượu).

    Sách Văn-tuyển có câu: Thao cô tiến độc [] (nghĩa là: Cầm thanh gỗ cô để biên chép và tiến dâng thư trát).

    Vua Chân-tông (998-1022) nhà Tống thường sai người chép những văn tập của Bạch-Lạc-thiên (Bạch-Cư-Dị), bao lại bằng trúc trật. Trật như tấm rèm tre [19b], ở trong có xếp nhiều lớp lụa mỏng cho chắc-chắn và kín-đáo.

    Vì thế ngày nay người ta gọi một quyển sách là nhất trật.

    Ngô-Hựu truyện đời Hậu-Hán chép: Lấy lửa hơ thẻ tre cho đổ mồ-hôi, viết chữ lên lớp xanh trên vỏ tre ấy vì dễ viết và mọt không đục, gọi là hãn giản ([17]).

    Đời xưa lấy thẻ tre dài 3 thước (thước xưa) chép pháp-luật lên trên, gọi đó là Hình-thư, cho nên cũng gọi là Tam xích chi pháp (Pháp-luật chép trên thẻ tre dài ba thước).

    Sách Uyên giám loại hàm chép: Con rùa có đức linh, lặn dưới nước bùn rất giỏi và không để ý đến việc ăn uống nuôi dưỡng lấy thân (không cần ăn uống) cho nên đời xưa cái phủ[] ([18]) cái quỷ[] ([19]) đều có vẽ hình con rùa ở trên.

    Các quan đại - thần mắc tội không thanh-liêm bị phế chức thì không gọi là bất liêm (không thanh liêm) mà nói là phủ quỷ bất sức [] (nghĩa là: cái phủ cái quỷ không chỉnh-đốn).

    Thúc tôn truyện có câu: Thiết cửu tân ([20]) lô truyền ([21])[] (nghĩa là: Đặt cách truyền lô khi có chín bậc tân khách đến chầu).

    Chú:

    Lô, nhiều người.

    Lô truyền, nhiều người lần-lượt truyền bảo cho nhau.

    Đời xưa dùng hai chữ [] tẩy mã đặt tên quan.

    Sách Văn hiến chép: Tẩy [] tức là tiên [] (là trước) ([22]).

    Chức quan ấy cỡi ngựa đi trước dẫn đường cho Thái-tử đi ra.

    [20a] Hoài-Nam-Tử nói: “Về cây cỏ, chỗ to là cái gốc, chỗ nhỏ là cái ngọn. Về cầm-thú, phần to là cái đầu mà phần nhỏ là cái đuôi”.

    Về câu “Tạc viên nhi nhuế phương” [] (nghĩa là: Lỗ tròn mà mộng vuông). Sách sử-ký có câu: Cầm cái mộng vuông tra vào cái lỗ tròn thì có thể tra vào được không?

    Chú:

    Người thợ đẽo gỗ làm cái mộng vuông mà tra vào cái lỗ tròn thì không thể tra vào được.

    Hoài-Nam-Tử nói: “Muôn dân mỗi người đều muốn làm điều mưu trí trá ngụy để cầu việc nhuế tạc ([23]), việc không phù - hợp ở đời”.

    Lời chú nói rằng: Tạc là cái lỗ đục. Nhuế là cái mộng.

    Người thợ đẽo gỗ làm cái mộng tra vào lỗ đục thì được ngay.

    Hai thuyết không giống nhau.

    Câu “Chúng khẩu thước kim” [] (nghĩa là: Nhiều miệng làm chảy vàng) xuất-phát từ ông Quỷ-Cốc ([24]).

    Sách Phong-tục thông chép: Thói tục nói: Có thứ vàng tốt mà mọi người đều chê là không nguyên chất. Khách buôn muốn bán được vàng bèn lấy lửa đốt vàng để mọi người trông thấy là thứ vàng thiệt.

    [20b] “Chúng khẩu thước kim”, nhiều miệng làm chảy vàng là vì thế.

    Truyện Hoắc-Quang ([25]) đời Hán có câu: Sứ-giả bàng ngọ [] (nghĩa là: Sứ-giả bận rộn).

    Chú:

    Một nét dọc một nét ngang là bàng-ngọ, là nhiều việc bận-rộn phân bố khắp ngang dọc.

