21.25- kvkhuong (type done)

13/8/15
21.25- kvkhuong (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-RGIzbFluR3Ftazg/view?pli=1
    Theo sách Hán-thư, Dương-Hùng quái lạ về Khuất-Nguyên không được vua khoan-dung mới làm bài Ly-tao rồi tự trầm mình xuống sông mà chết.

    Đọc bài văn Ly-tao mà thương cảm, Dương-Hùng cho là người Quân-tử gặp thời thì làm lớn, không gặp thời thì làm như con rồng con rắn ẩn lánh cho yên thân. Gặp thời hay không gặp thời đó là số mệnh, sao lại trầm mình như vậy?

    Dương-Hùng bèn làm những thiên Phản-taoQuảng-tao để đáp lại.

    Họ Vương ở Điều-khê phê-bình Trần-Phiền ([1]) chính đã dẫn những lời nầy.

    [18a] Phép khảo hạch cái lại-viên của Kinh-Phòng và 72 điều của Lưu-Thiệu, sử không chép.

    Theo sách Thông-khảo, Kinh-Phòng tâu về Khảo công khóa lại pháp (phép khảo hạch công khóa các lại-viên) như sau:

    Mỗi huyện có một viên lịnh, một viên thừa và một viên ủy coi sóc.

    Nếu dân trọng giáo-hóa không phạm pháp thì các viên chức ấy được thiên chuyển.

    Có trộm cướp mãn ba ngày mà không hay biết, đó là việc của viên úy.

    Nếu viên lịnh hay biết thì viên lịnh được tự ý trao chức cho hai viên úy.

    Mọi việc cuối cùng đều suy theo phép ấy.

    Lưu-Thiệu làm ra phép Đô quan khảo khóa có 72 điều để khảo hạch các quan, đại lược như sau:

    Muốn cho các châu quận khảo sĩ thì phải do bốn khoa, bốn khoa nầy đều bắt chước giống nhau, rồi sau mới xem xét mà tiến-cử lên, hoặc đưa vào công-phủ, mỗi khi xem xét người, thì viên trưởng lại lấy công mà thiên chuyển, kế đến cho bổ quận thú, hoặc theo trậc mà ban tước.

    Đến các chức công khanh và nội chức đại-thần cũng đều noi theo đó mà khảo-hạch.

    [18b] Hồ-Tri-Đường nói:’’Người mà nhiều nhàn-hạ thì hơn người ta không xa mấy”.

    Lời nầy xuất phát từ Tuân-tử.

    Theo sách Thục-chí, Bàng-Thống[2] làm công tào ở quận, mỗi khi khen ai thì khen quá cái tài của người ấy. người ta lấy làm lạ hỏi ông. Ông đáp:’’Nay đạo thuần nhã đã đồi phế, người lành thì ít, người dữ thì nhiều. Nay cất nhắc mười người thì được năm người giỏi thì còn có thể tôn-sùng khuyến lệ thế giáo. Quá khen như thế là để cho người có chí tự cố gắng”.

    Lời nói của vua Thái-tông nhà Tống gốc ở lời nầy.

    Sách Thiếu vi thông giám bản in có chỗ sai.

    Ở phần Tấn-kỷ, Ôn-Còng dẫn câu nói của Tuân-Tử:”Kiêm tính dụ năng dã, kiên ngưng chỉ nan diên”[3]. Nghĩa là: Gồm thâu thì dễ, còn định yên giữ vững thì khó.

    Ở phần Đường kỷ, nhà chép sử luận về Tùy Dượng-đế có nói: “Đại phương[4] triệu loạn, toại đăng trừ vị”. Nghĩa là: Đất mở cơn biến-loạn, cho nên ta mới lên ngôi Thái-tử.

    Mỗi lần đọc đến đấy tôi đã trộm nghi-ngờ. Khi đọc sách Tuân-tử, thấy viết chữ kiêng ngưng, và đọc Chính-sử thấy viết chữ Thiên-phương (Câu Thiên-phương triệu loạn, toại đăng trừ vị. Nghĩa là: Trời vừa mở cuộc biến loạn, cho nên ta mới lên ngôi Thái-tử), bấy giờ tôi mới thấu hiểu.

