21.24 - Thế Anh (type done)

15/9/15
21.24 - Thế Anh (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-LW9BTlEwY1Q3aFU/view?pli=1

    Theo sách Hán-thư, năm đầu niên hiệu Nguyên-phong (109 trước Tây-lịch), cỏ chi (1) mọc ở trai phòng (phòng đọc sách) cung Cam-tuyền (2). Có bài hát rằng:

    1) Trai phòng sản [16a] thảo

    [] [] [] []

    2) Cửu hành liên diệp

    [] [] [] []

    3) Cung đồng (3) hiệu (4) dị

    [] [] [] []

    4) Phi đồ án điệp (5)

    [] [] [] []

    5) Huyền khí (6) chi tinh

    [] [] [] []

    6) Hồi phục thử đô

    [] [] [] []

    ----------------------

    (1) Chi, loại cỏ thần, một thứ nấm mọc trên cây khô, sách Bổn-thảo nói có sáu loại cỏ chi: xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, tía, người xưa cho là loại cỏ báo điềm lành, uống cỏ chi sẽ thành tiên, cho nên gọi là linh chi.

    (2) Cam-tuyền cung, cung Cam-tuyền ở trên núi Cam-tuyền sơn huyện Thuần-hóa, tỉnh Thiểm-tây, cũng gọi là cung Vân-dương và cung Lâm-quang, vốn là Ly-cung của nhà Tần, Hán vũ-đế lại xây cất thêm những cung Thông-thiên, Cao-quang, Nghinh-phong, để mỗi năm tránh nắng hạ ở đấy.

    (3) Cung đồng, tớ trẻ tuổi ở trong cung.

    (4) Hiệu, nguyên bản chép sai ra [], đúng là [].

    (5) Án điệp, nguyên bản chép sai ra [] [], đúng là [] [].

    (6) Huyền khí, không khí, khí trời.

    ----------------------

    7) Man man nhật mậu

    [] [] [] []

    8) Chi sinh linh hoa

    [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Ở trai phòng mọc thứ cỏ,

    2) Chín cộng liền lá.

    3) Cung đồng cho là điềm lạ-lùng.

    4) Mới mở đồ án ra xem.

    5) Biết đó là tinh anh của huyền khí

    6) Đã trở lại chốn ấy.

    7) Mọc lan ra ngày thêm rườm-rà.

    8) Cỏ chi sinh ra hoa thơm.

    Dịch thơ

    Cỏ chi mọc ở trai phòng,

    Sởn-sơ chín cộng liền cùng lá tươi.

    Cung đồng: Điềm lạ trên đời,

    Mở toang đồ án xét coi đành rành,

    Biết là huyền khí tinh anh,

    Tụ về chốn ấy, phúc lành trở sang.

    Rườm-rà ngày cứ mọc lan,

    Cỏ chi đơm kết rõ-ràng hoa thiêng.

    Trong niên-hiệu Thái-thủy thứ 3 (94 trước Tây-lịch), vua Vũ-đế nhà Hán đi chơi ở Đông-hải bắt được chim nhạn đỏ, mới làm thơ rằng:

    ----------------------

    1) Tượng tái du (1) bạch tập tây (2).

    [] [] [] [] [] []

    2) Thực cam lộ, ẩm vinh tuyền.

    [] [] [] [] [] []

    3) Xích nhạn tập lục phân viên (3).

    [] [] [] [] [] []

    4) Thù ông (4) tạp ngũ thái văn.

    [] [] [] [] [] []

    5) Thần sở hiện, thi phúc chỉ.

    [] [] [] [] [] []

    6) Đăng Bồng-lai, hạo vô cực.

    [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Chiếc xe đẹp-đẽ màu trắng chạy về phương tây.

    2) Người trên xe ăn móc ngọt, uống suối vinh.

    3) Chim nhạn đỏ đậu lại sáu con rất nhiều.

    4) Lông ở cổ lạ-lùng có năm màu chen lộn.

    5) Thần ứng hiện, ban cho phúc lành.

    6) Thần lên núi Bồng-lai lớn rộng vô cùng.

    Dịch thơ

    Xe trắng đẹp về tây rong chạy,

    Cam lộ ăn, uống lấy suối vinh,

    ----------------------

    (1) Du, dáng đẹp-đẽ.

