21.19 - Windyclover (type done)

13/8/15
21.19 - Windyclover (type done)
  • VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    QUYÊN VII

    7 – THƯ-TỊCH (sách vở)


    Sách Giải-nan chép: Nếu những thiên Nghiêu-điển, Thuấn-điển Đại-Vũ-mô, Cao-Dao-mô trong kinh Thư cùng với thinh-âm trong Tiểu-nhã, Đại-nhã Chu-tung, Thương-tung, Lỗ-tụng trong kinh Thi không ôn-hòa tinh-thuần thâm-thúy nhuần-nhã thì không đủ để biểu-dương công-nghiệp lớn-lao (1) mà làm rạng-rỡ đức sáng (2), bởi vì mùi vị lớn-lao tất phải lạt, thinh-âm vĩ đại tất phải thưa.

    Sách Trung-luận (3) của Từ-Cán (4) nói: “Ngày ngày luyện-tập thì học không quên. Tự gắng sức thì thân không sa-đọa. Thường nghe những lời nói lớn-lao trong thiên-hạ thì chí-hướng ngày một to rộng”.

    Ngũ kinh (kinh Dịch, kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ và kinh Xuân-thu) là sách của các bậc thánh-hiền nối nhau làm ra. Khi học thì đại nghĩa học trước, vật danh học sao. Đại nghĩa được vỡ lẽ thì vật danh được hiểu theo luôn.

    Đó là những lời nói nổi tiếng.

    Xưa có Lục kinh (kinh Dịch, kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Nhạc và kinh Xuân-thu).


    (1) Hồng liệt (hồng, to lớn; liệt, công nghiệp), công-nghiệp lớn-lao.

    (2) Tập hy, ánh sáng.

    (3) Trung-luận, tên sách, có 6 quyển, do Tử-Cán đời Hán soạn, sách của đạo nho, lời văn và ý nghĩa thanh-nhã đáng lưu-truyền trong đời.

    (4) Tử-Cán, người ở Bắc-hải nước Ngụy đời Tam-quốc, tự là Vĩ-trưởng. Ông có viết sách Trung-luận.

    182 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Kinh Nhạc mất ở Tần (Tần Thủy-Hoàng đốt sách) cho nên chỉ nói Ngũ kinh.

    Về sau lấy sách Chu-lễ và sách Nghi-lễ thêm vào làm Thất kinh (bảy bộ kinh) [1b]. Lại tăng thêm sách Hiếu-kinh, sách Luận-ngữ làm Cửu kinh (chín bộ kinh).

    Lại thêm sách Xuân-thu, Tam-truyện, sách Mạnh-tử, sách Nhĩ-nhã gọi là Thập tam kinh (mười ba bộ kinh).

    Từ thời nhà Tống các nhà nho đời trước đề cao sách Trung-dung, sách Đại-học, cùng sách Luận-ngữ, sách Mạnh-tử làm sách Tú-thư riêng (bốn bộ sách).

    Nhà Minh quy-định học-chế, lấy Tứ-thư (Đại-học, Trung-dung, Luận-ngữ, Mạnh-tử) và Ngũ kinh (Dịch, Thi, Thư, Lễ, Xuân-thu) cho cùng giảng dạy, còn những sách Hiếu-kinh, Nhĩ-nhã, Chu-lễ, Nghi-lễ thì không được dùng làm đề bài.

    Học-giả ít người có thể thông hiểu về huấn-cổ (1). Việc phế bỏ cổ kinh cũng không thể là không có lỗi.

    Ngũ kinh bị đốt ở nước Tần và được phục sinh lại dưới thời nhà Hán.

    Những nhà tiên (2) chú (3) thường thường lấy cái học của mình mà nổi tiếng, như Trịnh-Huyền, Khổng-Dĩnh-Đạt đã tập-hợp những lời nói của các bậc thánh-hiền làm thành quyển kinh vĩ đại (cũng như đã tập-hợp những khúc nhạc nhỏ làm thành khúc nhạc to).

    Từ khi sách Tập-truyện của Trình-Hiêu, Trình-Di và của Chu-Hy đời Tống ra đời thì những sách chú sớ (4) đời xưa đều bỏ hết,

    Nầy, đạo-lý đến đời Tống thì sáng tỏ trở lại.


    (1) Huấn-cổ. Huấn là giảng dạy, nói hình dáng của vật cho người ta hiểu biết. Cổ là giải-thích những lời nói khác nhau của đời xưa và đời nay.

