21.21 - Thế Anh ( type done )

15/9/15
21.21 - Thế Anh ( type done )
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-UGVfTzZIeWNEYWM/view?pli=1

    Nay xem sách Kiền khôn tạc độ (1) luận đến cửu cung bát quái có nhiều lời tinh-diệu sâu-xa, như nói: Dịch biến dịch dã [] [] [] []. Nghĩa là: Kinh Dịch là biến dịch, Trình-Tử và Chu-Tử đều cho là phải.

    Sách Thông quái nghiệm (2) chép: Chính kỳ bổn nhi vạn vật lý [] [] [] [] [] [] []. Nghĩa là: Gốc cội đúng thì vạn vật yên định.

    Sách Lễ-ký dẫn lời ấy mà nói: Còn những phép khác như nạn giáp (3), quái khí (4), thế ứng (5) thì họ Quách họ Kinh dùng để xem bói, đến nay linh-ứng không sai.

    Sách Hà đồ quái địa tượng chép [5a]: Sự huyền-bí của trời đất là Ngũ-hành (6), Ngũ-nhạc (7), Bát-phong (8), Cửu-

    -------------------------

    (1) Kiền khôn tạc độ, một loại sách Dịch-vĩ, có 2 quyển, phân làm 2 thiên, thượng và hạ, trích những vĩ văn rất khó hiểu..

    (2) Thông quái nghiệm, một loại sách Dịch-vĩ, có 2 quyển, quyển trên nói về cái lẽ khảo ứng, quyển dưới nói về ứng-nghiệm của quái khí.

    (3) Nạn giáp, lấy thập can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý) chỉ ra nạp vào bát quái (kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài), như kiền nạp giáp nhâm, khôn nạp giáp quý...

    (4) Quái khí, lấy những quẻ Dịch phân-phối vào khí-hậu của 12 tháng. Quái khí xuất phát từ Mạnh-Hy đời Hán, nhưng sách vở không lưu-truyền.

    (5) Thế ứng, thuật-ngữ về Dịch-học, nói hào của quẻ tương-ứng.

    (6) Ngũ-hành, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

    (7) Ngũ-nhạc, năm dãy núi cao nhất của Trung-quốc: Thái-sơn là Đông-nhạc, Hoa-sơn là Tây-nhạc, Hoắc-sơn là Nam-nhạc, Hằng-sơn là Bắc-nhạc, Tung-sơn là Trung-nhạc.

    (8) Bát-phong, gió ở tám phương: đông, tây, nam, bắc, đông-nam, tây-nam, đông-bắc, tây-bắc.

    -------------------------

    châu (1), Cửu-đạo (2), Tứ-duy (3), Tứ-độc (4) cùng với phía tây-bắc là Thiên-môn (cửa trời), phía đông-nam là Địa-hộ (cửa đất) mà các nhà nho bàn luận phần nhiều viện lẽ căn-cứ vào đấy.

    Sách Xuân-thu vĩ nói: Tinh tượng rất rõ-ràng.

    Sách ấy chép: Trời như cái trứng gà. Trời thì to, đất thì nhỏ. Trong ngoài đều có nước. Trời xoay chuyển như cái đùm bánh xe.

    Đó là thuyết Hồn-thuyên.

    Nhà vua coi trời như cha, cúng tế trời ở Viên khâu (gò tròn), xem đất như mẹ, cúng tế đất ở Phương-trạch (5).

    Đó là thuyết Nhị-giao.

    Sách Thượng thư vĩ chép: Đất có tứ du (1), đông tây thăng giáng không vượt quá ba vạn dặm (30.000).

    Sách Chính-mông của TrươngTử cũng cho đó là phải.

    Vòng trời có 365 độ và một phần tư độ (một độ là 1931 dặm).

    Họ Thái (tức Thái-Trầm) trong sách Thư truyện cũng cho là phải

    -------------------------

    (1) Cửu-châu, chín châu của Trung-quốc: Ký, Duyễn, Thanh, Từ, Duyên, Dương, Kinh, Dự, Lương, Ung.