    Sách Sở-từ chú chữ [] trù chữ [] thất:

    - Bốn người gọi là trù.

    - Hai người gọi là thất.

    Sách Hán-thư có câu: Tùy nhi môi nghiệt kỳ đoản [] (nghĩa là: Theo mà thêu dệt điều tội-lỗi của người).

    Chú:

    Môi là giếu, là bã rượu.

    Nghiệt là khúc, là men rượu.

    Mội nghiệt là gầy nên, thêu dệt nên điều tội-lỗi của người.

    Người nước Tề gọi Khúc bính (bánh men) là môi.

    Sách Phong-tục thông ([26]) chép: Nhà Tần xây Trường-thành, đất đều màu tía, cho nên gọi là tử tái (biên tái màu tía). Biên tái ở phương Nam (Nam-kiếu) đất màu son, cho nên gọi là đơn kiếu (đơn là màu son màu đỏ).

    Tái là chỗ biên-giới có phòng giữ để chận ngăn rợ di rợ địch tràn vào.

    Kiếu là xa ([27]).

    Thanh tỏa [] (thanh, màu xanh; tỏa, hình liên-hoàn chạm khắc ở cửa) được sách Hán-thư chú: lấy màu xanh sơn vẽ vào chỗ chạm khắc ở bên cửa.

    Nham lang []được sách Hán-thư chú: cái nhà [21a] nhỏ ở dưới điện.

    Đời xưa dùng thẻ tre để viết (gọi là giản []) thứ dài được một thước, thứ ngắn được nửa thước.

    Ngụy-Vương-Lăng nói với Tư-mã Ý rằng: “Dĩ chiết giản triệu ngã” (nghĩa là: lấy thẻ tre dài nửa thước vời tôi).

    Chiết giản ([28]) là nói bán giản tức là nói thẻ tre dài nửa thước, cũng có nghĩa là tờ giấy xé ra để viết không có giá-trị.

    Chiết xung [] (chiết, bẻ gãy. Xung, xung-đột) là chống ngăn quân địch tràn đến xung-đột.

    Trong Chiến-quốc sách, Tô-Tần nói: “Bách nhân chi xung, chiết chi nhẫm tịch chi thượng” (nghĩa là: Một trăm người tràn đến xung-đột, mình có thể chống ngăn ngay ở chỗ ngồi).

    Sách Lữ-thị Xuân-thu có câu: “Chiết xung miếu đường chi thượng” (nghĩa là: Chống ngăn quân địch ngay ở chốn miếu đường).


    Văn-Trung-Tử ([29]) có câu: “Chiết xung tôn trở khả dã hà tất lâm biên?” nghĩa là: Chống ngăn quân địch ngay ở trong yến tiệc (còn bày chén thớt) hà tất phải cần ra đến biên thùy?

    Hàn-Tử nói: “Người ta ít thấy con voi sống, mà chỉ được bộ xương của con voi chết, rồi vin theo bộ xương ấy thì có thể tưởng-tượng ra hình-thể con voi sống. Cho nên ý-tưởng của người ta đều gọi là tượng (tượng là con voi).

    Sách Sơn đường tứ khảo ([30]) chép: Người xưa đem quân đi, năm người là một ngũ, hai ngũ là một thập, các đồ để ăn uống[21b] thì dùng chung với nhau trong một thập, cho nên gọi là thập-khí (khí-cụ để ăn uống dùng chung với nhau trong một thập, mười người).





    ([1] ) Bồn-thảo, bộ sách chủ yếu của Y- học Trung-quốc, chép các dược-vị dược-tính.

    ([2] ) Khúc, men rượu.

    ([3] ) Thúc viên tạp ký, tên sách có tất cả 15 quyển, do Lục-Dung đời Minh soạn, trích lục những sự thật từ triều-đình ra đồng-nội dưới đời nhà Minh, biên chép rất tường tận, phần nhiều có thể đối chiếu với lịch -sử. Có những chỗ khảo-biện ý nghĩa xưa cũng đứng-đắn.

    ([4] ) [] đức chính âm đắc, những gì được ở lòng khi mình tu dưỡng theo đường chính-trực. ([] đắc, được. [] hành, hành đạo. Những gì được ở lòng khi người chính-trực hành đạo).

