21.22 - Thế Anh ( type done )

15/9/15
21.22 - Thế Anh ( type done )
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-ZW54d3QwT2dGTmc/view?pli=1

    Tây-lịch) văn thể đã hơi biến. Sách ấy thường đưa ra những lệ ngữ (1) như những câu:

    - Bất thí bất huệ nhi vật tự túc [][][][][][][][]. Nghĩa là: Không cho không ban ân và vật tự đủ dùng.

    - Bất tụ bất liễm nhi kỷ vô khiên [][][][][][][][]. Nghĩa là: Không chất chứa không thu vét mà mình không tội-lỗi.

    - Nhật nhật tiến cẩm y [][][][][]. Nghĩa là: Ngày ngày dâng áo gấm.

    - Tảo tảo tiến ngọc thực [][][][][]. Nghĩa là: Sáng sáng dâng hột ngọc, tức cơm trắng.

    - Tâm doanh thế sự [][][][]. Nghĩa là: Lòng lo việc đời.

    - Lự chung gia nghiệp [][][][]. Nghĩa là: Lo tu nghiệp nhà.

    - Đông cầu hạ cát [][][][]. Nghĩa là: Mùa đông thì mặc áo da, mùa hạ thì mặc áo gai.

    - Thủy chu lục xa [][][][]. Nghĩa là: Dưới nước thì đi thuyền, trên bộ thì đi xe.

    - Thinh chấn lâm mộc [][][][]. Nghĩa là: Thinh âm chấn động cây rừng.

    - Hưởng át hành vân [][][][]. Nghĩa là: Tiếng dội chận mây bay.

    - Y đoản hạt (2) hữu hồ hạc (3) chi ôn [][][][][][]

    --------------

    (1) Lệ ngữ, tức biền ngẫu đối nhau, Có từng cặp hai câu đối nhau.

    (2) Hạt, áo vải của người nghèo.

    (3) Hạc, một loài chồn, da dùng làm áo rất ấm.

    --------------

    [][]. Nghĩa là: Tuy mặc áo vải ngắn mà có sự ấm-áp của áo da chồn da cáo.

    - Tiến nhung-thúc hữu đạo lương chi vị [][][][][][][][]. Nghĩa là: Tuy ăn đậu thò mà có mùi vị của gạo nếp gạo kê.

    - Quân thần giai an [][][][]. Nghĩa là: Vua và kẻ bề tôi đều yên.

    - Vật ngã giai lợi [][][][]. Nghĩa là: Vật và ta đều lợi.

    Văn-thể ấy khác hẳn với sách Tả-truyện và sách Quốc-ngữ.

    Trong Tả-truyện chỉ có một câu đối ngẫu như thế :

    - Sào vẫn chư Phàn [][][][]. Nghĩa là: Cái ổ rơi ở đất Phàn.

    - Hôn tường tại Ngô [][][][]. Nghĩa là: Người giữ cửa bị sát hại tại nước Ngô.

    Liệt-Tử và Trang-Tử là những người lánh đời ở ẩn, ăn nói phóng-túng, nhưng tóm lại, Liệt-Tử có thần vận, Trang-Tử [9a] có khí cách.

    Trang-Tử nói: « Nầy, tâm-tình con người ta, mắt muốn trông được sắc thật đẹp, tai muốn nghe tiếng thật hay, miệng muốn ăn vị thật ngon, mũi muốn ngửi mùi thật thơm, lòng muốn thật thong-thả. Năm điều cực sướng thích ấy, tâm tình con người ta không thể khỏi được.

    Nuôi dưỡng năm điều cực sướng thích ấy thì phải có tài-năng. Không có tài-năng thì không thể được năm điều cực sướng thích ấy.

    Cho nên bậc vua sáng tất nhiên trước hết phải trị yên nước mình, rồi về sau trăm điều vui thú sẽ được ».

    Ôi! Nếu tin theo lời nầy, thì từ xưa trị nước lại là công-cụ để cầu dật-lạc thỏa tình dục hay sao?