    (2) Cửu-đạo, những con đường giao-thông ở chín châu.

    (3) Tứ-duy, bốn góc đông, nam, tây, bắc phối với kiền, khôn, cấn, tốn.

    (4) Tứ-độc, bốn con sông to của Trung-quốc đổ ra biển: Trường-giang, Hoàng-hà, sông Hoài, sông Tế.

    (5) Phương-trạch (phương, vuông; trạch, cái đầm), cái đầm vuông để tế Đất.

    -------------------------

    Những thuyết ấy đều đủ để giúp vào việc khảo-cứu và mở rộng điều nghe thấy và không thể cho là giả dối [5b] mà tước bỏ được

    Sau trận lửa hồng của nhà Tần đốt sách, sách cổ tản-mác đã lâu rồi. Cũng may là còn mấy thứ có thể khảo cứu.

    Há nên cho rằng nhất thiết chỉ có Lục-kinh là chính đáng mà không tin những sách khác hay sao?

    Theo sách Hiếu kinh vĩ, Khổng phu-tử giao sách Xuân-thu cho ông Thương (2), giao sách Hiếu-kinh cho ông Sâm (3) (để học-tập và truyền bá trong đời).

    Cái học của Kinh-Phòng (4) bắt nguồn ở Vĩ-thư.

    Bát quái tự dùng số riêng của mình. Trong Bát-thuần quái, từ hào sơ biến làm mỗ nhất thế cho đến hào ngũ. Hào thượng bất biến lại biến hào tứ làm du-hồn (5).

    Trở xuống dưới nội quái (6) biến hào tam làm quy hồn (7).

    -------------------------

    (1) Tứ-du: Lập-xuân tây du, Lập-hạ bắc du, Lập-thu đông du, Lập-đông nam du.

    (2) Thương tức Bốc-Thương, thầy Tử-Hạ, học-trò của Khổng-tử.

    (3) Sâm tức Tăng-Sâm, thầy Tăng-tử, học trò của Khổng-tử.

    (4) Kinh-Phòng, người ở đất Đốn-khâu đời Hán, tự là Quản-minh, giỏi âm-nhạc, chuyên về Dịch-học, về sau thi đỗ Hiếu-liêm làm chức lang, ra làm Ngụy thái-thú, truyền cái học về Dịch cho Ân-Gia, Diêu-Bình và Thừa-Bình, do đó về Dịch có cái học của Kinh-Phòng. Sách của ông soạn có Kinh thị Dịch truyện.

    (5) Du-hồn, vật tích tụ cùng cực thì phân-tán, lúc sắp phân-tán, linh-hồn trôi nổi lìa khỏi vật hình mà cải biến, sinh biến là chết, thành biến là hư thối.

    (6) Nội quái, một quẻ Dịch (6 hào) do hai quẻ đơn hợp lại, quẻ ở dưới gọi là nội quái (quẻ ở trong), quẻ ở trên gọi là ngoại quái (quẻ ở ngoài). Thí-dụ quẻ Thái [], quẻ kiền [] ở dưới là nội quái, quẻ khôn [] ở trên là ngoại quái.

    (7) Quy hồn, âm hồn trở về. Chu Dịch có quẻ Quy hồn.

    -------------------------

    Đó là một quẻ biến ra tám quẻ khác hẳn với thứ-tự trong kinh Dịch.

    Lại dùng Lục-thần, Lục-giáp phối-hợp vào Thập nhị chi (tý, sửu, dần, mão... ) và Thập-can (giáp, ất, bính, đinh... ).

    Xem một quyển Dịch-lược của Kinh-Phòng thì thấy việc khảo-cứu về biến chiêm thật tinh tường, xưa nay tương truyền ứng-nghiệm rất nhiều không thể là dối trá được.

    Kinh-Phòng ở vào đời Hán Nguyên-đế (48_33 trước Tây-lịch) [6a] theo học ông Tiêu-Diên-Thọ (1).