    [19a] Phần Phù thụy chí trong sách Tống-thư chép như sau:

    Thuật sĩ đời Hán nói: “Hình cờ vàng và lọng tía hiện ra ở khoảng sao Ngưu sao Đẩu, thì có khí-tượng thiên-tử ở Giang-đông”.

    Cho nên Điêu-Huyền lấy viện đó nói với Tôn-Hạo[5].

    Bài văn của Từ-Lăng[6] cũng chép như sau:

    Hoàng kỳ tử cái Kim-lăng chi vương khí trường cửu. Nghĩa là: Hình cờ vàng lọng tía hiện ra thì khí-tượng đế-vương ở Kim-lăng được lâu dài.

    Sách Uyên giám loại hàm chép: Lúc du-học ở Thái-học, Thôi-Ân[7] có dâng lên bốn bài Tứ tuần tụng (bài tụng về việc vua đi tuần thú bốn phương), tiếc rằng không thấy được toàn văn.


    TÂY TUẦN TỤNG

    (Bài tụng về việc đi tuần thú phương Tây)

    1)Duy thu cốc ký đăng.

    2)Thượng tương tỉnh liễm.

    3)Binh trật[8] tây thành[9]

    4)Tuần thú vu tây giao.

    5)Nhân tư vạn vật

    6)Ngưng đức hoãn tục.

    7)Tích ký xuân du

    8)Kim nãi thu dự

    Dịch nghĩa

    1)Lúa mùa thu đã chín.

    2)Vua sắp ra xem gặt lúa.

    3)Công việc làm lúc lúa chín vào mùa thu đã làm xong.

    4)Vua đi tuần vùng phía tây.

    5)Nhân nay vạn vật

    6)Đạo-đức đã thành tựu, phong-tục đã hòa hoãn.

    7)Xưa đã dạo chơi xuân.

    8)Nay lại đi dạo vui chơi mùa thu.

    Dịch thơ

    Lúa mùa thu chín rồi.

    Xem gặt vua theo thời.

    Công việc mùa thu dứt.

    Tây giao tuần thú chơi.

    Hôm nay nhân vạn vật

    Tục hoãn đức thành rồi.

    Đã dạo xuân ngày trước.

    Nay vui thu thảnh-thơi.


    ĐÔNG TUẦN TỤNG

    (Bài tụng về việc vua đi tuần phương Đông)

    1)Ô[10]! Hoàng[11] duy liệt[12]!

    2)Doãn địch[13] quyết luân

    3)Toản vương mệnh,

    4)Dận Hán huân,

    5)Củ Khôn độ dĩ phạm vật,

    6)Quy Kiền tắc dĩ đào quân.

    7)Nãi mệnh Thái-bộc[14] huấn lục trưu[15]:

    8)Nhàn lạc mã huấn sư [19b] đồ,

    9)Thăng cửu long chi hoa kỳ,

    10) Kiến thúy nghê chi tinh mao.

    11) Bao hồ cấu[16] chi nguyên lão[17],

    12) Thưởng hiếu hạnh chi tuấn nông.


    Dịch nghĩa

    1)Ôi! Công-nghiệp của vua lớn-lao thay!

    2)Đã chân-thành noi theo đường đạo lý.

    3)Nối mệnh trời của vua,

    4)Kế công-nghiệp của nhà Hán,

    5)Noi phép độ của đất để khuôn mẫu vạn vật,

    6)Theo phép tắc của trời để đào-tạo muôn loài,

    7)Bèn sai quan Thái-bộc huấn-luyện sáu viên đánh xe của vua:

    8)Tập luyện ngựa lạc (ngựa trắng bờm đen) và dạy-dỗ quân-sĩ,

    9)Trương lên cờ bông có thêu chín con rồng,

    10) Dựng cờ tinh (có lông bò gắn ở đầu gù) có hình con sư-tử xanh biếc.

    11) Khen ngợi bậc nguyên lão già cả

    12) Tặng thưởng nông-phu mạnh khỏe có hiếu hạnh.


    Dịch thơ

    Ôi! Nghiệp vua vô cùng vĩ đại!

    Đạo lý thì noi mãi chân thành.

    Mệnh trời kế tiếp thận hành,

    Nối theo nghiệp Hán sẵn dành bấy nay,

    Noi phép đất đặt bày khuôn mẫu,

    Theo độ trời đào-tạo muôn loài,

    Chức quan Thái-bộc vội sai:

    Sáu viên đánh ngựa miệt mài luyện trau,

    Tập ngựa lạc, dạy mau quân đội,

    Trương cờ hoa rõ chói chín rồng,

    Thúy nghê cờ ấy dựng xong.

