21.23 - Thế Anh ( type done )

15/9/15
21.23 - Thế Anh ( type done )
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-VjJYajJtc0xIUjQ/view?pli=1

    Bách gia thư chép: Tống thành môn thất hỏa, nhân cấp trì thủy dĩ quán ốc chi, trì chung không kiệt ngư tất lộ [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] []. Nghĩa là: Cửa thành nước Tống bị lửa cháy, vì người ta múc nước hào tưới lửa, trong hào cạn nước, cá đều lộ ra cả.

    Đỗ-Bật nước Ngụy làm bài hịch kể tội nước Lương, lời lẽ gốc ở đây.

    Nhan-Chi-Thôi nói: «Sách Thái sử công ký có câu: Ninh vi kê khẩu, vô vi ngư hậu [] [] [] [] [] [] [] [] . Nghĩa là: Thà làm mỏ gà, chớ không thèm làm đít bò (1). Đó là cách dùng câu trong sách Chiến-quốc sách (2).

    Sách Chiến-quốc sách âm nghĩa của Diên-Đốc chép: Thi, kê trung chi chủ, tùng, ngưu tử [] [] [] [] [], [], [] [] . Nghĩa là: Thi là phần chủ-yếu trong con gà, tùng là con bò con.

    Như thế thì chữ khẩu [] đổi ra chữ thi [], chữ hậu [] đổi ra chữ tùng [].

    Đó là thói tục viết sai.

    [12b] Khoái-Triệt tâu với Hán Cao-tổ rằng: Chích chi cẩu phệ Nghiêu, Nghiêu phi bất nhân, cẩu cố phệ phi kỳ chủ

    -------------------------

    (1) Kê khẩu ngưu hậu, thà làm mỏ gà chứ không làm đít bò. Mỏ gà tuy bé mà là chỗ nuốt đồ ăn, còn đít bò tuy to mà là chỗ xuất phân.

    (2) Chiến-quốc sách, tên sách, gọi tắt là Quốc-sách, cũng gọi là Đoản trường thư, Lưu-Hướng đời Hán sưu-tập những việc mà các nước chép trong thời Chiến-quốc trước lúc nhà Tần đốt sách, chia ra Tây-Chu, Đông-Chu, Tần, Sở, Yên, Tề, Tam Tấn, Tống, Vệ, Trung-sơn, tất cả 12 nước, gọi là Chiến-quốc sách. Tư-Mã-Thiên viết sách Sử-ký chọn lấy lời văn của Chiến-quốc sách rất nhiều.

    -------------------------

    [] [] [] [] [], [] [] [] [], [] [] [] [] [] []. Nghĩa là: Con chó của thằng ăn trộm Chích sủa vua Nghiêu. Vua Nghiêu không phải là bất nhân mà chó sủa. Chó sủa vua Nghiêu, vì vua Nghiêu không phải là chủ của nó.

    Đó toàn là dùng Chiến-quốc sách, chỗ Điêu-Bột nói với Điền-Đan.

    Sách Luận-Ngữ (1) chép việc Công-Dã-Tràng bị giam trong ngục mà không phải là ông có tội.

    Sách Quảng-bác vật-chí chép: Công-Dã-Tràng nghe được tiếng chim, nhà nghèo, ở không, không lấy gì mà nuôi sống. Có con chim bay đến nhà ông kêu lên rằng: «Ở núi nam có con cọp tha con dê đến đấy, hãy mau đến đấy mà lấy».

    Y theo lời chim, Công-Dã-Tràng đi đến trong núi, quả nhiên lấy được con dê.

    Đến khi người mất dê dò theo dấu tìm thấy sừng dê, cho là Công-Dã-Tràng ăn trộm dê, thưa lên quan.

    Vua nước Lỗ bắt Công-Dã-Tràng giam vào ngục. Đức thánh Khổng phu-tử của ta có biện-bạch cho Công-Dã-Tràng mà cũng không gỡ cho khỏi tội.