    (2) Tra sách Từ-hải, mục Tượng tái du, thấy nguyên bản chép thiếu 3 chữ bạch tập tây.

    (3) Phân viên, dáng rất nhiều.

    (4) Thù ông, lông lạ lùng ở cổ chim.

    ----------------------

    Sáu chim nhạn đỏ xinh xinh.

    Năm màu lông cổ tinh anh lạ-lùng.

    Phúc ban cho, thần cùng hiện xuất.

    Lên Bồng-lai rộng thật vô cùng.

    Người trong niên-hiệu Nguyên-đỉnh thứ 5 (112 trước Tây-lịch) người ta được cái đỉnh ở Phần âm (phía nam sông Phần) bèn làm bài thơ rằng:

    1) Cảnh tinh (1) hiển hiện

    [] [] [] []

    2) Tín tinh (2) bưu liệt

    [] [] [] []

    3) Tượng tái chiêu đình

    [] [] [] []

    4) Nhật quan dĩ sát

    [] [] [] []

    5) Tham mâu (3) khai hạp (4)

    [] [] [] []

    6) Viên suy bổn kỷ (5)

    [] [] [] []

    ----------------------

    (1) Cảnh-tinh, sao Cảnh-tinh, hình-trạng vô thường xuất hiện ở nước có đạo-đức.

    (2) Tín-tinh tức sao Thổ-tinh hay sao Trấn-tinh.

    (3) Mâu, đồng đẳng, ngang bằng nhau.

    (4) Khai hạp (dương mở ra thì sáng, âm đóng lại thì tối) tức Kiền-khôn, âm dương, trời đất.

    (5) Bổn kỷ, trong lịch-sử phần chép những việc của đế-vương.

    ----------------------

    7) Phần thư xuất đỉnh

    [] [] [] []

    8) Hoàng hựu nguyên thủy.

    [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Sao Cảnh-tinh hiển hiện.

    2) Sao Tín-tinh bày ra rực-rỡ.

    3) Đã thành hiện tượng rạng-rỡ ở vương đình.

    4) Trông hằng ngày để xem xét.

    5) Cùng tham dự ngang hàng với trời đất.

    6) Bèn suy tầm ở phần Bổn-kỷ.

    7) Cái đỉnh xuất hiện ở đất Phần-thư,

    8) Là cái phúc đầu tiên của Hoàng-gia.

    Dịch thơ

    Cảnh-tinh hiển-hiện trên trời,

    Tín-tinh đã thấy rạng-ngời bày ra.

    Vương đình hiện-tượng sáng lòa.

    Hằng ngày trông thấy để mà xét soi.

    Ngang hàng tham dự đất trời.

    Suy tầm Bổn-kỷ các đời đế vương.

    Phần-thư đỉnh hiện rõ-ràng.

    Đầu tiên phúc lớn của hoàng-đế gia.

    Bài thơ nầy có phong cách thời Tiên-Tần (Thời kỳ trước lúc Tần Thủy-hoàng đốt sách).

    Sách Binh chí nhà Hán không có, không phải Ban Mạnh-Kiên (Ban-Cố) vì sót mà bỏ qua không chép.

    ----------------------

    Việc binh chuộng thần-bí và cẩn-mật. Phép tắc [16b] khôn khéo đều không lộ ra để người ta nghe thấy.

    Cho nên Công-tôn-Hoằng (1) chú thích sách Át-kỳ kinh (2) có nói: «Từ đời cận cổ đến nay, bản văn về binh-thư không đầy một thước, phần nhiều là truyền miệng dạy bảo nhau».

    Huống chi chức Xa kỵ tướng quân (3) và chức tài quan (4) do nhà Hán đặt râ đều không mất cái ý tứ đời xưa truyền lại là Ngụ binh ư nông (nghĩa là = Gởi quân vào việc làm ruộng), hàng năm đều có thi về vũ-bị và lấy binh-pháp xử lý, khi hữu sự thì trưng-tập điều-động, xuống hổ-phù (5) mà tham-nghiệm xem-xét.

    Đại-khái là như thế, không phải tùy theo thời mà cải biến như đời Đường đời Tống trở về sau, cho nên nhà chép sử không chép.