    Tuổi cao nguyên lão tỏ lòng ngợi khen,

    Hiếu hạnh nông dân bèn tặng thưởng.


    NAM TUẦN TỤNG

    (Bài tụng về việc vua đi tuần miền Nam)

    1)Duy hưu chưng[18] chi hồng đức,

    2)Doãn thiên phú nhi vô di,

    3)Tráng vân[19] hành chi phổ huệ[20],

    4)Thục vũ[21] thí ư thứ lê

    Dịch nghĩa

    1)Đức của vua lớn-lao và đẹp-đẽ,

    2)Thật như trời che phủ không bỏ sót ai,

    3)Như ân huệ rộng khắp của đám mây bay to lớn

    4)Đổ mưa lành xuống dân đen.


    Dịch thơ

    Đức vua lớn đẹp vô cùng,

    Như trời cao phủ chẳng hòng sót ai,

    Như ơn cả đám mây bay

    Đổ mưa lành xuống khắp bầy dân đen.


    BẮC TUẦN TỤNG

    (Bài tụng về việc vua đi tuần miền Bắc)

    1)Ung dung[22] thanh miếu,

    2)Mật[23] nhĩ vô ngu,

    3)Thùy củng mục mục,

    4)Thần hành hóa khu.

    Dịch nghĩa

    1)Ung-dung ngôi miến thanh tịnh,

    2)Yên lặng không có điều lo,

    3)Rủ áo khoanh tay cung kính,

    4)Lấy giáo hóa mà khu sử (sai khiến) nhân-dân rất mỹ-mãn như thần thánh thi-hành.

    Dịch thơ

    Miếu đường thanh tĩnh ung-dung,

    Cho nên lặng-lẽ, lòng không ưu-hoài,

    Uy-nghi rủ áo khoanh tay,

    Đã dùng giáo hóa khiến sai như thần.

    II

    1)Ấn khiết hưởng kỳ.

    2)Hâm[24] thưởng[25] bách thần.

    3)Viên thủy phú[26] chính,

    4)Thụ vụ vu nhân.


    [1] Trần-Phiền, người ở Binh-dư đời Đông-hán, tự là Trọng-cử, người ngay thẳng nghiêm-nghị, tiết-tháo cao-khiết, trong thời Hán Hoàn-đế làm Thái-thú ở Lạc-an ở Dư-chương, làm đến chức Thái-úy. Khi vua Linh-đế lên ngôi, Đậu Thái-hậu lâm triều, ông được làm chức Thái-phó, được phong Cao dương-hầu, cùng với cha của Đậu-hậu là Đậu-Vũ lo việc triều-chính, trưng dụng danh hiền, kẻ sĩ đều theo về. Về sau cùng Đậu-Vũ mưu giết bọn hoạn quan Tào-Tiết Vương-Phủ, bị họ sửa chiếu giết chết.

    [2] Bàng-Thống, người ở đất Tương-dương nước Thục đời Tam-quốc, tự là Sĩ-nguyên, Tư-Mã-Huy khen ngợi gọi là Phụng-sồ (chim phụng con), được Thục Tiên-Chủ cho giữ Lôi-dương, về sau đánh Lạc-huyện bị trúng tên mà chết.

    [3] Câu của Tuân-tử trong thiên Nghị-binh có chữ diên mà nguyên bản chép thiếu.

    [4] Đại phương (đại, to, phương, vuông), đất (Theo quan-niệm người xưa, trời tròn đất vuông).

    [5] Tôn-Hạo, vua mất nước của Đông-Ngô thời Tam-quốc, cháu nội của Tôn-Quyền, dâm đãng bạo ngược không trau giồi đức chính. Quân Tấn đánh xuống phương nam, hãm kinh-đô Kiến nghiệp, Tôn-Hạo ra đầu hàng. Nhà Tấn phế Tôn-Hạo xuống làm Quy-mệnh hầu. Nước Ngô mất.