    Đáp lời Ai-công, Khổng phu-tử nói : « Chính-trị của Văn-vương của Vũ-vương còn bày ở sách sử. Người còn thì chính-trị thi-hành, người mất thì chính trị dứt bỏ ».

    Tuân-Tử nói: « Pháp-chế không thể đứng một mình, việc không thể tự thi-hành, được [9b] người giỏi thì pháp-chế còn, mất người giỏi thì pháp-chế mất ».

    Nói như thế cũng là một ý ấy.

    Nhưng lời nói của thánh-nhân thì tự nhiên phẳng ngay.

    Tuân-Tử nói : « Hữu trị nhân, vô trị pháp » [][][][][][]. Nghĩa là: Chỉ có người làm nên cuộc an trị, chớ không có pháp-chế làm nên cuộc an trị.

    Lời nầy càng thấy cảm phát mạnh-mẽ.

    Hàn-Phi-Tử nói:

    « Nước Dĩnh có người viết thơ cho quan Tể-tướng nước Yên, viết thơ ban đêm mà tối lửa. Người cầm nến bảo: « Cử chúc» (đốt nến). Người viết thơ bèn viết lộn chữ cử chúc (đốt nến) vào trong thơ. Việc cử chúc (đốt nến) không phải là ý của bức thơ ấy. – Quan tể-tướng nước Yên nhận bức thơ, vui mừng bảo: « Cử chúc là đốt nến là chuộng sáng. Chuộng sáng là tiến-cử bậc hiền-tài mà dùng ».

    Quan Tể-tướng bèn trình lên vua. Vua cả mừng, cho tiến-cử người hiền-tài mà nước được trị. Nước được trị vì tiến-cử người hiền-tài không phải ý của bức thơ.

    Do đó có thể biết quan Tể-tướng nước Yên là người hiền-tài, lòng chân-thành ưa việc thiện, cho nên hễ mắt trông đến đều là chân cơ chí lý.

    Sách Lữ-thị Xuân-thu (1) nói về việc trị nước còn có chỗ đúng, lời lẽ tinh-thông sáng-sủa, ý nghĩa gọn-gàng tóm-tắt [10a] hơn hẳn sách Hoài-Nam-Tử.

    Sách Án-Tử Xuân-thu (2) có câu : Thánh nhân thiên lự tất hữu nhất thất. Ngu giả thiên lự tất hữu nhát đắc. [][][][][][][][].[][][][][][][][]. Nghĩa là: Người sáng nghĩ một ngàn điều ắt có một điều hỏng, Người ngu tối nghĩ một ngàn điều ắt có một điều nên.

    Lý-Tả-Xa (3) dẫn câu nầy.

    Sách Lữ-thị Xuân-thu có chép bài ca nhạc của thời Cát-thiên-thị (4), tám người lực-sĩ bắt bò, người thì giẫm chân, người thì nghị đuôi, người thì nắm sừng, làm náo-loạn mà hát bài Bát-chung, cung gọi là bài Tải-dân.

    --------------

    (1) Lữ-thị Xuân-thu, tên sách, cũng gọi là Lữ-lãm, có tất cả 26 quyển, xưa đề là Tần Lữ-Bất-Vi soạn, sự thật Lữ-Bất-Vi khiến các môn-khách làm ra, đại để lấy đạo nho làm chủ-yếu, có tham bác đạo gia, nhưng dẫn-chứng có nhiều chỗ sai lầm.

    (2) Án-Tử Xuân-thu, tên sách, có tất cả 8 quyển, không thể khảo-xét ai là soạn-giả, xưa đề là Án-Anh soạn, vì trong sách chép những việc về Án-Anh, có lẽ người đời sau góp nhặt thành sách và dựa theo đó biên là Án-Anh soạn. Sách Hán-chí chép là Án-Tử, liệt vào sách Nho-gia, nhưng sách Sử-kýTùy-chí đều gọi là Án-Tử Xuân-thu.