    Chưa bao lâu, chim sẻ lại kêu ở nhà ngục rằng: «Người nước Tề xâm-lăng biên-cương hãy mau chống ngăn chúng» Viên giữ ngục bẩm lên vua Lỗ. Vua Lỗ không tin, chỉ theo lời mà dò xem thì được [13a] biết quân Tề quả đã tiến đến, bèn sai Công-Dã-Tràng phát binh chống giặc được thắng trận.

    -------------------------

    (1) Luận-ngữ, tên sách, chép lời của Khổng-Tử ứng đáp với các học-trò cùng với người đương thời và những lời của học-trò của Khổng-Tử hỏi đáp lẫn nhau. Khi Khổng-Tử mất rồi, các học-trò sưu-tập lại và biên thành sách gọi la Luận-ngữ hay Lỗ-luận.

    -------------------------

    Do đó vua Lỗ tha cho Công-Dã-Tràng, ban tước và cho làm quan Đại-phu.

    Ông không nhận những ban thưởng ấy vì thẹn mình được tước lộc nhờ loài cầm-thú.

    Về sau ông bỏ cái học nghe tiếng chim.

    Việc nầy giống như chuyện của người nhà quê ở miền đông nước Tề, e rằng không phải là chuyện thật.

    Thiên Cảo-chí trong sách Đại Đái lễ (1) chép: Khổng-Tử nói với vua Ai-công rằng: «Lịch đời nhà Ngu, nhà Hạ, tháng giêng chuôi sao Bắc-đẩu chỉ cung Mạnh-dần, lúc ấy nước đá mới tan, côn-trùng mới tỉnh dậy, các loài cây cỏ mới bắt đầu mọc mầm đâm tượt (2), thụy trĩ (3) kêu không trái thời-tiết, vạn vật cùng với sao Tuế (4) đều sinh ở phương đông để thuận bốn mùa rồi dứt ở đông phận. Lúc ấy gà gáy ba lần và cuối cùng trời sáng với thinh âm và màu sắc, tuần tự 12 tháng thời-tiết dứt vào tháng sửu, tức tháng chạp (5). Ngày tháng đầy đủ thành một năm.

    Trải qua năm năm thì nhuận một lần để thuận đạo trời.

    Đó gọi là Ngu kế nguyệt.

    -------------------------

    (1) Đại Đái lễ, tên sách, cũng gọi là Đại Đái ký, do Đái-Đức nhà Hán biên chép.

    (2) Nguyên văn: Bách thảo quyền dư. – Quyền dư là nói cỏ cây bắt đầu mọc mầm đâm tượt.

    (3) Thụy trĩ, Chim trĩ báo điềm lành.

    (4) Tuế-tinh, tức Mộc-tinh, người đời xưa tin rằng sao Tuế một năm đi một thứ, xoay trọn một vòng trời trong 12 năm.

    (5) Đến tháng giêng thì chuôi sao Bắc-đẩu chỉ cung dần, suy ngược lên thì tháng chạp chuôi sao Bắc-đẩu chỉ cung sửu.

    -------------------------

    Thiên (trời) nói là Tác minh nhật dữ, duy thiên thị đái (nghĩa là: Làm ra ánh sáng ngày ngày, chỉ đội trời lên đầu).

    Địa (đất) nói là Tác xương nhật dữ duy [13b] địa thị sự (nghĩa là: Làm cho vạn vật thịnh-vượng dồi dào ngày ngày chỉ lo làm việc cho cuộc đất).

    Nhân (người) nói là Tác lạc nhật dữ, duy nhân thị hi (nghĩa là: Làm vui thích ngày ngày, chỉ có người là vui chơi).

    Đấy gọi là trong ngoài hợp nhau với mọi vật sinh ra và cái đạo phồn-thịnh dồi dào như thế.