    [6] Từ-Lăng, người thời Nam-triều, tự là Hiếu-mục, lúc bé thông-minh viết được văn, đầu tiên làm quan cho nhà Lương, làm Thông trực tán kỵ thị lang, vào nước Trần làm quan Ngự-sử trung-thừa, lúc ấy An-thành-vương cầm quyền, hoành-hành, Từ-Lăng liền đàn hặc, danh tiếng rạng-rỡ từ đấy. Sách của Ông có: Từ Hiếu-mục tập, Ngọc đài tân vịnh

    [7] Thôi-Ân, người ở đất An-bình đời Đông-Hán, tự là Đình-bá, học rộng có tài, làm văn rất giỏi, lúc trẻ càng nổi danh với Ban-Cổ và Phó-Nghị, viết nhiều thơ phú minh tụng

    [8] Bình trật, trật-tự công việc làm đã đồng đều.

    [9] Tây thành, mùa thu vị ở tây, lúc ấy vạn vật đều thành thục.


    [10] Ô! Tiếng than khen.

    [11] Hoàng, lớn-lao.

    [12] Liệt, công-nghiệp.

    Câu Ô! Hoàng duy liệt bắt chước theo câu Ô! Hoàng Vũ-vương, Vô cạnh duy liệt (nghĩa là: Ôi!Vũ-vương lớn lao thay! Công-nghiệp của ngài không có gì sánh bằng) trong thiên Vũ phần Chu-tụng trong kinh Thi.

    [13] Doãn-địch, thành thật noi theo.


    [14] Thái-bộc, chức quan coi giữ xe ngựa của vua trong thời nhà Tần nhà Hán.

    [15] Trưu, quan nuôi ngựa, kỵ sĩ, quan đánh xe của vua.

    [16] Hồ cấu, người già cả.

    [17] Nguyên lão, cựu thần có danh vọng.


    [18] Hưu chưng (hưu, đẹp; chưng, đẹp), đẹp-đẽ.

    [19] Tráng vân, đám mây to


    [20] Phổ huệ, ân huệ rộng khắp.

    [21] Thục vũ, mưa lành.

    [22] Ung dung, ôn hòa thong-thả.

    [23] Mật, thanh tĩnh yên lặng.


    [24] Hâm, nói thần linh hưởng lấy mùi vị lễ vật dâng cúng.

    [25] Thưởng, nếm.

    [26] Phú, cấp cho.

    Theo sách Hán-thư, Dương-Hùng quái lạ về Khuất-Nguyên không được vua khoan-dung mới làm bài Ly-tao rồi tự trầm mình xuống sông mà chết.

    Đọc bài văn Ly-tao mà thương cảm, Dương-Hùng cho là người Quân-tử gặp thời thì làm lớn, không gặp thời thì làm như con rồng con rắn ẩn lánh cho yên thân. Gặp thời hay không gặp thời đó là số mệnh, sao lại trầm mình như vậy?

    Dương-Hùng bèn làm những thiên Phản-taoQuảng-tao để đáp lại.

    Họ Vương ở Điều-khê phê-bình Trần-Phiền ([1]) chính đã dẫn những lời nầy.

    [18a] Phép khảo hạch cái lại-viên của Kinh-Phòng và 72 điều của Lưu-Thiệu, sử không chép.

    Theo sách Thông-khảo, Kinh-Phòng tâu về Khảo công khóa lại pháp (phép khảo hạch công khóa các lại-viên) như sau:

    Mỗi huyện có một viên lịnh, một viên thừa và một viên ủy coi sóc.

    Nếu dân trọng giáo-hóa không phạm pháp thì các viên chức ấy được thiên chuyển.

    Có trộm cướp mãn ba ngày mà không hay biết, đó là việc của viên úy.

    Nếu viên lịnh hay biết thì viên lịnh được tự ý trao chức cho hai viên úy.

    Mọi việc cuối cùng đều suy theo phép ấy.

    Lưu-Thiệu làm ra phép Đô quan khảo khóa có 72 điều để khảo hạch các quan, đại lược như sau:

    Muốn cho các châu quận khảo sĩ thì phải do bốn khoa, bốn khoa nầy đều bắt chước giống nhau, rồi sau mới xem xét mà tiến-cử lên, hoặc đưa vào công-phủ, mỗi khi xem xét người, thì viên trưởng lại lấy công mà thiên chuyển, kế đến cho bổ quận thú, hoặc theo trậc mà ban tước.

