21.17 - huonggiang (type done)

21/8/15
21.17 - huonggiang (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-a3dHNU9EeHVVN2M/view?pli=1


    QUYỂN VI

    Người xưa đem quân đi chinh-chiến thì trước phải cúng tế ở tông miếu để bói xem việc lành dữ rồi sau mới đi cho nên gọi là miếu-toán (bói toán ở tông-miếu).
    Sách Thạch-lân yến ngữ (1) chép: Đầu đời Đường chưa có áp tự (để chữ ký tên), người ta viết tháo tên mình để ký riêng, cho nên gọi là hoa thư (chữ viết hoa). Đó là chứng-nghiệm về Ngũ hoa phán sự (2).
    Sách Nghệ văn loại tụ (3) dẫn sách Ngữ-tâm có chép: Đời gần đây tuyển quan bổ-dụng, thì trước hết biên tên vị quan cũ ở trước, kế đến biên tên vị quan định bổ dụng ở sau, tên của hai vị quan mới và cũ xen lẫn nhau.
    Đời gần đây lại gọi phủ đình (chỗ công-đường) là nha. Chữ Nha vốn viết [.] nha (là rang) rồi viết sai ra [.] nha (là dinh-thự của quan).
    Thiên Kỳ-phủ (4) trong kinh Thi có câu:
    Dư vương chi trảo nha
    [.]
    Nghĩa là:
    Chúng tôi quân dung mãnh (nanh vuốt) của vua,
    Cho nên lá cờ to ở trước chỗ đóng quân gọi là nha kỳ
    (1) Thạch lâm yến ngữ, tên sách, tất cả có 10 quyển, do Diệp-Mộng-Đắc đời Tống soạn, lại có một quyển Khảo-dị do Vũ-Văn-Thiệu-Đột soạn. Trong thời vua Huy-tông Diệp-Mộng-Đắc thường coi giữ chế-cáo của vua thường để tâm cứu xét triều chương quốc điển, cho nên sách nầy chép những điều nghe thấy xưa, phần nhiều có quan-hệ đến chuyện xưa, và rất tường-tận về quan-chế khoa mục.
    Còn phần Khảo-dị của Thiệu-Đột thì viện dẫn văn xưa, bàn luận tường xác.
    (2) Ngũ hoa phán sự. Theo cố sự đời Đường, tòa Trung-thư có việc về quân-quốc thì các quan Trung-thư xá nhân mỗi vị đều trình-bày ý-kiến mình rồi viết tên mình ở dưới gọi đó là ngũ hoa phán sự.
    (3) Nghệ văn loại tụ, tên sách, có tất cả 100 quyển do nhóm Âu-Dương-Tuấn vâng sắc chỉ soạn ra. Sách chia ra 48 môn, sự-loại đặt ở trước, thi văn đặt ở sau.
    (4) Thiên Kỳ-phủ, kể việc quân-sĩ đi quân-dịch oán quan Tư-mã chỉ-huy.

    Tôi xét lời chú ở sách Thông-giám có chép: Phép xuất quân của Hoàng-đế nói: Nha kỳ là cờ của tướng-quân.
    Thiên Tư thường chức trong sách Chu [22a] lễ chép: Khi có hội-đồng trong quân-lữ thì dựng cờ ở cửa quân tức là kỳ-môn.
    Đời sau đặt ra chức Quân trung nha môn tướng, lại có nha binh.
    Đến như ở trong quân và trong phủ, quân binh và chức lại hằng ngày sớm tối hai lần lên yết thượng-cấp cũng gọi là nha hô.
    Chữ nha dùng đã quen. Dẫu như vua ra chính-điện nhận triều-thần bái-yết cũng gọi là chính-nha.
    Cho nên nha-kỳ, chữ nầy không lấy nghĩa theo kinh Thi.
    Sách Bội-huề (1) của Quách-Trung-Thứ (2) luận về tự học rất tinh-tường. Ông nói: “Âm thinh của người Trung-hoa và người nước Sở khác nhau. Tiếng nói của người phương Nam và người phương Bắc không giống nhau, vì người ta dùng tiếng nói ở quê-hương lưu-truyền cho nhau không phải chỉ có một thứ. Âm thì giống mà chữ thì khác, hay chữ thì giống mà âm thì khác, hoặc lỗi vì thinh thiển phù (cạn nổi) hay trọc trầm (đục chìm).