    ([5] ) Chữ [] thiên viết theo cổ văn là [] hợp với chữ [] nhị thì thành chữ [] dậu (thấy giống giống như thế, chớ sự thật thì không phải).

    ([6] ) Chữ [] tuyền (là suối) có chữ [] bạch (là trắng) hợp với chữ [] thủy (là nước) cho nên mới gọi là Bạch thủy chân nhân.

    ([7] ) Tân-ngữ, tên sách, do Lục-Giả đời Hán soạn ra 12 thiên.

    ([8] ) [] ngô, sai lệch lầm lẫn. [] trắc, nghiêng tà không đứng-đắn. [] khẩu, miệng để nói. Nói điều sai lệch lầm lẫn không đứng-đắn.

    ([9] ) Tham đồng khế, sách do Ngụy-Bá-Dương soạn, thường nói về khảm, ly, thủy, hỏa, long, hổ, diên, hống.

    ([10] ) Chữ [] vạn là chữ linh ở Ấn-độ có sức đưa lại các điều tốt lành vui-vẻ phúc-đức. Sức lành của chữ vạn sâu rộng như biển, cao lớn như mây.

    ([11] ) Thuyết-phu, tên sách, có tất cả 100 quyển, do Đào-Tông-Nghi đời Minh soạn, chép những tiểu-thuyết sử-ký từ đời Minh trở về trước, chép tóm tắt phần đại-lược của mỗi quyển, có chép lại những sách xưa đã thất-lạc. Về sau bộ sách nầy mất hết 30 quyển.

    ([12] ) Đào-Cửu-Thành, tên là Tống-Nghi, tự là Cửu-Thành, người ở đất Hoàng-nham đầu đời Minh, hiệu là Nam-thôn, chăm về cổ học, nhà nghèo, dạy học để sống, đích thên đi cày, rảnh-rang ngồi dưới bóng cây, bẻ lá cây chép sách, chứa vào trong những cái chậu vỡ, trong 10 năm được 10 chậu, đem ra chép lại được 30 quyển, gọi là bộ Chuyết canh lục. Ông có soạn những sách Thuyết-phu, Thư-sử hội-yếu còn truyền ở đời.

    ([13] ) Dung trai tùy bút, tên sách, có tất cả 16 quyển, tục bút có 16 quyển, tam bút có 16 quyển, tứ bút có 16 quyển, ngũ bút có 10 quyển, do Hồng-Mai đời Tống soạn. Sách này tùy lúc hứng biên chép đều là loại khảo biện kinh điển, đính-chính điển-cố, biện-chứng khảo-cứu rất tinh-xác.

    ([14] ) Hồng Cảnh-lư, người ở đất Phiên-dương đời Tống, tên là Mại, tự là Cảnh-lư, bác thông kinh sử. Trong thời vua Cao-tông, ông thi đỗ, làm chức Hàn-lâm học-sĩ, đi sứ nước Kim, làm quan đến chức Đoan-Minh-điện học-sĩ có viết sách: Sử-ký pháp-ngữ, Kinh-tử pháp-ngữ, Nam-triều sử tinh ngữ, Dung trai tùy bút, Di kiên chí.

    ([15] ) Tống-Kỳ, người ở đất An-lục đời Tống, cùng với anh thi đỗ Tiến-sĩ, làm chức Long-đồ các học-sĩ, Sử-quán tu-soạn, cùng với Âu-Dương-Tu soạn bộ Đường-thư, lại ra trấn-nhiệm Bạc-châu, sau làm chức Tả-thừa, Công-bộ Thượng-thư, Hàn-lâm học-sĩ thừa-chỉ, viết sách Tống- cảnh văn tập.

    ([16] ) Quy điền lục, tên sách, có 2 quyển, do Âu-Dương-Tu đời Tống soạn, chép những việc cũ của triều-đình và những câu chuyện hài-hước của sĩ đại phu. Sách nầy soạn vào lúc đã trí-sĩ về đồng ruộng ở đất Dĩnh.

    ([17] ) Hãn giản, đời xưa lấy thẻ tre hơ lửa cho đổ mồ-hôi, rồi viết nháp lên lớp trơn bóng như mổ-hôi ấy gọi là hãn thanh [] để dễ cạo sửa. Sau khi đã sửa bài văn cho chính-đính rồi thì cạo bỏ lớp hãn thanh (vỏ xanh) ấy và chép thẳng lên thẻ tre lên lụa thì không còn sửa-chữa nữa.