    Đến các chức công khanh và nội chức đại-thần cũng đều noi theo đó mà khảo-hạch.

    [18b] Hồ-Tri-Đường nói:’’Người mà nhiều nhàn-hạ thì hơn người ta không xa mấy”.

    Lời nầy xuất phát từ Tuân-tử.

    Theo sách Thục-chí, Bàng-Thống[2] làm công tào ở quận, mỗi khi khen ai thì khen quá cái tài của người ấy. người ta lấy làm lạ hỏi ông. Ông đáp:’’Nay đạo thuần nhã đã đồi phế, người lành thì ít, người dữ thì nhiều. Nay cất nhắc mười người thì được năm người giỏi thì còn có thể tôn-sùng khuyến lệ thế giáo. Quá khen như thế là để cho người có chí tự cố gắng”.

    Lời nói của vua Thái-tông nhà Tống gốc ở lời nầy.

    Sách Thiếu vi thông giám bản in có chỗ sai.

    Ở phần Tấn-kỷ, Ôn-Còng dẫn câu nói của Tuân-Tử:”Kiêm tính dụ năng dã, kiên ngưng chỉ nan diên”[3]. Nghĩa là: Gồm thâu thì dễ, còn định yên giữ vững thì khó.

    Ở phần Đường kỷ, nhà chép sử luận về Tùy Dượng-đế có nói: “Đại phương[4] triệu loạn, toại đăng trừ vị”. Nghĩa là: Đất mở cơn biến-loạn, cho nên ta mới lên ngôi Thái-tử.

    Mỗi lần đọc đến đấy tôi đã trộm nghi-ngờ. Khi đọc sách Tuân-tử, thấy viết chữ kiêng ngưng, và đọc Chính-sử thấy viết chữ Thiên-phương (Câu Thiên-phương triệu loạn, toại đăng trừ vị. Nghĩa là: Trời vừa mở cuộc biến loạn, cho nên ta mới lên ngôi Thái-tử), bấy giờ tôi mới thấu hiểu.

    [19a] Phần Phù thụy chí trong sách Tống-thư chép như sau:

    Thuật sĩ đời Hán nói: “Hình cờ vàng và lọng tía hiện ra ở khoảng sao Ngưu sao Đẩu, thì có khí-tượng thiên-tử ở Giang-đông”.

    Cho nên Điêu-Huyền lấy viện đó nói với Tôn-Hạo[5].

    Bài văn của Từ-Lăng[6] cũng chép như sau:

    Hoàng kỳ tử cái Kim-lăng chi vương khí trường cửu. Nghĩa là: Hình cờ vàng lọng tía hiện ra thì khí-tượng đế-vương ở Kim-lăng được lâu dài.

    Sách Uyên giám loại hàm chép: Lúc du-học ở Thái-học, Thôi-Ân[7] có dâng lên bốn bài Tứ tuần tụng (bài tụng về việc vua đi tuần thú bốn phương), tiếc rằng không thấy được toàn văn.


    TÂY TUẦN TỤNG

    (Bài tụng về việc đi tuần thú phương Tây)

    1)Duy thu cốc ký đăng.

    2)Thượng tương tỉnh liễm.

    3)Binh trật[8] tây thành[9]

    4)Tuần thú vu tây giao.

    5)Nhân tư vạn vật

    6)Ngưng đức hoãn tục.

    7)Tích ký xuân du

    8)Kim nãi thu dự

    Dịch nghĩa

    1)Lúa mùa thu đã chín.

    2)Vua sắp ra xem gặt lúa.

    3)Công việc làm lúc lúa chín vào mùa thu đã làm xong.

    4)Vua đi tuần vùng phía tây.

    5)Nhân nay vạn vật

    6)Đạo-đức đã thành tựu, phong-tục đã hòa hoãn.

    7)Xưa đã dạo chơi xuân.

    8)Nay lại đi dạo vui chơi mùa thu.

    Dịch thơ

    Lúa mùa thu chín rồi.

    Xem gặt vua theo thời.

    Công việc mùa thu dứt.

    Tây giao tuần thú chơi.

    Hôm nay nhân vạn vật

    Tục hoãn đức thành rồi.

    Đã dạo xuân ngày trước.

    Nay vui thu thảnh-thơi.


    ĐÔNG TUẦN TỤNG

    (Bài tụng về việc vua đi tuần phương Đông)

    1)Ô[10]! Hoàng[11] duy liệt[12]!