    Ông Diên-Thọ lại ở vào thời vua Tuyên-đế (73_49 trước Tây-lịch).

    Đấy là Vĩ-thư lưu-truyền đã lâu rồi mà bảo bắt đầu từ đời vua Ai-đế (6_1 trước Tây-lịch) vua Bình-đế (1_5 sau Tây-lịch) thì có thể được không?

    Dịch học của Kinh-Phòng lấy hào sơ (hào đầu tiên từ dưới lên trên) cai quản 10 ngày thượng tuần, lấy hào nhị (hào thứ 2 từ dưới lên trên) cai quản 10 ngày trung tuần, lấy hào tam (hào thứ 3 từ dưới lên trên) cai quản 10 ngày hạ tuần.

    Quản-tử (2) thật có tài giúp vua, sách của ông uyên-thâm vi-diệu, tinh-trí, sáng-sủa, đứng-đắn, có điều-lý, có thực-dụng về kinh-tế rõ-ràng bày ra trước mắt.

    -------------------------

    (1) Tiêu-Diên-Thọ, người ở đất Lương đời Hán, tự là Diên-Thọ, trong thời vua Hán Chiêu-đế làm chức Lịnh ở Thiếu-hoàng, có nhiều thành-tích về chính-trị, được đổi đi nơi khác, nhưng nhân dân cảm mến xin lưu ông ở lại. Kinh-Phòng học Dịch với ông Diên-Thọ, Diên-Thọ học Dịch với ông Mạnh-Hy.

    (2) Quản-Tử, tức Quản Di-Ngô, Quản-Trọng người đời Xuân-thu, đã giúp Tề Hoàn-công làm nên nghiệp bá (Xem chú ở trước).

    -------------------------

    Những thiên luận về trị đều có nguồn gốc.

    Thiên Nội-nghiệp luận về chính-trị có nói tâm phải lặng lại trùng hợp với sách Đại-học.

    Đọc cho chín mấy thiên sách Quản-tử liền cảm thấy lòng mình hòa hợp thông suốt với việc đời, hoàn-toàn khác hẳn với lúc chưa đọc.

    Tô-Đông-pha nói: «Cái thuật của Quản-Tử giống như của Thương-Ưởng (1), lời nói của Quản-Tử giống như của Hàn-Phi (2)».

    Tô-Đông-pha chê Quản-Tử [6b] như thế là quá lắm.

    Quản-Tử, ở trên thì nói về kỷ-cương của trời và đất, ở dưới thì xét về tâm-tình của người và vật, làm sáng tỏ đạo-đức, hoài bão nhân nghĩa, gồm cả danh lẫn thực mà không lỗi về kỳ quái, làm tỏ-tường hình pháp mà cuối cùng trở về trung hậu.

    Xét về ý chỉ của Quản-Tử thì thấy nào khác gì với của vương đạo (3).

    Những thuyết của Hàn-Phi và của Trương-Ưởng lại

    -------------------------

    (1) Thương-Ưởng, công-tử dòng thứ của nước Vệ đời Chiến-quốc, họ Công-tôn, thích cái học về pháp-luật, làm tướng cho Tần Hiếu-công định biến pháp-lịnh, lập chính-sách phú-cường, được phong ở đất Thương, hiệu là Thương-quân, làm tướng cho nhà Tần trong 10 năm, ngoài đường không ai nhặt của rơi, nhưng dùng pháp-luật quá nghiêm khiến hàng quý-thích đại-thần nhiều oán-hận, khi Hiếu-công mất ông bị án tử-hình cho xe liệt phanh thây.

    (2) Hàn-Phi, đã chú ở trước.

    (3) Vương-đạo, lấy đức cảm-hóa người mà thống-nhất cả nước. Bá-đạo là lấy sức ép người mà làm lãnh-tụ chư-hầu.

    -------------------------

    thiên trọng về hình-pháp và hư danh không bao-quát há lại chỉ cách xa với Quản-Tử mà thôi hay sao?