    (3) Lý-Tả-Xa, người đời Hán, đầu tiên làm quan nước Triệu được phong Quảng-vũ quân. Khi Hàn-tín và Trương-Nhĩ đánh nước Triệu, vua nước Triệu là Thành-An quân Trần-Dư không dùng kế của Lý-Tả-Xa cho nên bị hại. Hàn-Tín phá được nước Triệu, chiêu-mộ được Lý-Tả-Xa, dùng kế của Lý-Tả-Xa hạ những thành của nước Yên nước Tề.

    (4) Cát-thiên thị, hiệu vua đời xưa, không nói mà tự tin, không hóa mà tự hành.

    --------------

    Cao-Dụ (1) chú-thích:

    - Đầu túc [][] cũng như lạc túc [][] là động chân.

    - Tải dân [][] là nói bản nhạc tổng gộp muôn vật, là tên của tám thiên nhạc.

    Đầu túc theo ý của tôi tức là loại hát giậm chân của đời sau nầy.

    Sách Tố-thư (2) nói về đạo tu thân tiếp vật (sửa mình và tiếp-xúc với mọi vật ở ngoài).

    Sách Âm-phù (3) nói về sự huyền-bí của trời, đất, người và vật.

    --------------

    (1) Cao-Dụ, người đời Đông-Hán, làm chức Bộc-dương-lịnh, có soạn sách Hiếu kinh giải và chú-thích sách Chiến-quốc sách, Lữ-thị Xuân-thu, Hoài-Nam-Tử.

    (2) Tố-thư, tên sách, có 1 quyển, xưa đề là Hoàng-Thạch-Công soạn, Trương-Thương-Anh đời Tống đã chú thích, đại-ý lấy đạo-đức, nhân, nghĩa, lễ làm nhất thể. Trương-Thương-Anh lấy thuyết của Lão-Tử mà chú-thích. Nhưng bổn văn và chú văn cũng có nhiều chỗ như do một cây bút viết ra, cho nên có người nghi-ngờ rằng Trương-Thương-Anh soạn ra và ngụy-thác cho Hoàng-Thạch-Công.

    (3) Âm-phù-kinh, tên sách, có 1 quyển, xưa đề là Hoàng-đế soạn. Theo Kinh tịch chí trong Tùy-thư, loại sách về binh gia có Thái-công âm phủ kiềm lục, 1 quyển, Chu-thư âm phù 9 quyển. Theo Lịch đại sử chí, thì Chu thư âm phù là sách binh-thư, còn sách Âm phù kinh là sách đạo gia. Sách nầy nay được Thái-công, Phạm-Lãi, Quỷ-Cốc-Tử, Trương-Lương, Gia-Cát-Lượng, Lý-Tuyên chú thích.

    Sách Thái-công âm phù là sách đạo gia chớ không phải sách binh gia.

    Chu-Hy đời Tống có soạn sách Âm phù kinh khảo dị, 1 quyển, nói lúc ấy có những lời nói tinh thâm, nếu không phải là người sâu-sắc thì không thể viết sách ấy nổi.

    Hạ-Nguyên-Đinh có soạn sách Âm phù kinh giảng nghĩa 4 quyển với thuyết lấy đan-pháp giải-thích âm phù.

    --------------

    Sách Tam-lược (1) nói về thuật trị [10b] nước dùng binh.

    Về nghĩa lý thâm-trầm của sách xưa thì không sách nào hơn ba bộ nầy.

    Lưu-hầu (Trương-Lương) (2) học những sách này cho nên làm bậc thầy của vua mà thân-thế thanh-danh đều được thông đạt.

    Có người nói Trương Tử-Phòng chiêm-nghiệm thì cũng nông cạn lắm.

    Sách Hán-thư nói Trần-Bình (3) ham đọc sách, chuyên về cái thuật của Hoàng-đế và Lão-Tử, chỉ có ba mươi mẫu ruộng, và nói Trương-Lương chỉ có binh-pháp mà thôi.