    ----------------------

    (1) Công-tôn-Hoằng, người ở đất Tiết đời Hán, tự là Quý-Tề, lúc trẻ làm ngục-lại, có tội bị miễn chức, nhà nghèo phải đi chăn heo, năm hơn 40 tuổi mới học Xuân-thu tạp-thuyết, lúc đầu đời vua Hán Vũ-đế, làm bác-sĩ. Vua xuống chiếu trưng dụng người có văn-học, Công-tôn-Hoằng vào đối sách, được tuyển đệ-nhất, đổi làm chức Thừa-tướng, được phong làm Bình-tân-hầu, bổng lộc đều đem ra đãi tân khách, còn mình thì ăn gạo lứt. Bề ngoài thì lành, trong lòng thì hiểm, Công-tôn-Hoằng đã giết Chủ-Phụ-Yển và đổi Đổng-trọng-Thư vào Giao-tây.

    (2) Át kỳ kinh, tên sách, có 1 quyển, cũng gọi là Át cơ kinh, bản xưa đề là Phong Hậu soạn, được Công-tôn-Hoằng đời Hán chú-giải, những sách Hán-chí, Tùy-chí, Đường-chí đều không chép, Tống chí mới chép và tường khảo, là quyển sách đầu tiên nói về việc binh.

    (3) Xa kỵ, danh hiệu của tướng-quân đời Hán.

    (4) Tài quan, chức Vũ-biền.

    (5) Hổ-phù, binh phù làm thành hình con cọp.

    ----------------------

    Khí đồng tắc tùng, thinh tý tắc ứng [] [] [] [], [] [] [] []. Nghĩa là: Hễ cùng một khí với nhau thì theo nhau, cùng một tiếng với nhau thì ứng đáp nhau.

    Đó là lời mà Công-tôn-Hoằng dẫn ở sách Lữ-lãm (tức Lữ-thị Xuân-thu).

    Sách Át kỳ kinh của Phong-Hậu từ đời xưa truyền lại có 380 chữ, được Công-tôn-Hoằng chú giải, giảng cứu binh pháp rất rõ-ràng.

    Đương lúc Hán Vũ-đế đánh Hung-Nô, đúng là lúc [17a] người ta đem tài-nghệ sở trường ra dùng, lại không nghe ai đem binh pháp ra thương-lượng với Vệ-Thanh (1) và Hoắc-Khứ-Bịnh (2) cả.

    Há là khoe-khoang tài-năng mà khinh bạc tự kiêu hay sao?

    Phần Giao tự chí đời Hán chép: Hán Vũ-đế sai Loan-Đại thí-nghiệm phép mọn về đánh cờ. Con cờ tự xúc chạm nhau.

    Sách Vũ đế cố sự lại chép: Quan Thái-thường (3) rung phất mấy mươi cây cờ tinh (4) ở trước điện. Cờ đại lịnh

    ----------------------

    (1) Vệ-Thanh, người ở Bình-dương đời Hán, tự là Trọng-Khanh được làm Đại-trung đại-phu, đổi làm Xa kỵ tướng quân, bảy lần đánh Hung-nô, uy danh chấn động tận cõi xa, được phong Đại-tướng-quân Trường-binh-hầu, cưới Bình-dương công-chúa.

    (2) Hoắc-Khứ-Bịnh, người ở đất Bình-dương đời Hán, giỏi cỡi ngựa bắn cung, trong thời vua Hán Vũ-đế làm Phiêu-diêu hiệu-úy, trước sau, có 6 lần đánh Hung-nô đại thắng, được trao chức Phiêu kỵ tướng quân, phong Quán-quân-hầu.

    (3) Thái-thường, một trong cửu khanh đời Hán coi giữ lễ-nghi trong tông-miếu.

    (4) Tinh, thứ cờ có gắn đuôi bò ở đầu gù.

    ----------------------

    tinh tự phất lá cờ vào nhau, lá cờ lại tụt xuống (1) ở giữa sân cách mặt đất hơn mười trượng. Những người xem đều kinh hãi.

    Phiền lộ [] [] xuất xứ từ thiên Vương-hội ở sách Dật Chu thư (2), có lời chú-giải rằng: Là những viên ngọc kết thòng xuống ở phía trước và phía sau mũ của vua giống như giọt sương thòng xuống, hình như xâu chuỗi liền nhau.