    Quản-Tử học-vấn thuần-chính, kể việc đơn-giản tóm-tắt vì là người có tài cao, kiến-thức siêu-việt, trong lòng thốt ra không điều gì là không chí-lý.

    Văn-khí của Hàn-Phi-Tử không phải là không hùng vĩ khôi-kỳ, nhưng mà đầu tiên thì nói đạo-đức rồi cuối cùng quay về hà-khắc, lời nói thốt ra rồi thì không còn mùi vị gì vương theo nữa, thật là không giống nhau với của Quản-Tử.

    Sách Quản-Tử (1) đáng nghi-ngờ là người đời sau có bắt chước chép thêm vào, không phải toàn sách là của Quản-Tử soạn ra, như chép:

    - Vua nước Sở thích cái eo thon của phụ-nữ (lưng ong) mà người đẹp trong nước [7a] bớt ăn bớt uống (cho eo lưng được thon).

    - Vua nước Ngô thích kiếm khách mà kẻ-sĩ trong nước xem nhẹ cái chết.

    Thời thế đều không ứng hợp.

    Quản-Tử làm tướng nước Tề, căn-bản sự-nghiệp của ông chỉ ở một thiên Nội-nghiệp. Trong một thiên ấy chẳng qua là bốn chữ nội tĩnh ngoại kính [] [] [] []. Nghĩa là: ở trong thì điềm tĩnh, ở ngoài thì cung kính.

    -------------------------

    (1) Quản-Tử, tên sách, có tất cả 24 quyển, sách xưa đề là Chu-Quản-Trọng soạn, nhưng trong sách chép nhiều việc sau đời Quản-Tử vì người đời sau có chép phụ thêm vào, nguyên bổn có 86 thiên, nay mất 10 thiên.

    -------------------------

    Tăng-Củng (1) nói văn của Lão-Tử (2) thì giản-cổ, văn của Liệt-Tử (3) thì hòa-hoãn, văn của Trang-Tử (4) thì kích-liệt.

    Lời bình-phẩm này rất thích-đáng.

    Trang-Tử có nhiều lời buồn đời giận thế, còn những điều hoang-đường sai-lạc thì mượn đấy để phát-biểu lời nghị-luận của mình.

    Chu-Tử khi viết sách, khi truyền lời dạy bảo chưa từng không cho Lão-Tử là dị-đoan.

    Dương-Quy-Sơn nói: «Sách Luận-ngữ gọi Lão-Bành là Lão-Tử».

    Sách Lão-Tử có năm ngàn lời là những lời tự-nhiên nói ra, có thể nói Lão-Tử không có làm (chỉ thuật lại lời của người mà thôi).

    [7b] Chu –Tử nói: «Chỉ lấy đoạn nói về lễ số trong thiên Tăng tử vấn chứng-minh việc đó thì việc Lão-Tử chỉ thuật lại chớ không có làm và chỉ tin theo cùng thích theo xưa đều có thể thấy được.

    -------------------------

    (1) Tăng Củng, người ở đất Nam-phong đời Tống, tự là Tử-Cố, trong niên-hiệu Gia-hựu đỗ Tiến-sĩ, làm chức Trung-thư xá-nhân. Ông có soạn sách Nguyên phong loại cảo.

    (2) Lão-Tử, họ Lý, tên Nhĩ, tự là Bá-dương, tên thụy là Đam, làm quan Trụ hạ sử đời nhà Chu, người nước Sở, sống vào khoảng cuối năm 570 và đầu năm 400 trước Tây-lịch. Ông soạn ra sách Đạo đức kinh còn truyền lại ở thế.

    (3) Liệt-Tử, một triết-gia đời Chiến-quốc, theo chủ-nghĩa của Lão-Tử và Trang-Tử, không quản việc đời, thích an-nhàn thảnh-thơi.