    (2) Tiên, nêu rõ ý tứ của cổ-nhân hoặc lấy ý-kiến của mình mà phán-đoán khiến người ta phân-biệt được.

    (3) Chú, giải-thích nghĩa lý.

    (4) Sớ, dẫn giải cho thông nghĩa lý.


    QUYỂN VII 183


    Những thuyết của bốn phái nho học đời Tống là của Chu-Đôn-Di ở Liêm-khê, của ha anh em Trình-Hiệu Trình-Di ở Lạc-Dương, của Trương-Tái ở Quang-trung, và của Chu-Hy ở Mân-trung có những điều mới lạ mà từ xưa [2a] chưa phát-huy ra được, nhưng đã lấy ở những chú-thích xưa cũng đến sáu bảy phần mười.

    Sau cuộc tro tàn (nhà Tần đốt sách) một mảnh văn một mặt chữ được thu-thập lại, chú-thích lại truyền dạy cho nhau khiến cho hàng ngàn hàng trăm đời sau được nhờ đó mà thấy văn chương còn sót lại mà tìm hiểu được tâm trí của thánh-hiền, biết được ý-chí của tác-giả.

    Đó là công của các nhà nho đời nha Hán đời nhà Đường.

    Vua Thành-tổ (1403 -1424) nhà Minh sai các bề tôi nhà nho soạn Ngũ kinh Tứ-thư đại toàn.

    Về Mao-thi (1) thì lấy sách Thi kinh tập truyện của Chu-Hy làm chính.

    Về kinh Dịch thì lấy sách Dịch-truyện của Trình-Di và sách Chu-tử bản nghĩa làm chính.

    Về kinh Thư thì lấy sách Thư tập truyện của Thái-Trầm (2) làm chính.

    Về kinh Xuân-thu thì lấy sách Xuân-thu truyện của Hồ-An-Quốc (3) làm chính.

    Về kinh Lễ thì lấy sách Lễ ký tập thuyết của Trần-Hạo (4) làm chính.


    (1) Mao-thi, kinh Thi do Mao-công chú-thích giảng-giải, Mao-công tức Mao Hanh.

    (2) Thái-Trầm, người ở đất Kiến-dương đời Tống, tự là Trọng-Mặc, lúc nhỏ giao-du với Chu-Hy, về ẩn cư ở Cửu-phong, được người đời gọi là Cửu-phong tiên-sinh. Sách của ông soạn có: Thư tập truyện, Hồng phạm Hoàng cực nội thiên.

    (3) Hồ-An-Quốc, người ở đất Sùng-an đời Tống, tự là Khang-hầu, trong niên-hiệu Thiệu-thánh đỗ Tiến-sĩ, làm Thái-học bác-sĩ, trong thời vua Cao-tông, làm chức Trung-thư xá-nhân kiêm Thị-giảng. Ông có viết Xuân-thu truyện, Tư trị thông giảm cử yếu bổ di, Thượng thái ngữ lục.

    (4) Trần-Hạo, người ở đất Đô-xương đời Nguyên, tự là Khả-đại, hiệu là Vân-trang, một hiệu nữa là Bắc-sơn, học rộng, hảo cổ [ ], ở ẩn không ra làm quan, có soạn sách Vân trang Lễ ký tập thuyết.

    184 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Những tiêu-biểu của nho-thần nhà Minh quyết-định đã tinh-túy đến cùng cực không thể bàn luận gì được.

    Nhưng từ đời nhà Tống trở về trước, những phần sớ (dẫn giải cho thông nghĩa lý) chú (chú-thích) đều bỏ không dùng thì nghĩ cũng hẹp-hòi.

    Tôi trộm ước mong cho phu [ ] thêm phần chú xưa ở dưới sách tập truyện khiến người xem biết được cội ngọn để tra xét khi khảo-cứu, tuy tựa hồ phiền phức rườm-rà, nhưng cũng nhất nhất đều trở về quan-niệm xưa hầu cảm thấy đã gom tập được toàn thể mà làm thành những bộ kinh lớn-lao.

    [2b] Đời nhà Đường, những ai thông hiểu được kinh Xuân-thu tam truyện (1) và sách Nghi-lễ đều được trao cho chức Tản-quan (2).

    Đời xưa quý trọng người có học là như thế.

    Đầu đời Tống còn có các khoa Tiến-sĩ. Người thi đỗ đều có học-vấn chuyên-môn tinh-túy.

    Nhà Nguyên thì không có như thế.

    Ông Phó-Hàm đời Tấn kết tập những lời nói trong kinh truyện thành bài thơ thấy chép ở sách Sơ học ký (3) nay chép ra như sau:

    Bài thơ với những câu trong Hiếu kinh.