    2)Doãn địch[13] quyết luân

    3)Toản vương mệnh,

    4)Dận Hán huân,

    5)Củ Khôn độ dĩ phạm vật,

    6)Quy Kiền tắc dĩ đào quân.

    7)Nãi mệnh Thái-bộc[14] huấn lục trưu[15]:

    8)Nhàn lạc mã huấn sư [19b] đồ,

    9)Thăng cửu long chi hoa kỳ,

    10) Kiến thúy nghê chi tinh mao.

    11) Bao hồ cấu[16] chi nguyên lão[17],

    12) Thưởng hiếu hạnh chi tuấn nông.


    Dịch nghĩa

    1)Ôi! Công-nghiệp của vua lớn-lao thay!

    2)Đã chân-thành noi theo đường đạo lý.

    3)Nối mệnh trời của vua,

    4)Kế công-nghiệp của nhà Hán,

    5)Noi phép độ của đất để khuôn mẫu vạn vật,

    6)Theo phép tắc của trời để đào-tạo muôn loài,

    7)Bèn sai quan Thái-bộc huấn-luyện sáu viên đánh xe của vua:

    8)Tập luyện ngựa lạc (ngựa trắng bờm đen) và dạy-dỗ quân-sĩ,

    9)Trương lên cờ bông có thêu chín con rồng,

    10) Dựng cờ tinh (có lông bò gắn ở đầu gù) có hình con sư-tử xanh biếc.

    11) Khen ngợi bậc nguyên lão già cả

    12) Tặng thưởng nông-phu mạnh khỏe có hiếu hạnh.


    Dịch thơ

    Ôi! Nghiệp vua vô cùng vĩ đại!

    Đạo lý thì noi mãi chân thành.

    Mệnh trời kế tiếp thận hành,

    Nối theo nghiệp Hán sẵn dành bấy nay,

    Noi phép đất đặt bày khuôn mẫu,

    Theo độ trời đào-tạo muôn loài,

    Chức quan Thái-bộc vội sai:

    Sáu viên đánh ngựa miệt mài luyện trau,

    Tập ngựa lạc, dạy mau quân đội,

    Trương cờ hoa rõ chói chín rồng,

    Thúy nghê cờ ấy dựng xong.

    Tuổi cao nguyên lão tỏ lòng ngợi khen,

    Hiếu hạnh nông dân bèn tặng thưởng.


    NAM TUẦN TỤNG

    (Bài tụng về việc vua đi tuần miền Nam)

    1)Duy hưu chưng[18] chi hồng đức,

    2)Doãn thiên phú nhi vô di,

    3)Tráng vân[19] hành chi phổ huệ[20],

    4)Thục vũ[21] thí ư thứ lê

    Dịch nghĩa

    1)Đức của vua lớn-lao và đẹp-đẽ,

    2)Thật như trời che phủ không bỏ sót ai,

    3)Như ân huệ rộng khắp của đám mây bay to lớn

    4)Đổ mưa lành xuống dân đen.


    Dịch thơ

    Đức vua lớn đẹp vô cùng,

    Như trời cao phủ chẳng hòng sót ai,

    Như ơn cả đám mây bay

    Đổ mưa lành xuống khắp bầy dân đen.


    BẮC TUẦN TỤNG

    (Bài tụng về việc vua đi tuần miền Bắc)

    1)Ung dung[22] thanh miếu,

    2)Mật[23] nhĩ vô ngu,

    3)Thùy củng mục mục,

    4)Thần hành hóa khu.

    Dịch nghĩa

    1)Ung-dung ngôi miến thanh tịnh,

    2)Yên lặng không có điều lo,

    3)Rủ áo khoanh tay cung kính,

    4)Lấy giáo hóa mà khu sử (sai khiến) nhân-dân rất mỹ-mãn như thần thánh thi-hành.

    Dịch thơ

    Miếu đường thanh tĩnh ung-dung,

    Cho nên lặng-lẽ, lòng không ưu-hoài,

    Uy-nghi rủ áo khoanh tay,

    Đã dùng giáo hóa khiến sai như thần.

    II

    1)Ấn khiết hưởng kỳ.

    2)Hâm[24] thưởng[25] bách thần.

    3)Viên thủy phú[26] chính,

    4)Thụ vụ vu nhân.