    (4) Trang-Tử, tên Chu, tự là Tử-hưu, sống đồng thời với Lương Huệ-vương và Tề Tuyên-vương, làm chức lại, lấy chủ-nghĩa yếm-thế dạy đời, có nhiều tư-tưởng cao-siêu phóng-đạt.

    -------------------------

    Lão-Đam làm sử-quan nhà Chu coi giữ sử sách của quốc-gia và sách của Tam-hoàng (1) Ngũ-đế (2).

    Như sách Lão-Tử có năm ngàn lời hoặc cũng có câu nói ấy và do Lão-Tử truyền lại cũng chưa có thể biết được, bởi vì Liệt-Tử dẫn sách của Tam-hoàng Ngũ-đế, tức là chương Cốc thần bất tử (3) trong sách Lão-Tử (4).

    Sách Đạo-đức kinh có năm ngàn lời là sách sửa nước trị đời.

    Tử-Do nói: «Đạo của Lão-Tử trong sách Đạo-đức kinh lấy thanh tĩnh vô vi làm tôn chỉ, lấy hư vô ứng vật làm công dụng, lấy từ ái cần kiệm không cạnh-tranh làm hạnh-kiểm».

    Đấy là chỉ kể ra phần đại-lược chớ không thể nói hết ý chỉ của quan Trụ-hạ-sử (5) Lão-Đam được.

    Trong Đạo-đức kinh, Lão-Tử có những câu:

    - Tuyệt thánh khí trí dân lợi bách bội [] [] [] [] [] [] [] []. Nghĩa là: Dứt óc sáng-suốt bỏ trí thông-minh thì dân được lợi gấp trăm lần.

    -------------------------

    (1) Tam-hoàng: 1) Thiên-hoàng, Địa-hoàng và Nhân-hoàng. 2) Toại-nhân, Phục-hy và Thần-nông. 3) Phục-hy, Thần-nông và Chúc-dung. 4) Phục-hy, Thần-nông và Nữ-oa.

    (2) Ngũ-đế: 1) Hoàng-đế, Chuyên-Húc, Đế-Cốc, Đường-Nghiêu, Ngu-Thuấn. 2) Thiếu-Hạo, Chuyên-Húc, Cao-Tân, Đường-Nghiêu, Ngu-Thuấn.

    (3) Chương Cốc thần bất tử trong sách Lão-Tử, nguyên bổn chép sai ra Quỷ cốc bất tử.

    (4) Lão-Tử, tức sách Đạo-đức kinh.

    (5) Trụ-sử tức Trụ-hạ-sử, chức quan đời nhà Chu cũng như chức Thị-ngự-sử đời nhà Hán, thường đứng hầu ở dưới cột điện. Lão-Tử làm quan Trụ-hạ-sử.

    -------------------------

    - Tuyệt nhân khí nghĩa dân phục hiếu từ [] [] [] [] [] [] [] []. Nghĩa là: Dứt điều nhân bỏ điều nghĩa thì dân sẽ hiếu thảo nhân từ trở lại.

    - Tuyệt lợi khí xảo [8a], đạo tặc vô hữu [] [] [] [], [] [] [] []. Nghĩa là: Dứt cái lợi ích, bỏ cái khéo-léo thì trộm-cướp không có.

    Đó là lời mà Lão-Tử cảm phát thốt ra.

    Ba câu trên đều quy về một câu sau đây: Đại phác ký tán, xảo lợi dũ đa, sở dĩ dũ sinh đạo tặc dã [] [] [] [], [] [] [] [], [] [] [] [] [] [] []. Nghĩa là: Tính chất-phác đã tiêu-tan hết thì cái khéo-léo cái lợi ích càng nhiều cho nên càng sinh ra trộm cướp.

    Mạnh-Tử đã nói một cách đau-đớn về lợi ích mà Chu-Tử cũng có bài Chuyết-phú (bài phú về tính-chất vụng-về), đều cùng một ý với những câu trên.

