21.20 Ngọc Sơn (type done)

10/8/15
21.20 Ngọc Sơn (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-MHU0Sk02QXZIVDg/view?pli=1

    QUYỂN VII

    8) Hữu thiển diện mục

    有靦面目

    Dịch nghĩa

    1) Thì hãy trau giồi đức hạnh.

    2) Cái chết lành của ngài trong tương-lai, thì nay đã bắt đầu rồi.

    3) Ngươi cố gắng nghĩ xa.

    4) Lời ta nói hãy phục tùng theo.

    5) Lời nói của đứa gian (đứa tiểu-nhân) rất ngon ngọt.

    6) Thì ai có thể làm yên lành được.?

    7) Lời kẻ sàm loạn thì không cùng không dứt.

    8) Ngươi có mặt có mắt cho người ta thấy được?


    Dịch thơ

    Đức hạnh ngài hay giồi trau,

    Từ nay định đoạt ngày sau chết lành.

    Xa-xôi lo nghĩ gắng tình,

    Phục tùng theo những lới minh thót ra.

    Ngọt ngon lời nói gian ngoa,

    Làm yên lành được rõ là những ai ?

    Lời sàm loạn vô cùng thay!

    Rành rành ngươi có mặt mày, người trông.


    Bài thơ với những câu trong Chu dịch:

    1) Ty dĩ tự mục (2)

    卑 以 自牧

    2) Khiêm nhi dũ quang (3)

    謙 而 愈 光


    (1) Câu nầy ở thiên Hà-nhân-tư thuộc phần tiểu nhã trong Kinh thi


    (2) Câu này ở quẻ Khiêm trong kinh Dịch,


    (3) Câu này lấy ý quẻ khiêm trong Kinh Dịch. 


    3) Tiến đức tu nghiệp (3)


    進德修業


    4) Ký hữu điển thường (4)


    旣有典常


    5) Huy quang nhật tân (5)


    輝光日新


    6) Chiếu vu tứ phương (6)


    炤于四方


    7) Tiểu nhân vật dụng (7)


    小人勿用


    8) Quân tử đạo trường (8)


    君子道長


    Dịch nghĩa

    1) Lấy sự thấp hèn để chăn giữ mình.

    2) Khiêm tốn thì càng vinh quang.

    3) Tiến-bộ về đức hạnh, tạo-lập công-nghiệp.

    4) Đã có phép thường.

    5) Rực-rỡ càng ngày càng mới.

    6) Soi chiếu khắp bốn phương.

    7) Chớ dùng đứa tiểu nhân.

    8) Đạo của người quân tử thì lớn lên.


    Dịch thơ

    Thấp hèn chăn giữ lấy mình

    Khiêm nhường thì được vinh quang đậm đà

    Đức tu, công nghiệp tạo ra,

    Phép thường sẵn có để mà tựa nương


    (3)Câu này ở phần Văn-ngôn trong kinh Dịch.

    (4) Câu nầy lấy ở phần Hệ-từ trong kinh Dịch.

    (5) Câu này lấy ở quẻ Đại súc trong kinh Dịch

    (6) Câu này lấy ý quẻ Ly trong kinh Dịch .

    (3) Câu này lấy ý quẻ Thái kinh Dịch. 


    Ngày thêm mới, sáng tỏ tường

    Chiếu soi ra tận bốn phương khắp vùng

    Tiểu nhân chớ có thu dùng

    Đạo người quân tử không cùng lớn lên.

    Bài thơ với những câu trong Chu quan (1)



    I

    1) Duy vương kiến quốc

    惟王建國

    2) Thiết quan phân chức

    設官分職

    3) Tiến hiền hưng công

    進賢興功

    4) Thì văn khổng cực!