    --------------

    (1) Tam-lược, tên sách, có tất cả 3 quyển, sách xưa đề là Hoàng-Thạch-Công soạn, đó là sách của Hoàng-Thạch-Công trao cho Trương-Lương ở trên cầu để học-tập. Nhưng lời văn trong sách không giống đời Tần đời Hán, có lẽ người đời sau đã ngụy thác ra.

    (2) Trương-Lương, người nước Hàn đời Hán, tự là Tử-Phòng, ông tổ 5 đời của Trương-Lương làm Tể-tướng nước Hàn. Khi nhà Tần diệt nước Hàn, Trương-Lương đem hết tiền của ra tìm người báo thù cho nước Hàn, được người lực-sĩ âm-mưu ám-hại Tần Thủy-hoàng ở Bạc-lăng-sa. Việc thất bại, Trương-Lương đổi tên họ trốn tránh ở Hạ-bì, học binh-pháp với Hoàng Thạch-Công, giúp Hán Cao-tổ diệt Hạng-Vũ, định yên thiên-hạ, được phong Lưu-hầu, học thuật tịch cốc của thần-tiên.

    (3) Trần-Bình, người ở đất Dương-vũ đời Hán, tự là Nhu-Tử, lúc trẻ nhà nghèo ham thích cái thuật của Hoàng-đế và Lão-tử, giúp Hán Cao-tổ định yên thiên-hạ được phong Khúc-nghịch-hầu. Khi Hiểu-Huệ đế lên ngôi, làm Tả Thừa-tướng. Khi Lữ-hậu mất, Trần-Bình và Chu-Bột lập mưu giết vây cánh của họ Lữ, lập Hiến-Văn đế, làm yên nhà Hán.

    --------------

    Đầu đời nhà Hán, nói về kinh Thi kinh Thư thì chỉ có Lục-Giả (1) mà thôi.

    Sách Tân-ngữ (2) của Lục-Giả rất là thuần-chính, có phải là môn-phái của Thất-thiên (3) chăng?

    Mỗi lần một thiên được tâu lên, Cao-tổ liền khen ngợi, cuối cùng đã mở đầu việc trau-giồi kinh Thi kinh Thư đời nhà Hán.

    Lục-Giả là người có tài giúp vua.

    Trần-Thắng (4) lúc mới khởi binh đã biết tìm dòng-dõi của thánh-nhân, đón Khổng-Phụ (5) tôn lên làm Thái-sư

    --------------

    (1) Lục-Giả, người nước Sở đời Hán, có tài biện-thuyết, theo Hán Cao-tổ định yên thiên-hạ, đi sứ Nam-Việt chiêu-dụ Triệu-Đà của Nam-Việt, khi trở về được phong Thái-trung đại-phu, phụng mệnh biên soạn duyên cớ nhà Tần thì mất nhà Hán thì hưng thành sách Tân-ngữ có 12 thiên, lúc Lữ-hậu cầm quyền, thác bịnh ở nhà về sau cùng Trần-Bình bày kế diệt trừ vây cánh của họ Lữ. Khi Hiếu Văn-đế lên ngôi, Triệu-Đà xưng đế, Lục-Giả lại đi xứ sang Nam-Việt chiêu dụ Triệu-Đà làm chư-hầu của nhà Hán.

    (2) Tân-ngữ, tên sách, do Lục-Giả đời Hán soạn

    (3) Thất-thiên, tức là sách Mạnh-Tử thất-thiên của Mạnh-Kha viết.

    (4) Trần-Thắng, người ở đất Dương-thành đời Tần, tự là Thiệp, đã khởi binh chống lại nhà Tần trong thời Tần Nhị-thế, các quận huyện đều theo về. Trần-Thắng tự lập làm Sở-Vương, thế lực rất bành-trướng, về sau bị tướng nhà Tần là Chương-Hàm đánh bại, và bị Trương-Giả giết để đầu hàng quân Tần.