    Mềm yếu là kẻ sống còn, cứng mạnh là kẻ chết mất, lấy việc quốc-gia làm tỷ-dụ:

    - Vua Câu-Tiễn (1) nước Việt, Thát-Bạt (2) nước Ngụy

    -------------------------

    (1) Câu-Tiễn, vua nước Việt thời Đông-Chu bị vua nước Ngô là Phù-Sai bắt cả vợ chồng về nhốt trong ngục đá, và bắt đi chăn ngựa, sau giả vờ tận trung với vua Ngô mới được tha về nước. Để nuôi chí phục thù, Câu-Tiễn nằm gai nếm mật, mùa đông ôm giá, mùa hạ cầm lửa, lo tu binh mãi mã, chiêu-đãi hào-kiệt, dâng nàng Tây-Thi để mê-hoặc vua Ngô, cuối cùng rửa được quốc-thù, đem binh tràn vào và chiếm lấy nước Ngô.

    (2) Thát-Bạt-Khuê, tực Đại Vũ-đế nhà Hậu-Ngụy, ông nội làm Đại-công, khi nước Đại mất, Thát-Bạt-Khuê còn bé, nương theo mẹ và cậu sau được các bộ suy tôn làm Đại-vương và dựng lên nước Ngụy, đóng đô ở Bình-thành, dẹp yên các bộ-lạc Lưu-Hiển, đánh nước Yên, vây Trung-sơn, phá Mộ-Dung-Bảo, nhiều vũ công.

    -------------------------

    đã ẩn nấp không tranh đua, khi dấy lên thình-lình thì dũng-mãnh.

    - Vua Phù-Sai mất nước trước nước Tề nước Tấn.

    - Nước Thục Hán mất trước Ngô.

    - Doanh-Tần (1), Phù Kiên, Tùy Dượng-Đế (2) mới được hai đời thì mất.

    - Sài-Chu (3) mất trước nhà Nam-Đường.

    - Nhà Kim mất nước trước nhà Tống.

    Đại khái là như thế có thể nghiệm thấy được.

    Sách Âm-phù rất vi-diệu tinh-túy.

    Chu-Tử nói: «Không phải là người biết đạo thì không thể làm nổi. Cái học của Tô-Tần và Trương-Nghi [8b] chỉ là mò mẫm, chớ không phải ở sách nầy».

    Liệt-Tử (4) đương thời vua Uy-liệt-vương (425_403 trước

    -------------------------

    (1) Doanh Tần, nhà Tần họ Doanh, cho nên gọi là Doanh Tần.

    (2) Tùy Dượng-đế, con thứ của Tùy Văn-đế, tên Quảng và tên Anh. Vă-đế phế Thái-tử Dũng, lập Quảng làm Đông-cung Quảng bất nhân vô đạo, Văn-đế muốn truất-phế ngôi Đông-cung của Quảng. Quảng liền giết cha lên ngôi, xây cất xa-xỉ, sưu cao thuế nặng, các vị anh-hùng đều nổi lên chống đối mà Tùy Dượng-đế vẫn ham mê tửu sắc, về sau bị giết ở Giang-đô.

    (3) Sài-Chu tức Sài-Vinh, vua nhà Chu đời Ngũ-đại, thông hiểu sử-sách, có tài cai-trị, nối ngôi vua Thái-tổ lấy đất Tần, đất Lũng, dẹp yên Hoài-hữu lại lo lễ nhạc, định chế-độ sùng nho-giáo, bài Phật-giáo, dẹp chùa trong nước, phá tượng Phật lấy đồng đúc tiền, ở ngôi được 6 năm thì mất.

    (4) Liệt-Tử, tên sách, tất cả có 8 quyển, xưa đề là Liệt-Ngự-Khâu đời Chu soạn ra, được Trương-Thầm đời Tấn chú-giải. Lưu-Hướng nói cái học của Liệt-Tử vốn ở Hoàng-đế và Lão-Tử, lại nói hai thiên Mục-vươngThanh-vấn không phải là lời nói của người quân-tử. Sách nầy phần nhiều do người đời sau chen thêm vào.