    時文孔極

    5) Trừ kỳ bất quyên

    除其不蠲

    6) Vô cảm phản trắc

    無敢反側

    7) Dĩ đức chiếu tước

    以德詔爵

    8) Doãn trăn kỳ cực

    允臻其極

    (1) Chu quan, tức sách Chu Lễ, cũng gọi là Chu quan kinh


    Dịch nghĩa

    1) Vua dựng nước,

    2) Đặt quan chia chức,

    3) Tiến-cử người hiền tài, hưng công làm việc,

    4) Văn hóa lúc bấy giờ rất tột điểm.

    5) Trừ bỏ điều không trong sạch.

    6) Không ai dám phản trắc.

    7) Lấy đức hạnh mà ban cho tước lộc,

    8) Vô cùng thích đáng.


    Dịch thơ

    Đức vua đứng ra kiến quốc

    Đặt các quan, chia chức cho xong.

    cử hiền tài, lo hưng công,

    Bấy giờ văn hóa tột cùng sáng thay!

    Không trong sạch lo bài trừ dứt

    Theo đức hạnh, tước ban trao

    Thật là đích đáng, xiết bao bây giờ


    II

    1) Hạ kỳ khả nhiệm

    下其可任

    2) Dĩ cáo vu chính

    以告于正

    3) Chưởng kỳ giới cấm

    掌其戒

    4) Trị kỳ chính lịnh

    治其政令

    5) Các tu nãi chức

    各修乃職

    6) Dĩ thính vương mệnh

    各修乃職


    Dịch nghĩa

    1) Kẻ thần hạ nào có thể dùng được,

    2) Thi báo cho vị trưởng quan biết.

    3) Cho giữ việc răn cấm,

    4) Để thi-hành chính lịnh.

    5) Mỗi người đều lo chức vụ mình,

    6) Để nghe theo lệnh của vua.


    Dịch thơ


    Thần dân nào có thể dùng

    Báo cho quan trưởng để cùng rõ tin

    Việc răn cấm, để giữ gìn

    Để cho chính lịnh, thi hành nghiêm trang

    Chức vụ mình lo đảm đang

    Để nghe vương lịnh tuyên ban trong ngoài


    Bài thơ với những câu trong Tả Truyện

    1) Sự quân dĩ lễ

    事 君 以 禮

    2) Cảm bất tận tình

    敢 不 盡 情

    3) Kính phụng đức nghĩa

    敬 奉 德 義

    4) Thụ chi phong thinh

    樹 之 風 聲

    5) Chiêu đức tắc vi

    昭 德 塞 違

    6) Bất tổn kỳ doanh

    不 損 其 名

    7) Tử nhi lợi quốc

    死 而 利 國

    8) Dĩ vi kỷ vinh

    以 為 己 榮


    1) Lấy lễ thờ vua

    2) Dám đâu không tận tình?

    3) Kính vâng đức nghĩa,

    4) Dựng lấy phong tục và danh tiếng tốt.

    5) Làm sáng tỏ đức hạnh, ngăn chặn điều sai lầm

    6) Không tổn hại đến danh tiếng.

    7) Mình chết mà lợi cho nước

    8) Lấy đó làm vinh quang cho mình.



    Dịch thơ

    Lấy lễ thờ vua mình

    Dám đâu không tận tình?

    Kính vâng theo đức nghĩa

    Tạo lập lấy phong thinh

    Tỏ đức ngăn lầm lỗi

    Không thương hại thịnh danh

    Chết mà lợi đất nước

    Tự lấy làm quang vinh.


    II


    Dịch nghĩa

    1) Lòng này không sai lầm,

    2) Trung thành và có năng lực.

    3) Không làm điều gian tà siễm nịnh.

    4) Đó là lòng chính trực từ đời xưa còn sót lại.

    5) Những điều không ngay thẳng

    6) Chớ cho mọc lên.


    Dịch thơ

    Lòng chẳng có sai thắc (sai lầm),

    Trung thành và cố sức

    Không làm điều siễm tà

    Tự cổ lòng trung thực

    Những việc không đoan trang

    Chớ để mầm mọc nứt


    Vua Tuyên-đế nhà Hán lập ra kinh Xuân-thu do Cốc-lương thị truyện và kinh Thượng-thư (kinh Thư) do Hạ hầu Thắng truyện (làm sáng tỏ ý nghĩa trong kinh).