    I
    1) Lập thân hành đạo (4)

    [ ]

    2) Thủy ư sự thân

    [ ]


    (1) Tam truyện tức Xuân-thu tam truyệnXuân-thu Tả truyện, Xuân-thu Công dương truyệnXuân-thu Cốc-lương truyện.

    (2) Tản-quan, quan nhân tản rảnh-rang không có chức-vụ.

    (3) Sơ học ký, tên sách, có tất cả 30 quyển, do nhóm Tứ-Kiện đời Đường vâng sắc chỉ của vua soạn ra, chép phần trọng yếu trong văn-chương kinh sử, sắp theo từng loại, chia ra 26 bộ, 315 mục, phần đầu là kể chuyện, phần giữa là sự đối, phần cuối là thi-văn, trích từ những cổ-thư từ đời nhà Tùy trở về trước.

    (4) Hành đạo, thực-hành những điều mình đã học.


    QUYỂN VII [ ]

    3) Thượng hạ vô oán

    [ ]

    4) Bất ố ư nhân

    [ ]

    5) Hiếu vô chung thủy

    [ ]

    6) Bất ly kỳ thân

    [ ]

    7) Tam giả bi hĩ

    [ ]

    8) Dĩ làm kỳ dân (1)

    [ ]

    Dịch nghĩa

    1) Lập thân, thực-hành điều mình đã học.

    2) Bắt đầu ở việc thờ cha mẹ.

    3) Người trên kẻ dưới không ai oán giận.

    4) Thì không bị người ghét.

    5) Đạo hiếu trường cửu không có lúc khởi đầu và không có hồi chung dứt.

    6) Không lìa bản-thân mình.

    7) Hễ ba điều ấy được đầy đủ.

    8) Thì có thể (làm quan) trị dân.


    Dịch thơ

    Thực-hành điều học, lập thân.

    Bắt đầu thờ phụng ân cần mẹ cha.

    Dưới trên không oán, ắt là.

    Chẳng ai ghét giận chi ta ở lòng.

    Hiếu thì vô thủy vô chung,

    Chẳng xa lìa, cứ theo cùng bản thân.


    (1) Làm dân, trị dân.


    186 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Đã đầy đủ trọn ba phần,

    Ra làm quan chức trị dân yên lành


    II

    1) Dĩ hiếu sự quân [ ]

    [ ]

    2) Bất ly lịnh danh

    [ ]

    3) Tiến tư tận trung

    [ ]

    4) Nghĩa tắc bất tranh

    [ ]

    5) Khuông cứu kỳ ác

    [ ]

    6) Tai hại bất sinh

    [ ]

    7) Hiếu đễ chi chi

    [ ]

    8) Thông ư thần minh

    [ ]


    Dịch nghĩa

    1) Lấy đạo hiếu ra thờ vua.

    2) Thì không xa tiếng tốt.

    3) Ra làm quan thì lo cho hết lòng trung.

    4) Thì về nghĩa không ai tranh với mình nổi.

    5) Cứu gở những điều ác của vua.

    6) Thì tai-hại không phát sinh.

    7) Hiếu đễ đến cùng đột.

    8) Thì thông cảm đến thần linh.

    Dịch thơ

    Suy đạo hiếu thờ quân vương,

    QUYỂN VII 187


    Thì không xa tiếng hiền-lương rõ-ràng.

    Lo tận trung ra làm quan,

    Thì về nghĩa lý ngang hàng ai tranh ?

    Gở điều ác của vua mình,
    Thì tai hại chẳng phát sinh, hẳn là.


    Tột cùng hiếu đễ nơi ta,

    Thì thông cảm với gần xa thánh thần.


    Bài thơ với những câu trong Luận ngữ:

    I

    1) Thủ tử thiện đạo,

    [ ]

    2) Ma nhi bất lận.

    [ ]

    3) Trực tại Sử-Ngư

    [ ]

    4) Khả vị đại thần

    [ ]

    5) Kiến nguy thụ mệnh

    [ ]

    6) Năng tri kỳ thân

    [ ]

    Dịch nghĩa

    1) Giữ lấy cái chết vì đạo lành.

    2) Mài mà chẳng mòn.

    3) Chính-trực thay, Sử-Ngư ! (1)

    4) Có thể gọi là bề tôi trọng đại.