    Thẻ tre đã hơ lửa cho đổ mồ-hôi gọi là hãn giản. []

    Cạo bỏ lớp hãn thanh trên thẻ tre gọi là sát thanh [] (chuốt bỏ lớp vỏ xanh).

    ([18] ) Phủ, vật - dụng bằng gỗ hay bằng đồng hình vuông dùng để đựng xôi nếp mà cúng tế.

    ([19] ) Quỷ, vật - dụng bằng gỗ hình tròn dùng để đựng nếp mà cúng tế.

    ([20] ) Cửu tân tức cửu nghi []: 1) công. 2) Hầu. 3) Bá. 4) Tử. 5) Nam. 6) Cô. 7) Khanh. 8) Đại-phu. 9) Sĩ.

    ([21] ) Lô truyền (lô, nhiều người; truyền, đọc to lên truyền lịnh cho mọi người cùng nghe), nhiều người (hàng trăm vệ-sĩ) cùng đọc to lên truyền lịnh cho mọi người nghe.

    ([22] ) vì chữ [] tẩy có chữ [] tiên là trước.

    ([23] ) Nhuế tạc, mộng vuông mà tra vào lỗ tròn thì không thể tra vào được, ngụ ý việc không đầu hợp với nhau.

    ([24] ) Quỷ-Cốc tử, cao-sĩ đời xưa, Quỷ-Cốc tiên sinh là một chân-tiên đời xưa, họ Vương thị, từ đời Hiên-Viên, trải qua đời Thương, Chu, theo Lão-quân đi về phía tây đến Lưu-sa, cuối đời Chu lại trở về ở núi Quỷ-cốc, học –trò có hơn trăm người, chỉ có Tô-Tần Trương-Nghi không mộ thần-tiên theo học-thuật tung-hoành.

    ([25] ) Hoắc-Quang, người ở đất Bình-dương đời Hán, em của Hoắc-khứ-Bịnh, tự là Tử-Mạnh, dưới thời vua Vũ-đế làm Phụng-thường Đô-úy, rất được vua thân-thiết tin cậy. Khi Vũ-đế băng, Hoắc-Quang được di-chiếu cùng Kim-nhật-Đạn phò Chiêu-đế, được trao chức Đại-tư-mã, làm Đại tướng quân, được phong Bác-lục hầu. Vua còn bé, mọi việc chính đều do , Hoắc-Quang quyết định. Khi vua Chiêu-đế băng, Hoắc-Quang đón Xương-ấp Vương Hạ lập lên ngôi. Xương-ấp Vương Hạ dâm đãng bị phế xuống. Hoắc-Quang đón Tuyên-đế lên ngôi.

    Tính tình của Hoắc-Quang đoan chính, điềm tĩnh, cầm quyền trong 20 năm chưa từng có lỗi lầm gì. Nhưng quyền uy của Hoắc-Quang quá to, bà con thân-tộc đầy triều. Hoắc-Quang làm việc phế lập nhiều lần. Khi Hoắc-Quang mất, bà con thân-tộc cũng bị giết.


    ([26] ) Phong-tục thông nghĩa, tên sách, có tất cả 10 quyển, được gọi tắt là Phong-tục thông, có 1 quyển phụ-lục, do Ứng-Thiệu đời Đông-Hán soạn ra. Sách nầy khảo-luận điển-lễ giống như sách Bạch hổ thông nghĩa.

    ([27] ) Kiếu là chỗ biên-giới có phòng giữ, chớ không có nghĩa là xa.

    ([28]) Chiết giản, các từ-điển đều giải nghĩa là tờ giấy vụn xé ra (không có giá trị). Đời xưa dùng thẻ tre (giản) để viết chữ. Đời Tần đã chế tạo-ra giấy, cho nên chữ giản là thẻ tre lại có nghĩa là tờ giấy để viết từ sau đời Tần.

    ([29] ) Văn-Trung-Tử, tên thụy riêng của Vương-Thông đời Tùy.

    ([30] ) Sơn đường tứ khảo, tên sách, có tất cả 128 quyển, bổ-di có 12 quyển, do Bành-Đại-Dực đời Minh soạn, trong sách chia ra 45 môn rất có điều-lý.
  • Đang tải...