    Về việc này, Lưu Hâm (1) bảo: “Lỗi mà phế bỏ, thà lỗi mà lập ra”

    Âm-nhạc của Sư-Khoáng (2), dụng-cụ của Công-Thu (3), tài bắn cung của Do-Cơ (4), tài đánh xe của Vương-Lương (5), họ nổi tiếng ở đời với một nghề, xưa nay không ai sánh kịp vì họ rất tinh-luyện.

    Đọc kinh Thi kinh Thư mà không thể biết người, coi giữ âm-nhạc mà [4a] không nói được ý nghĩa thì có khác gì người chưa học?

    Trương-Hành (6) đời Hán nhận thẫy sau thời Trung- Lưu Hâm, người đời Hán, con của Lưu Hướng, tự là Tử Tuấn trong đầu niên hiệu Kiến Bình, đồi tên là Tú, tự là Dĩnh-Thúc lúc đầu học Dịch rồi Cốc Lương Tả-truyện. Trong thời vua Thành-đế cùng với Lưu-Hướng lỉnh chức Hiệu-bí-thư, sau khi Lưu-Hướng mất, lànhTrung-lũy hiệu-úy, lúc Ai-đế lên ngôi, được Vương Mãng cử làm Thị-trung Thái-trung đại phu, thăng Kỵ-đô-úy, bị đổi ra ngoài làm Hà-nội

    Thái-thú, khi Vương-Màng cầm quyền được phục chức Trung-lũy hiệu-úy, được phong Hồng-hưu-hầu, khảo định luật lịch, khi Vương-Mãngsoán ngôi, được làm Quốc-sư. Về sau Vương Mãng giết ba đứa con của Hâm. Lưu-Hâm âm mưu giết Vương-Mãng, việc bị bại lậu, Lưu-Hâm tự sát

    (1) Sư Khoáng, nhạc sư nước Tấn đời Xuân Thu tự là Tử Dã, có thể phân biệt thinh mà biết lành dữ. Ông có viết sách Cầm Kinh.

    (2) Công Thu, người thợ khéo tên Ban, người nước Lỗ, cũng gọi là Lỗ Ban, tổ sư nghề mộc.

    (3) Do-Cơ, họ Dưỡng, tên Do-Cơ, tay bắn giỏi, làm quan Đại-phu nước Sở đời Xuân-thu, đứng cách lá cây liễu một trăm bước,

    bắn trăm phát trúng trăm lần Nước Tấn nước Sở đánh nhau, Do-Cơ

    ra tài bắn cung, quân Tấn phải thua.

    (4) Vương-Lương, người đánh xe giỏi đời Xuân-thu, làm quan Đại-phu cho nước Tấn.

    (5) Trương-Hành, người ở đất Tây-ngạc đời Đông-Hản, tự là Binh-tử. làm văn rất giỏi, lúc ấy thiên-hạ thái-bình, chuộng xa xĩ. Trương Hành cấu tứ trong 10 năm mới thành bài Nhị kinh phú ngụ ý can ngăn. Ông lại tinh-thông thiên-văn lịch-số. 

    hưng các nhà nho tranh nhau làm sách Đồ-vĩ (1) bèn tâu lên vua rằng: « Hai cha con Lưu-Hướng (Lưu-Hưởng và Lưu- Hâm) xét định cửu lưu (2), cũng không thấy môn sấm lục (3), thì biết rằng lời đồ sấm (4) có từ đời Hán Ai-đế (6-1 trướcTây-lịch) và Hán Bình-đế (1-5 sau Tây-lịch) là của bọn người lừa dối bịp đời đề lấy lợi».


    Xét rằng: Lục kinh vĩ và Hiếu kinh vĩ là Thất vĩ

    (6 + 1=7) cộng chung được 35 thiên.