    (5) Khổng-Phụ, người đời Tần, cũng gọi là Tử-Phụ, tự là Giáp, là Tử-Ngư, là cháu 9 đời của Khổng-Tử, thông hiểu lục nghệ, làm danh-sĩ ở nước Ngụy. Khi Tần Thủy-hoàng gồm thâu thiên-hạ, Khổng-Phụ được triệu làm Lỗ quốc Văn Thông quân, làm chức Thiếu-phó. Khi Lý-Tư đề nghị đốt sách. Khổng-Phụ giấu cất những sách Luận-ngữ, Thượng-thư, Hiếu-kinh trong vách ở ngôi nhà thờ của tổ-tiên, ẩn trốn ở núi Tung-sơn, về sau Trần-Thiệp (tức Trần-Thắng) khởi binh rước Khổng-Phụ làm Thái-phó. Khổng-Phụ thác bệnh lui về, mất ở nước Trần, có viết 20 thiên sách, gọi là Khổng-Tùng-Tử.

    --------------

    bác-sĩ. Tuy đại sự không thành nhưng Trần-Thắng cũng đáng gọi là có kiến-thức cao-siêu.

    Tiếc rằng việc nầy không được sử sách đề cao [11a], nay chỉ thấy ở trong sách Khổng-Tùng-Tử (1).

    Sách Thuyết uyển tân tự trích chọn những lời hay nết đẹp của đời Thượng-cổ trước thời-kỳ nhà Tần đốt sách với lời khuyên răn sáng tỏ đầy-đủ và lời nghị-luận thuần nhã không rườm-rà không tạp-nhạp, như của thiên-tử ở dưới nhà lớn trên nệm êm (2) có thể khảo-xét được.

    Sách Hàn thi ngoại truyện (3) trưng-dẫn cũng nhiều danh-ngôn (4) cách-luận (5), nhưng có hơi phiền tạp không được thuần-túy như sách nầy (Thuyết-uyển).

    Dương Tử-Vân (tức Dương-Hùng) sưu tập những lời nói lạ của nước khác làm sách Phương-ngôn có 15 quyển,

    --------------

    (1) Khổng-Tùng-Tử, tên sách, có tất cả 3 quyển, xưa đề là Khổng-Phụ soạn, chép những lời nói của Khổng-Tử, Tử-Thượng, Tử-Cao, Tử-Thuận được 20 thiên, lại có những bài phú của Khổng-Tang phụ thêm ở cuối quyển.

    Chu-Hy bảo văn khí trong sách Khổng-Tùng-Tử yếu đuối không giống như của thời Tây-Hán.

    (2) Sách Hàn thi ngoại truyện có câu : Thiên-tử cư quảng hạ chi hạ, duy trường chi nội, chiên nhân chi thượng [][][][][][][][][][][][][][][]. Nghĩa là Vua ở dưới nhà lớn, ở trong màn trướng, ở trên thảm nệm.

    (3) Hàn chi ngoại truyện, tên sách, có tất cả 10 quyển do Hàn-Anh đời Hán soạn. Hàn-Anh suy ý của nhà thơ trong kinh Thi làm Nội-truyện Ngoại-truyện. Nội-truyện đã thất-lạc từ lâu, nay chỉ còn Ngoại-truyện. Sách nầy dẫn những cổ sự cổ ngữ chứng-minh bằng lời lẽ trong kinh Thi.

    (4) Danh-ngôn, lời nói hay, lời nói đúng.

    (5) Cách-luận, như cách-ngôn, loài nói đứng-đắn có thể làm phép-tắc.

    --------------

    được Lưu-Hâm khen rằng : « Nếu không có tài điềm-đạm, nếu không có ý thâm-trầm thì không thể có tinh-nhuệ lâu năm để hoàn-thành sách nầy được ».

    Trọng-Trường-Thống (1) và Tuân-Duyệt (2) đều là thuần nho đời Hán, sách Xương-ngôn (của Trọng-Trường-Thống soạn) và sách Thân-giám (của Tuân-Duyệt soạn) đều kể rõ sự tình, trương bày tiếng-tăm về đạo-đức và thực công về trị nước yên dân không trái với đạo-đức nhân nghĩa. Do đó có thể biết được Trọng-Thường-Thống và Tuân-Duyệt đều có tài học vè kinh bang tế thế.