    Thiên Biệt danh ký trong kinh Lễ chép: Trội hơn năm người gọi mậu [.], hơn mười người gọi tuyển [.], hơn trăm người gọi tuấn [.], hơn ngàn người gọi [22b] anh [.]. hơn bằng hai hạng anh gọi hiền [.], hơn muôn người gọi kiệt [.], hơn bằng muôn hạng kiệt gọi thánh [.].
    (2) Bội huề, tên sách có 3 quyển do Quách-Trung-Thứ soạn, quyển thứ nhất luận đầy đủ về lục-thư hình thinh và lý-do đã biến sai; quyển trung và quyển hạ luận về nét chữ dị-đồng.
    (3) Quách-Trung-Thứ, người đất Lạc-dương đời Tống, tự là Thứ-tiên, đầu tiên làm quan cho nhà Chu làm Dịch-học bác-sĩ, sau vào nhà Tống được trao chức Quốc-tử-giám chủ bộ, tinh về kinh Dịch lại giỏi viết chữ và vẽ tranh, thông về tự-học sứ đời Ngụy đời Tấn trở lại. Ông có viết những sách: Hàn-giản, Bội-huề.
    Trong sách Bạch hổ thông (1) của Ban-cố (2) có những chú-thích của nhà nho đời Hán như:
    [.] Hiệu là phô bày công lao.
    [.] Hạ là to lớn (nhà Hạ).
    [.] Ân là chính giữa (nhà Ân)
    [.] Chu Chu chí, chu mật (nhà Chu)
    [.] Đường là phóng đãng (nhà Đường).
    [.] Ngu là vui-vẻ (nhà Ngu).
    [.] Thụy là dẫn, dẫn diễn dấu vết trị thể.
    [.] Tuế là toại thành, nên.
    [.] Thì là cơ, là giáp năm.
    [.] Quân (vua) là quần (bầy) được quần-chúng đem lòng theo về.
    [.] Thần (tôi) là kiên (kiên cố), dốc chi bền vững thờ vua.
    [.] Phụ (cha) là củ (quyên), pháp-độ để dạy con.
    [.] Tử (con) là tư-tư, Chăm gắng mãi không thôi.
    [.] Cữu (cậu) là cựu (cũ)
    [.] (cô) là cố (cố cựu).
    [.] Tỷ (chị) là tứ (phóng tứ).
    [.] Muội (em) là mạt (cuối, út)
    (1) Bạch hổ thông tức Bạch hổ thông nghĩa, tên sách có tất cả 4 quyển, do Ban-Cố đời Hán soạn, trong thời Hậu-Hán, Chương-đế xuống chiếu cho các nhà nho khảo định Ngũ kinh đồng dị ở Bạch-hổ quán chễ Bắc-cung, đặt tên sách là Bạch hổ thông đức luận, về sau vua xuống chiếu cho Ban-Cố soạn mới đặt ra tên sách là Bạch hổ thông nghĩa hay Bạch hổ thông. Sách nầy trưng dẫn Lục kinh truyện ký, phát-triển nhiều về vĩ sấm, phần nhiều lưu-truyền cổ-nghĩa, đến nay được các nhà khảo chứng căn-cứ vào.
    (2) Ban Cố, người đất An-lăng đời Đông-Hán, con của Ban-Bưu, tự là Mạnh-Kiên, chín tuổi đã làm văn, lớn lên thì bác thông kinh sử, trong thời Minh-đế, làm chức lang, Điển hiệu bí thư, viết nối sách Hán-thư của cha hơn 20 năm mới thành, được người đời kính trọng, về sau đổi làm Huyền-vũ Tư-mã, soạn sách Bạch hổ thông nghĩa. Khi Đậu-Hiến đi đánh Hung-nô, Ban-Cố làm Trung-hộ quân. Đậu-Hiến bại binh, Ban-Cố bị bắt và chết trong ngục.
    [.] Phu (chồng) là phù (giúp đỡ), lấy đạo chồng mà giúp đõ vợ.
    [.] Phụ (vợ) là Phục (khuất-phục), lấy lễ mà khuất-phục dưới quyền chồng.
    [.] Bằng (bạn) là đảng (đảng-phái)
    [.] Hữu (bạn) là hữu (có)
    [.] Đệ (em) là đễ (kính yêu anh), lòng kính thuận đôn-hậu.
    [.] Tộc (họ-hàng) là tụ (tụ hội đông-đảo).
    [.] Tính (tính-tình) là sinh (tính-tình bình-sinh) của người ta.