    Trời làm ra người, đất làm cho giàu có, người làm ra thịnh-trị, vui cuộc thịnh-trị mãi mà không chán mỏi, của-cải thuế-má hợp thời-tiết.

    Nay chọn lấy phần Ngoại-kỷ xén gọt quá nhiều khiến cho văn-chương không thấu-triệt được.

    Sách Sơn-hải-kinh nói: Trên núi ở Hấp-châu có con chim năm màu ngẫng lên trời, gọi là minh-điểu, cho nên mới có phong tục Bách nhạc ca tiên.

    Phần Ngoại-kỷ nói vua Chúc-Dung nghe tiếng chim-điểu để làm nhạc ca, là trích lấy đoạn văn nầy.

    Sách Lữ-thị Xuân-thu chép: Ninh-Thích (1) muốn cầu gặp vua Hoàn-công nước Tề, vì khốn cùng không lấy gì để tiến đạt mình, mới làm khách thương [14a] đi kéo xe cho người đến nước Tề, chiều tối ngụ ở ngoài cửa thành.

    Tề-Hoàn công ra đón khách ở ngoài xa, ban đêm mở

    -------------------------

    (1) Ninh-Thích, Người nước Vệ, thời Xuân-thu.

    -------------------------

    cửa thành, đuổi kẻ kéo xe thuê, đèn đuốc sáng choang, kẻ theo hầu rất đông-đảo.

    Ninh-Thích đang cho bò ăn ở dưới xe, xa trông thấy Tề Hoàn-công bèn buồn-bã gõ sừng bò mà vội hát.

    Sách Văn-tuyển chú:

    Thương là khúc ca.

    Bài hát ấy của Ninh-Thích như sau:

    1) Nguyệt xuất đông phương hề, lệ thạch ban.

    [] [] [] [] [] [] [] []

    2) Thượng hữu tùng bách hề, thanh thả lan.

    [] [] [] [] [] [] [] []

    3) Thô bố y hề, lũ uẩn,

    [] [] [] [] [] []

    4) Thời bất ngộ hề, Nghiêu Thuấn.

    [] [] [] [] [] []

    5) Ngưu hề, nỗ lực thực tế thảo.

    [] [] [] [] [] [] []

    6) Đại thần tại nhĩ trắc,

    [] [] [] [] []

    7) Thả dương dữ nhĩ thích Sở quốc.

    [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Mặt trăng mọc ở phương đông, đá mài lấp lánh.


    2) Ở trên cây tùng cây bách xanh tốt lại thơm tho.


    -------------------------

    3) Mặc áo vải thô bằng chỉ gai,

    4) Không gặp thời, không gặp được vua Nghiêu vua Thuấn.

    5) Bò ơi, rán sức ăn cỏ mọn.

    6) Vị đại-thần đan ở một bên ngươi.

    7) Sẽ phải cùng ngươi đi qua nước Sở.

    Dịch thơ

    Trăng lên đông, đá mài lấp-loáng,

    Tùng bách đều tươi-tắn thơm xanh.

    Chỉ gai áo vải một manh,

    Thuấn Nghiêu chẳng gặp, thời đành dở-dang.

    Mớ cỏ mọn, rán ăn bò hỡi!

    Vị đại-thần hiện tại bên ngươi

    Kíp sang nước Sở cho rồi.


    Bởi vì: Ninh-Thích là người nước Vệ.

    Thương là tiếng kim, trong-trẻo cho nên lấy thương làm ca khúc.

    Ứng-Thiệu (1) lại nói: «Tề Hoàn-công đang đêm ra đón khách, Ninh-Thích gõ sừng bò cao tiếng hát:

    1) Nam-sơn tha-nga, bạch thạch lạn, (2)

    [] [] [] [] [] [] []

    -------------------------

    (1) Ứng-Thiệu người ở đất Nhữ-Nam đời Đông-Hán, tự là Trọng-Viễn, họcrộng, nhiều kiến-văn, trong thời vua Hán Linh-đế làm Thái-thú Thái-sơn. Lúc ấy bắt đầu dời đô về đất Hứa, điển-chương đều thất-lạc, Ứng-Thiệu viết sách Hán quan lễ nghi cổ sự, chế-độ của triều đình phần nhiều noi theo đó. Ông có soạn sách Phong tục thông, Trung Hán tập tự.