    (1) Sử-Ngư, Sử là tên chức quan. Ngư là tên. Quan Sử-Ngư tự cho mình không tiến-cử được người hiền và đuổi kẻ bất tiểu, khi sắp chết còn dặn con đem cái thây của mình khuyên can vua. (Vua truyền lịnh tẩn-liệm trọng hậu rồi theo lời ông Sử-Ngư, cử ông Cừ-Bá-Ngọc làm tướng mà bãi chức ông Di-Tử-Hạ). Cho nên Khổng-Tử khen là người ngay thẳng.

    188 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    5) Thấy nguy biến, nhận mệnh-lệnh.

    6) Có thể hy-sinh bản thân.

    Dịch thơ

    Giữ cái chết vì đạo hay,

    Mài mà chẳng thấy mảy may mòn nào.

    Sử-Ngư chính trực anh hào !
    Thật là đáng gọi tiết cao đại thần.


    Thấy nguy nhận mệnh minh quân.

    Hy-sinh vì chúa, vong thân chẳng nài.

    II

    1) Khắc kỷ phục lễ

    [ ]

    2) Học ưu tắc sĩ

    [ ]

    3) Phú [3a] quý tại thiên

    [ ]

    4) Vi nhân tại kỷ

    [ ]

    5) Dĩ đạo sự quân

    [ ]

    6) Tử nhi hậu dĩ

    [ ]


    Dịch nghĩa

    1) Kềm chế lấy mình mà trở về lễ giáo.

    2) Học giỏi thì ra làm quan.

    3) Giàu sang là ở trời định-đoạt.

    4) Làm điều nhân là ở mình.

    5) Lấy đạo nghĩa thờ vua.

    6) Đến chết mới thôi.


    QUYỂN VII 189

    Dịch thơ

    Trở về kiềm chế mình,

    Học mà tài giỏi thì thành chức quan.

    Do trời quyết định giàu sang,

    Còn điêuf nhân nghĩa mưu toan ở mình.

    Thờ vua lấy đạo trung trinh,

    Dẫu cho đến chết lòng thành mới thôi.


    Bài thơ với những câu trong Mao thi:

    I

    1) Vô tương đại xa

    [ ]

    2) Duy trần minh minh (1)

    [ ]

    3) Tế tế đa sĩ

    [ ]

    4) Văn vương dĩ ninh (2)

    [ ]

    5) Hiến doãn quân tử (3)

    [ ]

    6) Đại du thị kinh (4)

    [ ]


    Dịch nghĩa

    1) Chớ phụ đẩy chiếc xe to.

    2) Bụi bùn sẽ làm cho mình tối-tăm.

    3) Được kẻ hiền sĩ đông nhiều như thế.


    (1) Thiên Vô tương đại xa, phần Tiểu-nhã trong kinh Thi (nguyên bản chép thiếu 2 chữ ...tương đại...).

    (2) Thiên Văn-vương, phần Đại-nhã trong kinh Thi.

    (3) Câu nầy, ở thiên Trẫm-lộ [ ] thuộc phần Đại-nhã trong kinh Thi.

    (4) Câu nầy ở thiên Tiểu-mân [ ] thuộc phần Tiểu-nhã trong kinh Thi.

    190 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    4) Văn-vương mới được bình yên.

    5) Người quân-tử đáng tin cậy

    6) Lấy đường chính đại để thường noi theo.

    Dịch thơ

    Chớ nên phụ đẩy xe to,

    Bụi bùn đen tối làm cho dơ người.

    Được nhiều hiền sĩ đương thời,

    Bình yên mới thấy một đời Văn-vương.

    Đáng tin quân-tử hiền lương,

    Lấy đường chính đại để thường noi theo.

    II

    1) Duật tu quyết đức (1)

    [ ]

    2) Lịnh chung hữu xúc [ ] (2)

    [ ]

    3) Miễn nhĩ hà tư

    [ ]

    4) Ngã ngon duy phục

    [ ]

    5) Đại ngôn khổng cam [ ] (3)

    [ ]

    6) Kỳ hà năng thục (4)

    [ ]

    7) Sàm ngôn võng cực (5)

    [ ]


    (1) Câu nầy ở thiên Văn-vương thuộc phần Đại-nhã trong kinh Thi.

    (2) Câu nầy ở thiên Ký-túy thuộc phần Đại-nhã trong kinh Thi.

    (3) Câu nầy ở thiên Xảo-ngôn thuộc phần Tiểu-nhã trong kinh Thi.

    (4) Câu nầy ở thiên Tang-nhu thuộc phần Đại-nhã trong kinh Thi.

    (5) Câu nầy ở thiên Thanh-nhăng thuộc phần Tiểu-nhã trongkinh Thi.