    [.] Nam (con trai) là nhiệm (đảm-nhiệm công-nghiệp của tổ-tiên).
    [.] Nữ (con gái) là như (đi theo chồng).
    [.] Thê (vợ) là tề (ngang đồng) ngang hàng với [23a] chồng.
    [.] Thiếp (vợ hầu) là tiếp (nghinh-tiếp) để thường thường tiếp-kiến chồng.
    [.] Y (cái áo) là ẩn (giấu) giấu che than-thể.
    [.] Thường (quần) là chướng (ngăn che) ngăn che chỗ kín.
    Những chữ theo loại nầy đều có nghĩa lý chớ không phải dựa-dẫm mà tán ra ý nghĩa.
    Sách Biệt-lục của Lưu-Hướng chép: Xem xét so-sánh hai bổn sách, một người xem, một người đọc, xem như nhà cừu oán, cho nên gọi là sát thư [.].
    Truyện Đông-phương-Sóc có chép: Đọc đến chỗ dừng thì chấm. Chấm ở đó mà ghi dấu gọi là ất [.]
    Ngày nay người ta đọc sách muốn sửa-chữa thì lấy bút móc từ trên xuống dưới là cũng thế.
    Hàn-Dũ có bài thơ Đăng Củ-lũ sơn:
    Củ-lũ sơn tiên Thần-Vũ bi, (1)
    [.]
    Tự thanh thạch xích hình mô kỳ.
    [.]
    Sự lệ tích quái quỷ mạc khuy.
    [.]
    Đạo sĩ độc thượng ngẫu kiến chi.
    [.]


    Dịch nghĩa
    1) Trên đỉnh núi Củ-lũ có cái bia Thần-Vũ.
    2) Chữ xanh đá đó hình dáng lạ-lùng.
    3) Việc đẹp-đẽ, dấu vết kỳ quái, quỷ thần không thể dò thấy được.
    4) Đạo-sĩ một mình lên núi ngẫu nhiên thấy bia đá.
    Dịch thơ
    Đỉnh Củ-lũ có bia Thần-Vũ,
    Nét xanh đá đỏ chữ lạ kỳ;
    Dấu quái gở thần thấy chi,
    Một mình đạo-sĩ lên thì thấy ngay.
    Chú thích:
    Núi Củ-lũ ở Nam-nhạc thuộc Hoành-sơn, tấm bia có tất cả 73 chữ. Người bản thổ thường in rập theo bài bia đem bán cho du-khách. Tôi [23b] vâng lệnh đi sứ có được một bản. Chữ to như cái chén.
    Sách Ký-văn của Trần –Tử - Kiêm đời Tống có chép: Người xưa viết sách đều dùng giấy vàng, lấy cây bách [.] mà nhuộm giấy cho vàng.
    Hoàng-bách [.] tức là cây hoàng-bách [.], nhuộm giấy bằng cây hoàng-bách để tránh việc mọt đục. Cho nên sách (viết bằng giấy màu vàng) gọi là hoàng-quyển (quyển sách màu vàng).
    (1) Thần-Vũ bi, cũng gọi là Vũ-bi, tương-truyền do vua Hạ-Vũ khắc lúc trị nạn lụt. Bia có 73 chữ, không phải loại chữ triện và cũng không phải loại chữ khoa-đẩu.
    Có viết chữ nào sai lầm thì lấy màu thư hoàng bôi lên thì mất, giấy và màu cùng tiệp sắc nhau.
    Cho nên văn-chương không hay không dở gọi là thư hoàng.
    Phép viết chữ của muôn nước trong thiên-hạ không giống nhau, chỉ có chữ Trung-hoa thì viết vuông và thẳng . Chữ của các nước ngoại phiên thì viết hàng ngang.
    Chữ của Thương-Hiệt (1) gọi là chữ cổ-văn.
    Lỗi chữ biệt xuất ngoài chủng-loại goi là cổ-văn kỳ tự.
    Quan Thái-sử Sử-Trựu (2) của Chu Tuyên-vương bắt đầu biến đổi cổ-văn làm chữ đại-triện.
    Lý-Tư (3) đời Tần lại biến đổi Trựu văn làm chữ tiểu-triện.
    Trình-Mại lại biến đổi chữ tiểu-triện làm chữ lệ để tiện ở nha phủ của quan.
    Nhà Hán hưng khỏi lên cũng noi theo chữ lệ mà chữ triện bị [24a] phế bỏ không dùng nữa.
    Người đời Tấn lại sửa đổi chữ lệ cho đẹp cho hơn khéo hơn.