    (1) Lạn, tươi sáng.

    -------------------------

    2) Sinh bất phùng Nghiêu dữ Thuấn thiện.

    [] [] [] [] [] [] []


    3) Đoản bố đan y thích chí cán (1)

    [] [] [] [] [] [] []


    4) Tùng hôn phạm ngưu bạc dạ bán

    [] [] [] [] [] [] []


    5) Trường dạ [14b] minh minh hà thì đán?

    [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Núi Nam cao vòi-vọi, đá trắng tươi sáng.

    2) Sống không gặp thời vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn.

    3) Vải ngắn áo đơn đến ống chân.

    4) Từ tối đến nửa đêm cho bò ăn.

    5) Đêm dài tăm-tối bao giờ trời sáng?

    Dịch thơ

    Đá trắng phao núi Nam hiểm tuấn,

    Không gặp thời Nghiêu Thuấn truyền ngôi.

    Áo đơn vải ngắn phủ đùi,

    Cho bò ăn cỏ, tối trời đến đêm.

    Bao giờ trời sáng trong đêm đằng-đẵng?

    Bài hát nầy khác với bài hát trước.

    Trâu-vương dâng thư lên vua nước Lương rằng: «Thân-Đồ-Địch xuống sông trầm mình».

    -------------------------

    (1) Cán, xương ống chân từ đầu gối đến bàn chân.

    -------------------------

    Phục-Kiền chú:

    Thân-Đồ-Địch là người đời nhà Ân.

    Hàn thi ngoại truyện chép: Thân-Đồ-Địch ghét đời sắp trầm mình xuống sông. Thôi-Nghĩa hay được, ngăn lại. Thân-Đồ-Địch bảo: «Vua Kiệt (1) giết Long-Phùng, vua Trụ (2) giết Tỷ-Can mà mất thiên hạ, vua nước Ngô (3) giết Ngũ-Tử-Tư, vua nước Trần giết Tiết-Dã mà mất nước.

    Cho nên tan nhà mất nước không phải là không có bậc thánh trí, nhưng có bậc thánh trí mà không dùng vậy thôi!».

    Nói xong Thân-Đồ-Địch ôm đá trầm mình ở sông.

    Về thời-đại thì khác với lời chú của Phục-Kiền.

    Việc nầy lại thấy ở sách Trang-Tử và sách Lữ-lãm (4) nhưng lời chú đều không nói Thân-Đồ-Địch là người đời nào.

    Thiên Khảo công ký trong sách Chu-lễ chép: Ngồi mà bàn luận đường lối chính-trị, đó là chức Tam-công. Lập đường lối chính-trị mà thi-hành, đó là chức [15a] sĩ đại-phu.

    Dương-Ngung đời Hán cũng dẫn điều này.

    -------------------------

    (1) Hạ-Kiệt, vua cuối đời nhà Hạ, tên Quý, bạo ngược hoang dâm vô độ, bị vua Thành-Thang đánh bại ở Minh-điểu và đuổi ra Nam-sào. Nhà Hạ mất.

    (2) Thương-Trụ, vua cuối đời nhà Thương, con của Đế-Ất, tên Thụ-Hạnh, tự là Thụ-đức, dũng lực hơn người, mẫn tiệp giỏi biện luận, thích rượu háo sắc, bạo ngược vô đạo bị vua Vũ-vương nhà Chu đánh bại, tự thiêu mà chết. Nhà Thương mất.

    (3) Tức Ngô Phù Sai

    (4) Lữ-lãm, tức sách Lữ-thị Xuân-thu.