    Trong kinh Xuân-thu, có những lời liên-thuộc nhau, những việc liên-quan nhau, cho nên sách của Đổng-Trọng Thư-gọi là Xuân-thu phiền lộ, là vì lấy ý ở đấy.

    [17b] Sách Văn-tuyển lục thần chú có chép bài tụng Bích-kê (3) của Vương-Bao (4) như sau:

    1) Tri tiết sứ giả,

    [] [] [] []

    ----------------------

    (1) Câu nầy, nguyên văn chép thiếu một vài chữ, chúng tôi phải lấy ý mà dịch cho câu văn có đủ nghĩa.

    (2) Dật Chu-thư, tức sách Chu-thư, là sử nhà Chu.

    (3) Kim-mã Bích-kê, trong thời Hán Tuyên-đế, ở Ích-châu có thần Kim-mã Bích-kê, vua mới sai quan Giám-thị đại-phu Vương-Bao làm sứ-giả cầm cờ tiết đến cầu. Nay ở tỉnh Vân-nam, phía đông huyện Côn-minh có núi Kim-mã, phía tây-nam có núi Bích-kê, hai ngọn núi đối nhau, tương truyền là nơi thờ thần Kim-mã và thần Bích-kê. Thần Kim-mã giống hình con ngựa, thần Bích-kê giống hình con gà.

    (4) Vương-Bao, người ở đất Thục đời Hán, tự là Tử-uyên, trong thời vua Hán Tuyên-đế bị triệu vào triều ứng chiếu làm bài Thánh chúa đắc hiền thần tụng, lại được trao chức Gián-nghị đại-phu, sau phụng sứ đến Ích-châu cúng tế thần Kim-mã Bích-kê. Ông có làm những bài phú Cam-tuyền, Động-tiêu còn truyền ở đời.

    ----------------------

    2) Kính di Kim tinh thần mã

    [] [] [] [] [] []

    3) Phiêu diễu (1) Bích-kê chi thần:

    [] [] [] [] [] []

    4) Quy lai quy lai.

    [] [] [] []

    5) Hán đức vô cương,

    [] [] [] []

    6) Trạch phối Tam-hoàng,

    [] [] [] []

    7) Quảng hồ Đường Ngu.

    [] [] [] []

    8) Hoàng long hiện hề,

    [] [] [] []

    9) Bạch hổ nhân.

    [] [] [] []

    10) Quy lai, quy lai,

    [] [] [] []

    11) Khả dĩ vi luân.

    [] [] [] []

    12) Quy lai tường hề,

    [] [] [] []

    13) Hà sự Nam hoang (2)?

    [] [] [] []

    ----------------------

    (1) Phiêu diễu, dáng cao xa, dáng mơ-hồ không rõ-ràng, có có không không.

    (2) Nam hoang, miền Nam xa-xôi.

    ----------------------

    Dịch nghĩa

    1) Sứ giả cầm cờ tiết,

    2) Cung kính mời rước Kim-tinh Thần mã.

    3) Và thần Bích-kê ở chốn cao xa:

    4) Hãy trở về triều, hãy trở về triều.

    5) Đức nhà Hán vô biên,

    6) Ân trạch của nhà Hán sánh với Tam-hoàng,

    7) Rộng hơn của vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn.

    8) Rồng vàng hiện lên,

    9) Cọp trắng nhân từ.

    10) Hãy trở về triều, hãy trở về triều,

    11) Có thể làm đạo lý.

    12) Hãy trở về triều, bay liệng mà đi,

    13) Còn có việc gì ở cõi phương Nam xa-xôi?

    Dịch thơ

    Cầm cờ tiết ra đi sứ-giả,

    Tìm Kim-tinh Thần mã khẩn cầu,

    Thần Bích-kê chốn núi cao,

    Hãy về cho gấp, về mau triều-đường.

    Của nhà Hán vô cương công đức,

    Ân trạch thì sánh bực Tam-hoàng.

    Hơn Đường Ngu vẻ thênh-thang.

    Cho nên đã thấy rồng vàng hiện ra.

    Lại vô cùng nhân hòa cọp trắng.

    Hãy mau mau về thẳng triều-đình.

    Để làm đạo lý sinh linh.

    Liệng bay mà trở về nhanh cho rồi.

    Việc gì nữa ở nơi Nam-phục?

    ----------------------