    Lối chữ chân-thư ngày nay là lối chữ lệ đời Tấn biến-chuyển ra.
    Bài Tái-ký (4) của Tô-Húc chép: Thạch cổ văn (5) gọi là liệp-kệ (1) cộng chung được mười cái trống đã. Chữ khắc lên trống đá là loại chữ đại-triện của Sử-Trựu do Chu Tuyên-vương sang-chế.
    (1) Thương – Hiệt, sử thần của Hoàng –đế, ông tổ đã bày ra chữ cổ văn của Trung-hoa.
    (2) Sử-Trựu, quan Thái-sử của Chu Tuyên-vương làm ra 15 thiên chữ đại-triện.
    (3) Lý-Tư, người ở đất Thượng-thái đời Tần, làm Thừa-tướng cho Tần Thủy-hoàng bang, Lý-Tư nghe theo kế của Triệu Cao, sửa di chiếu, giết Thái-tử Phù-Tô, lập Tần-Nhị thế. Về sau bị Triệu-Cao vu-cáo, Lý-Tư bị chém ngang lung ở chợ Hàm-dương.
    (4) Tái-ký, bài văn của sử-quan chép mọi việc của liệt-quốc gọi là tái-ký. Thể văn tái-ký do Ban-Cố sáng lập.
    (5) Thạch cổ văn, loại chữ khắc trên trống đá.
    Hàn-Thoái-Chi có bài Thạch cổ ca.
    Trong Tập cổ lục, Âu-Dương-Tu nói: “Có ba bốn điều khả-nghi về bài Thạch cổ văn”.
    Nhưng ông lại nói: “Hàn-Thoái-Chi háo cổ, đã không lấy càn để tin nhảm”.
    Ông lại nói: “Về nét chữ, nếu không phải là Sử-Trựu thì không ai viết nổi”.
    Cái trống đá ấy vốn ở đất Trần-thương, Trịnh-Dư-Khánh đời Đường lấy đặt trong miếu Khổng phu-tử ở đất Phụng-tường, dưới thời vua Hy-tông nhà Tống được dời về đất Biện, được người nước Kim lấy đặt trong cửa Kích-môn (2) ở nhà Thái-học. Triều nhà Nguyên nhà Minh và triều hiện-tại (nhà Thanh) cũng y theo như thế.
    Tôi vâng mệnh đi sứ đến Bắc-kinh đã từng yết-kiến viên Học-quan [24b] mà được trộm xem những trống đá ấy.
    Sách Thư-đoán (3) của Trương-Hoài-Hoan (4) chép: Bút trận đồ (5) của Tiêu-Hân có nói: Tiêu-Hà (6) viết lối chữ triện của Sử-Trựu, lúc tiền điện làm xong phải suy-nghĩ sâu-xa ba tháng mới đề chữ lên tấm biển ở tiền điện.
    (1) Liệp-kệ, vua Tuyên-vương nhà Chu đi săn mùa xuân ở Kỳ-dương sai quan hầu đi theo khắc bài văn lên trống đá. Gọi là liệp-kệ (liệp, đi săn, kệ, bia đá tròn).
    (2) Kích-môn, ngày xưa ở cửa cung có dựng cây kích. Đời Đường tư-gia của quan tam phẩm trở lên có dựng cây kích.
    (3) Thư-đoán, tên sạch, tất cả 3 quyển, do Trương-Hoài-Hoan đời Đường soan, chép những thể chữ xưa và nay cùng tên người viết chữ đẹp.
    (4) Trương-Hoài-Hoan, người ở đất Hải-lăng đời Đường, làm chưc Tư-mã Ngạc châu, Hàn-lâm-viện cung phụng, có tài viết rất đẹp loại chữ chân, hành, tiểu triện, bát phân, thảo, soạn sách Thư-đoán, Cổ văn đại triện thư tổ, Thư-nghị, Lục thể luận, Dụng bút thập pháp. Bình thư dược thạch luận.
    (5) Bút trận đồ,
    giải-thích phép viết chữ.
    (6) Tiêu-hà, người ở đất Bái đời Hán, kết-giao với Hán Cao-tổ lúc hàn-vi, theo Cao-tổ khởi binh, làm Thừa-tướng cho Hán-vương. Lúc Hán và Sở đánh nhau, Tiêu-hà giữ Quan-trung, được phong đầu công Tán-hầu. Điển-chế luật-lịnh phần nhiều do Tiêu-Hà quy định.