    [11b] Sách Hoài-Nam-Tử nói : « Sức của vua Kiệt có thể bẻ nổi sừng hươu, duỗi ngay nổi cái móc, kéo nổi sắt làm dây, hút nổi vàng » .

    Người viết sách Ngoại-kỷ chép sai ra : Năng thân câu sách [][][][]. Nghĩa là: Có thể kéo ngay nổi dây xích sắt.

    Nhà nho đời Hán xuyên-tạc, lại lấy đoạn năng thân thiết câu [][][][] (nghĩa là : Có thể kéo ngay cái móc) làm một câu, đem chữ sách [] cho thuộc về đoạn văn ở dưới thành câu Sách phạt Hữu-Thi thị [][][][][] (Nghĩa là : Tìm kiếm tội-lỗi của họ Hữu-Thi mà đánh để trừng-trị).

    --------------

    (1) Trọng-Thường-Thống, người ở đất Cao-bình đời Đông-Hán, tự là Công-lý, lúc trẻ ham học, tính ngay thẳng dám nói, người ít nói, người đời cho là cuồng-sinh, có viết sách Xương-ngôn.

    (2) Tuân-Duyệt, người ở đất Dĩnh-xuyên đời Đông-Hán tự là Trọng-Dự, 12 tuổi đã thuộc kinh Xuân-thu, nhớ dai, tính trầm tĩnh, ưa viết sách, trong thời vua Hán Hiến-đế, làm chức Thị-giảng trong cung cấm, rồi đổi làm Bí-thư Giám-thị-trung, lúc ấy quyền chính về tay Tào-Tháo, nhưng chí của Tuân-Duyệt vẫn trung-thành với nhà Hán, cho nên mưu kế không được dùng, bèn làm 5 thiên sách Thân-giám, lại y theo thể Tả-truyện làm 13 thiên sách Hán-kỷ, lời gọn, việc rõ, biện-luận nhiều điều hay đẹp.

    Giải nghĩa cưỡng ép đến như thế.

    Hoài-Nam-Tử nói : « Bá-Nha cổ cầm nhi tứ mã ngưỡng mạt» [][][][][][][][][]. Nghĩa là : Bá-Nha đánh đàn rất hay khiến con ngựa đang ăn phải phun lúa ra ngẩng đầu lên cười (1).

    Chú:

    Ngưỡng tức ngẩng đầu, nói con ngựa cười.

    Hoài-Nam-Tử nói : « Hồ-Ba cổ sắt nhi du ngư xuất thính» [][][][][][][][][]. Nghĩa là : Hồ-Ba đánh đàn sắt thì con cá đang lội phóng lên nghe.

    Chú:

    Ba, người nước Sở vốn đánh đàn sắt rất hay, có con cá lặn dưới nước dài hơn trượng phóng lên mặt nước mà nghe.

    Liệt-Tử nói : « Hồ-Ba cổ [12a] sắt nhi điểu vũ ngư dược » [][][][][][][][][]. Nghĩa là : Hồ-Ba đánh đàn sắt thì chim múa cá nhảy.

    Tôn-Khanh-Tử nói: « Hồ-Ba cổ sắt, du ngư xuất thính » [][][][][][][][]. Nghĩa là : Hồ-Ba đánh đàn sắt thì con cá lội phóng lên nghe,

    Hoài-Nam-Tử nói : « Sở quốc vong kỳ viên nhi lâm cầu vị chi tàn » [][][][][][][][][][][]. Nghĩa là : Nước Sở mất con vượn mà rừng cây phải tàn rụi vì cuộc tìm kiếm.

    Chú :

    Làm rừng cây tàn rụi vì tìm kiếm con vượn.

    --------------

    (1) Dịch theo lời giải nghĩa chữ ngưỡng mạt trong từ điển Từ-hải.