    Từ Tần Phù-Kiên nghiêm cấm, vè sau sấm tự mới dứt. Đời Đường đời Tống không còn ai biết đến sấm nữa.« Đến nay sách ấy đã mất. Trong sách Thuyết-phu soạn-giả chỉ thu-thập được mấy mươi thiên nhưng mà chương điều trùng điệp nhau, những điều thấy chép ở chú sớ thì sách này (Thuyết phu) đều không có.

    Tôi trộm nghĩ rằng vĩ thư (5) tuy không do tay thánh-hiền làm ra, cũng do tay các đại nho học rộng trích chọn những ký truyện của đời thượng-cổ để làm thành, không phải họa Hạ-Lương có thề sảnh kịp được. Trong cửu lưu của Lưu-Hưởng [4b] không có môn ấy.

    (1) Đồ vĩ, sách thuật số nói về những điều cảm ứng

    (2) Cửu lưu, chín học phái xuất hiện ở Trung quốc vào thời sau khi Khổng tử mất: 1) Nho-gia lưu. 2) Đạo gia lưu. 3) Âm Dương gia lưu. 4) Pháp-gia lưu. 5) Danh gia lưu. 6) Mặc gia lưu. 7) Tung-hoành gia lưu. 8) Tạp gia lưu. 9) Nông gia lưu.

    (3) Sấm lục, chép những lời sấm truyền báo việc ứng nghiệm về sau.

    (4) Đồ sấm (Đồ, Hà đồ, sấm, lời ứng nghiệm về sau) lời tiên tri sẽ ứng nghiệm về sau.

    (5) Vĩ Thư, sách mượn kinh nghĩa đề giảng về bùa chú điềm ứng-nghiệm cuối đời Tây-Hán. 

    Hoặc là sách chưa dâng vào Bí phủ (1).

    Vương-Mãng (2) xảo trá làm ra phù-mệnh (3) không liên can gì đến vĩ-thư cả.

    Điều mà đời Đông Hán gọi là xích phục phù (4) và hội xương phù đều liên-hệ đến những sách khác chớ không liên-hệ đến Thất-vĩ.

    Các nhà nho chỉ thích trích trong sách lại một lời hay một nửa câu thích hợp với tên vua tên quốc hiệu nhưng so sánh với văn lý thì thấy không thông.

    Khảo xét bài biểu khuyên vua Chiêu-liệt tiến binh ở phần Thạc-chi trong sách Tam-quốc thì có thể thấy lời lẽ rã-rời phụ hội không phải ý chỉ của vĩ thư

    (1) Bỉ-phủ, chỗ chỗ chứa cất những đồ dùng bi ký cung cấm.

    (2) Vương Mãng, người ở Đông Bình lăng đời Hán, tự là Cự Quân, vốn là cháu của Hiếu Nguyên Hoàng-hậu, trong đầu niên hiệu Vĩnh thủy, được phong Tân-đô-hầu, người khiêm cung hạ sĩ, về sau làmquan Đại Tư-mã cầm quyền chính, đã đón lập vua Binh-đế, cho con gái làm Hoàng-hậu, một mình nắm hết quyền chính của triều-đình, gọi là An Hán Công, được ban cửu tích, về sau thí vua Bình-đế, lập Nhụ-tử-Anh, nhiếp chính, xưng là Giả Hoàng-đế, rồi soán ngôi tự lập làm vua, đổi quốc hiệu là Tân, đổi gọi là Tân-Mãng. Pháp lệnh phiền phức hà khắc, dân sống chẳng yên. Hán Quang-Vũ khởi binh ở Thung lăng, đánh tan quân Vương Mãng ở Côn-dương, quân Hán tràn vào Trường-an. Vương-Mãng bị người lái buôn Đỗ-Ngu giết, làm vua được 15 năm.

    (3) Phù-mệnh, điềm báo trước bậc vua chúa nhận mệnh trời lên ngôi trị vì thiên hạ.

    (4) Xích phục phủ, điềm lành ứng về vua Hán Quang Vũ thu phục giang sơn nhà Hán để lên ngôi.