    Người đi xem đông như nước chảy.
    Tiêu-Hà đã dùng cây bút cùn mà viết.
    Bút trận đồ của Vệ phu-nhân (1) đời Tấn có chép: Ngòi bút dài một tấc, cán bút dài năm tấc. Viết chữ chân thì cầm cách đầu bút hai tấc một phân. Viết chữ hành chữ thảo cũng cầm như thế.
    Đến sách Bút tủy luận của Ngu-Thế-Nam (2) đời Đường lại chép: Dùng bút thì cổ tay phải nhẹ lòng, bút dài không quá sáu tấc, cầm bút không quá ba tấc, viết chữ chân thì cách một tấc, viết chữ hành thì cách hai tấc, ngón tay cầm cho chắc, bàn tay phải lỏng.
    Sách Tạp-thuật của Giải-Tấn (3) lại chép: Viết chữ thảo thì ngòi bút dài bốn tấc. Cầm ba phân dính giấy thì thế có thừa. Cầm một phân mà ba phân [25a] dính giấy thì thế không đủ. Ngón cái phải hơi nghiêng một bên, chỗ thịt ở móng tay phải ở bên cán bút thì tốt.
    Lại có phép cầm giữa cán bút, ngón giữa giữ việc móc lấy, dùng sức toàn ở đấy.
    (1) Tấn Vệ phu-nhân, cháu gái của Vệ-Hằng đời Tấn (một thuyết nói là con gái của Vệ-Quán, em Vệ-Hằng) vợ của Lý-Củ, cũng gọi là Lý phu-nhân, viết rất khéo chữ lệ thư và chính thư (Nguyên bản chép sai ra Tấn Vệ đại phu).
    (2) Ngũ-Thế-Nam,
    người ở đất Dư-diêu đời Đường, tự là Bá-thi, học với Cố-Dã vương, tính trầm tĩnh ít ham muốn, nghị-luận đứng đắn, văn-chương đẹp-đẽ dồi-dào, đầu tiên làm quan cho nhà Trần nhà Tùy chức Bí-thư lang, vào nhà Đường làm Ký thất tham quân cho Tần-vương. Ông có viết sách Bắc đường thư sao.
    (3) Giải-Tấn,
    người ở đất Cát-thủy đời Minh, tự là Đại-thâ, giỏi viết văn, có con mắt tài-tử, trong niên-hiệu Hồng-vũ đỗ Tiến-sĩ, làm quan đến chức Hàn-lâm học-sĩ, rất được vua Thành-tổ than mến tôn trọng, về sau mắc tội bị hạ ngục mà chết.
    Sách ấy lại chép: Cầm gom ngòi bút, viết loại chữ thảo thì cầm cây bút…, đề bảng viết chữ to phải …(1).
    Các phép viết tuy không giống nhau, nhưng đại ý vẫn là một.
    Trương-Hoài-Quán nói: “Chữ triện, chữ Trựu, chữ bát phân (2), chữ lệ, chữ thảo (3) chữ phi-bạc (4), chữ hành (5) chữ chân (6) gọi chung là bát thể (tám thể chữ) mà chữ Hữu-Quân viết thì thần-tình”.
    Vương Hữu-quân (7) viết Bút trận đồ lại nói: “Muốn viết phải để mực trong nghiên cho khô, chung đọng tinh-thần, điềm tĩnh tâm tư, liệu tưởng hình chữ lớn hay nhỏ, cúi hay ngẩng, bằng hay thẳng, cử-động cho gân và mạch liên-lạc nhau, để ý vào ngòi bút rồi mới viết chữ.
    Nếu cứ viết ngang ngay sổ thẳng hình trạng giống như con toán [25b] thì không phải viết mà chỉ là chấm vẽ ra nét mà thôi”.
    Sách Tiềm xác cư loại thư chép: Cầm bút hợp pháp, gân cốt máu thịt hợp pháp, ngang ngay, sổ thẳng, vuông tròn hợp pháp, bố trí phần bên tả bên hữu hợp pháp, biến hóa hợp pháp mới gọi là lối chữ khải (8).
    (1) Nguyên văn ở chỗ nầy chép thiếu, cho nên câu văn không trọn nghĩa. Chúng tôi không có bản nào khác nữa để bổ-túc mà dịch cho xuôi câu.
    (2) Bát phân, lối chữ vuông tám phân do Vương-Thư-Trọng chế ra.
    (3) Thảo thư, lỗi chữ viết tháu.