    -------------------------

    Sách Thuyết-uyển chép: Vua Nghiêu gặp vua Thuấn mà bóng dâu chưa dời chuyển. Vua Văn-vương nhà Chu cử Ông Thái-công mà ngày chưa tối. Cho nên bậc thánh-hiền tiếp-xúc nhau không chờ lâu mới thân nhau.

    Sách Quảng bác vật chí chép: Vua Nghiêu gặp ông Thuấn ở phía nam Phục-trạch, ngoảnh mặt về phía nam nói chuyện với ông Thuấn, ngồi ở Long-điệt dưới bóng mát cây dâu. Bóng dâu chưa chuyển dời mà vua Nghiêu hiểu được tâm chí của ông Thuấn.

    Hai thuyết nầy đủ để bổ-khuyết cho sách Sử-ký.

    Ngụy-Vô-Tri cháu nội của Công-tử Vô-Kỵ, sử nhà Hán không chép được phong ở đất nào.

    Sách Hậu Ngụy thư tự truyện chép: Cao-đế phong làm Cao-lương-hầu [] [] [].

    Sách Đường thư thế hệ biểu lại chép là Lương-hầu [] [], không biết căn cứ ở đâu.

    [15b] Trong bài Trị an sách của Giả-Nghị có câu: Người giết bò tên Viên một buổi sáng xẻ mười hai con bò.

    Sách Tô lâm ký chép: Viên là người cùng một thời với Khổng-Tử.

    Nhan-Sư-Cổ chú: Việc nầy thấy ở sách Quản-Tử.

    Dưới thời Hán Vũ-đế, Tam-lão Mậu dâng thư, mà sử của họ Ban (tức Hán-thư) không chép của họ Mậu.

    Tuân-Duyện chép là Lịnh-Hồ-Mậu.

    -------------------------

    Theo sách Hán-thư, Quý-Bố (1) nói: «Quân Hung-nô vây Cao-đế ở Bình-thành, Phàn-Khoái (2) không giải vây nổi.

    Thiên-hạ hát về việc ấy rằng:

    «Bình-thành chi hạ diệc thành khổ

    [] [] [] [] [] [] []

    «Thất nhật bất thực bất năng cấu nổ.

    [] [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    (Binh-sĩ) dưới Bình-thành cũng thật là khổ,

    Bảy ngày không ăn thì giương nỏ không nổi.

    Dịch thơ

    Khổ thay quân sĩ Bình-thành!

    Không ăn bảy bữa, nỏ đành chẳng giương.

    Nay tiếng hát nầy vẫn chưa dứt.

    Sách Thông-giám xén cắt câu hát nầy, cho nên lời nói không được minh bạch.

    -------------------------

    (1) Quý-Bố, người thời Sở Hán tranh hùng, làm tướng cho Hạng-Vũ lắm lần làm cho Hán Cao-tổ khốn cùng. Khi Hạng-Vũ mất rồi, Quý-Bố cạo đầu xiềng cổ bán mình ở Lỗ Chu-gia. Lỗ Chu-gia nói với Đằng-công khuyên Hán Cao-tổ tha tội cho Quý-Bố. Hán Cao-tổ triệu Quý-Bố cho làm chức lang.

    (2) Phàn-Khoái, người ở đất Bái đời Hán, đầu tiên sống với nghề làm thịt chó, sau theo vua Hán Cao-tổ khởi binh, lắm lần lập chiến-công, được phong Hiền thành quân, Hán Cao-tổ nhập quan, muốn ở trong cung thất nhà Tần, Phàn-Khoái can ngăn mới trở về Bá-thượng. Hạng-Vũ với Hán Cao-tổ gặp nhau ở Hồng-môn, Phạm-Tăng muốn giết Cao-tổ, Phàn-Khoái cầm thuẫn sấn vào chê cười Hạng-Vũ, Hán Cao-tổ thoát nạn. Hán Cao-tổ lên ngôi, phong Phàn-Khoái tước Vũ-dương hầu.