    [1] Trần-Phiền, người ở Binh-dư đời Đông-hán, tự là Trọng-cử, người ngay thẳng nghiêm-nghị, tiết-tháo cao-khiết, trong thời Hán Hoàn-đế làm Thái-thú ở Lạc-an ở Dư-chương, làm đến chức Thái-úy. Khi vua Linh-đế lên ngôi, Đậu Thái-hậu lâm triều, ông được làm chức Thái-phó, được phong Cao dương-hầu, cùng với cha của Đậu-hậu là Đậu-Vũ lo việc triều-chính, trưng dụng danh hiền, kẻ sĩ đều theo về. Về sau cùng Đậu-Vũ mưu giết bọn hoạn quan Tào-Tiết Vương-Phủ, bị họ sửa chiếu giết chết.

    [2] Bàng-Thống, người ở đất Tương-dương nước Thục đời Tam-quốc, tự là Sĩ-nguyên, Tư-Mã-Huy khen ngợi gọi là Phụng-sồ (chim phụng con), được Thục Tiên-Chủ cho giữ Lôi-dương, về sau đánh Lạc-huyện bị trúng tên mà chết.

    [3] Câu của Tuân-tử trong thiên Nghị-binh có chữ diên mà nguyên bản chép thiếu.

    [4] Đại phương (đại, to, phương, vuông), đất (Theo quan-niệm người xưa, trời tròn đất vuông).

    [5] Tôn-Hạo, vua mất nước của Đông-Ngô thời Tam-quốc, cháu nội của Tôn-Quyền, dâm đãng bạo ngược không trau giồi đức chính. Quân Tấn đánh xuống phương nam, hãm kinh-đô Kiến nghiệp, Tôn-Hạo ra đầu hàng. Nhà Tấn phế Tôn-Hạo xuống làm Quy-mệnh hầu. Nước Ngô mất.

    [6] Từ-Lăng, người thời Nam-triều, tự là Hiếu-mục, lúc bé thông-minh viết được văn, đầu tiên làm quan cho nhà Lương, làm Thông trực tán kỵ thị lang, vào nước Trần làm quan Ngự-sử trung-thừa, lúc ấy An-thành-vương cầm quyền, hoành-hành, Từ-Lăng liền đàn hặc, danh tiếng rạng-rỡ từ đấy. Sách của Ông có: Từ Hiếu-mục tập, Ngọc đài tân vịnh

    [7] Thôi-Ân, người ở đất An-bình đời Đông-Hán, tự là Đình-bá, học rộng có tài, làm văn rất giỏi, lúc trẻ càng nổi danh với Ban-Cổ và Phó-Nghị, viết nhiều thơ phú minh tụng

    [8] Bình trật, trật-tự công việc làm đã đồng đều.

    [9] Tây thành, mùa thu vị ở tây, lúc ấy vạn vật đều thành thục.


    [10] Ô! Tiếng than khen.

    [11] Hoàng, lớn-lao.

    [12] Liệt, công-nghiệp.

    Câu Ô! Hoàng duy liệt bắt chước theo câu Ô! Hoàng Vũ-vương, Vô cạnh duy liệt (nghĩa là: Ôi!Vũ-vương lớn lao thay! Công-nghiệp của ngài không có gì sánh bằng) trong thiên Vũ phần Chu-tụng trong kinh Thi.

    [13] Doãn-địch, thành thật noi theo.


    [14] Thái-bộc, chức quan coi giữ xe ngựa của vua trong thời nhà Tần nhà Hán.

    [15] Trưu, quan nuôi ngựa, kỵ sĩ, quan đánh xe của vua.

    [16] Hồ cấu, người già cả.

    [17] Nguyên lão, cựu thần có danh vọng.


    [18] Hưu chưng (hưu, đẹp; chưng, đẹp), đẹp-đẽ.

    [19] Tráng vân, đám mây to


    [20] Phổ huệ, ân huệ rộng khắp.

    [21] Thục vũ, mưa lành.

    [22] Ung dung, ôn hòa thong-thả.

    [23] Mật, thanh tĩnh yên lặng.


    [24] Hâm, nói thần linh hưởng lấy mùi vị lễ vật dâng cúng.

    [25] Thưởng, nếm.

    [26] Phú, cấp cho.
  • Đang tải...