    (4) Phi-bạch, lối chữ viết bút thế bay cất lên mà nét chữ thì trống không ở giữa.
    (5) Hành thư, lối chữ do Di.xuyên Lưu-Đức-Thăng đời Hậu-Hán tạo ra, là chữ chính thư hơi biến sai.
    (6) Chữ Khải, lối chữ chân thông hành hiện nay.
    Họ Chung (1), hai cha con họ Vương (2), Trí-Vĩnh (3), Ngu-Thế-Nam (4), Âu-Dương-Tuân (5), Nhan-Chân-Khanh (6) là bảy phái viết chữ khải rất hợp pháp. Còn những vị khác thừa ra chẳng qua là viết lối chữ chân mà thôi.
    Trong kinh Hoàng-đình (7) Nhạc-Nghị luận nói: “Đó là lối chữ tiểu khải, bởi vì ngòi bút muốn viết chữ nhỏ và đều trúng phép chữ khải”.
    (1) Chung, tức Chung-Diêu, người ở đất Dĩnh-xuyên đời Tam-quốc, tự là Nguyên-thường, cuối đời Hán đỗ hiếu-liêm làm chức Thị trung Thượng thư bộc-xạ, vào triều Ngụy làm quan đến chức Thái-phó, viết chữ rất khéo.
    (2) Họ Vương ở đây tức là Vương-Hy-Chi và Vương-Hiến-Chi.
    Vương Hy-Chi, người ở đất Cối-kê đời Tấn, tự là Dật-thiếu, làm quan đến chức Hữu-quân Tướng-quân, người đời gọi là Vương Hữu-quân, viết chữ rất khéo, học viết chữ ở bên ao, nước ao phải đen vì mực. Viết chữ thảo chữ lệ thì Cổ Kim không ai sánh bằng.
    Vương-Hiến-Chi, người ở đất Cối-kê đời Tấn, con của Vương-Hy-Chi, tự là Tử-kính, lúc trẻ làm châu-thừa, trải qua những chức Ngô-hưng Thái-thú, Trung-thư-lịnh, tính tình cao-siêu phong-lưu, viết chứ rất khéo, tuy không bằng cha. Người đời gọi hai cha con là Nhị Vương.
    (3) Trí-Vĩnh, Nhà sư ở chùa Vĩnh-hân-tự nước Trần thời Nam Bắc triều, hiệu là Vĩnh thiền-sư, người ở đất Cối-kê, họ Vương, dòng dõi của Vương-Hy-Chi, viết chữ rất khéo, viết lối chữ nào cũng tài, nhất là lối chữ thảo (Nguyên-tắc chép sai ra Trí-Cầu).
    (4) Ngu-Thế-Nam, đã chú ở trang trước.
    (5) Âu-Dương-Tuân, người ở đất Lâm-tương đời Đường, tự là Tin-bổn, làm quan cho nhà Tùy đến chức Thái-thường bác-sĩ, vào nhà Đường làm chức Cấp-sự-trung, Thái-tử suất canh lịnh, Hoàng-văn quán học-sĩ, phong Bột-hải nam, học viết chữ với Vương-Hy-Chi, nhưng nét chữ cứng và hiểm hơn của Vương-Hy-Chi.
    (6) Nhan-Chân-Khanh, người ở đất Cao-niên đời Đường, tự là Thanh-thần, học rộng, giỏi về từ-chương, viết loại chữ thảo chữa chính rất khéo, trong niên hiệu Khai-nguyên đỗ Tiến-sĩ, làm chức Thị-ngự-sử, Thái-thú Bình-nguyên, khởi bình dẹp giặc An-Lộc-Sơn. Khi Lý-Hy-Liệt làm phản, Nhan-Châu-Khanh đi hiểu-dụ bị Hy-Liệt ép phải đầu hàng. Ông bất khuất nên bị giết.
    (7) Hoàng-đình kinh, tên bộ kinh của đạo Lão. Vân kiếp thất tiêm có ba loại: Hoàng-đình nội cảnh kinh, Hoàng-đình ngoại cảnh kinh, Hoàng-đình tuần giáp duyên thân kinh, Hoàng-đình trung cảnh kinh, Hoàng-đình ngũ tạng lục phủ chân nhân ngọc trục kinh. – Hoàng là màu vàng ở trung-ương. Đình là chính giữa bốn phương, chỉ trong não, trong tim, trong tỷ, cho nên gọi là Hoàng-đình. Đó là sách dưỡng sinh của đạo-gia.