21.26 -Thế Anh (type done)

15/9/15
21.26 -Thế Anh (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-S3dCUlBRTUdUWlU/view?pli=1

    Dịch nghĩa

    1) Cúng tế tinh khiết để thần hưởng mà cầu phúc.

    2) Trăm vị thần nếm hưởng lễ vật cúng tế.

    3) Rồi mới ban cho chính lịnh,

    4) Trao công việc cho mọi người.

    Dịch thơ

    Tế tinh khiết cầu phúc lành,

    Bách thần thụ hưởng, lòng thành cảm thông.

    Rồi ban chính lịch cho xong,

    Mọi người đều được trao công việc làm.

    Sách Trang-tử (1) chép : Khổng-Tử nói với Sở-vương : « Tôn-Thúc-Ngao (2) chỉ ngủ ngon và cầm cây lông (3) mà người nước Sính rút quân về ».

    Trong sách Văn-tuyển, bài văn bia của Chử-Uyên làm có câu: Tuy vô thụ thận xuất xa chi phong, diệc hữu cam tẩm bỉnh vũ chi tích [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] . Nghĩa là: Tuy không có phong cách nhận phần thịt cúng tế và đem đi đánh, nhưng cũng có công ngủ yên cầm cây lông mà lui được giặc.

    [20a] Sách Văn hiến thông khảo có chép bài Phá trận nhạc từ như sau:

    ---------------------

    (1) Thiên Từ vô quỷ trong sách Trang-Tử.

    (2) Tôn-Thúc-Ngao, người nước Sở thời Xuân-thu, tính cung kính cần-kiệm, thay Ngu-Khâu làm Tể-tướng nước Sở, thi-hành chính-giáo, dẫn-dắt nhân-dân, chỉ trong ba tháng mà nước Sở được đại trị.

    (3) Bỉnh vũ, cầm cây lông chim. Người múa hát thường cầm cây lông kết bằng lông chim trĩ để che mình.

    ---------------------

    1) Thụ luật từ Nguyên thủ,

    [] [] [] [] []

    2) Tướng tướng thảo bạn thần,

    [] [] [] [] []

    2) Hàm ca Phá trận nhạc,

    [] [] [] [] []

    3) Cộng hưởng thái-bình nhân.

    [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Nhận quân luật bái từ Vua,

    2) Tướng võ và tướng văn đi đánh kẻ bề tôi phản nghịch,

    3) Đều hát bài nhạc Phá trận,

    4) Để cùng thưởng-thức lạc thú của người dân đời thái-bình.

    Dịch thơ

    Nhận quân luật từ Vua dũng tiến,

    Quan võ văn chinh chiến phản thần,

    Hát bài Phá trận vang rân,

    Để cùng thưởng-thức đời dân thái-bình.

    Tôi ngờ rằng bài hát Phá trận tức là bài Thất đức ca (bài hát bảy đức) mà Bạch-Lạc-thiên (Bạch-Cư-Dị) đax nói đến.

    Theo sách Đường-thư, nước Tề làm bài hát Bạn lữ khúc, nước Trần làm bài Ngọc thụ hậu đình hoa. Nay thấy chép ở sách Lý Thái-Bạch thi chú có câu :

    Bích nguyệt dạ dạ mãn

    [] [] [] [] []

    Quỳnh thu triêu triêu tân

    [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    Trăng tròn đêm đêm đầy,

    Cây ngọc sáng sáng mới.

    Dịch thơ

    Trăng tròn đêm đêm càng đầy-đặn.

    Cây ngọc thì sáng sáng mới tươi.

    Lại thấy trong sách Văn-hiến có câu :

    Ngọc thụ hậu đình (1) hoa

    [] [] [] [] []

    Hoa khai bất phục cửu

    [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    Cây ngọc trổ hoa ở hậu cung,

    Hoa nở lại không được lâu

    Dịch thơ

    Hậu đình cây ngọc trổ bông,

    Hoa xinh chen nở mà không lâu dài.

    ---------------------

    (1) Hậu đình tức hậu cung.

    ---------------------

    Chỉ có hai bài này còn có thể khảo-cứu được, còn những bài khác thì đều thiếu cả.

    Bản chép ở các nhà có bài như sau:

    1) Đình tiền ngự liễu thôi lục.

    [] [] [] [] [] []

    2) Hạm ngoại cung hoa thổ hồng.

    [] [] [] [] [] []

    3) Uyên ngõa (1) sổ hàng nguyệt lộ.

    [] [] [] [] [] []

    4) Long kỳ vạn đội xuân phong.

    [] [] [] [] [] []

    5) Thị thần vũ đạo tề bái,

    [] [] [] [] [] []

    6) Thánh thọ [20b] Nam sơn dữ đồng.

    [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Trước sân cây liễu của vua đua sắc xanh.

    2) Ngoài lan-can hoa ở cung đình trổ màu hồng.

    3) Ngói uyên-ương mấy hàng ở trong sương có ánh trăng.

    4) Cờ thêu rồng muôn đội trong gió xuân.

    5) Bầy tôi hầu-hạ nhảy múa cùng kính bái,

    6) Chúc tuổi thọ của vua chồng chất lên cao như ngọn núi Nam.

    ---------------------

    (1) Uyên ngõa tức uyên-ương ngõa là thứ ngói có đôi, miếng ngửa miếng úp.

    ---------------------

    Dịch thơ

    Trước sân ngự liễu xanh tươi.

    Lan-can hoa trổ khắp nơi ửng hường.

    Ngói uyên mấy dãy trăng sương,

    Gió xuân, muôn đội đã trương cờ rồng.

    Thị thần nhảy múa lạy chung,

    Chúc mừng Thánh thọ sánh cùng Nam-sơn.

    Bài thơ nầy là của Phùng-Diên-Kỷ (1) làm, thấy chép ở sách Nghệ văn loại tụ, chớ không phải chính văn của khúc hát nầy.

    Theo sách Đường-thư, khi vua Cao-tổ khắc-phục được kinh thành có ban-hành mười hai điều ước-pháp (pháp-luật ràng buộc nhân-dân phải noi theo) : Giết người, trộm cướp, phản quân-đội, phản nghịch đều phải giết chết, và trừ bỏ những cấm lệnh hà-khắc tàn-bạo.

    Nay các sách đều không thấy chép mười hai điều ước-pháp ấy ra thế nào.

    Mục Lễ lãm thư trong sách Sách phủ nguyên quy chép như sau:

    Lúc mới làm Tần vương, Đường Thái-tông trưng cầu

    ---------------------

    (1) Phùng-Diên-Kỷ, người ở Quảng-lăng đời Nam-Đường, một tên nữa là Diên-Tự, tự là Chính-trung,

    đầu tiên thờ Liệt-tổ, làm Bí-thư lang, lúc vua Nguyên-tông lên ngôi, rất được quý chuộng trọng dụng, làm quan đến chức Tả-bộc-xạ Đồng-bình chương-sự, khi cầm quyền thì lập đảng lo việc riêng tư, kỷ-cương đổ nát, cho nên khi nhà Chu đem đại quân tiến vào, phải mất trọn cả vùng Giang-bắc.

    ---------------------

    những kẻ bề tôi ở nơi đồng nội cỏ cây (1), đặt nhà trạm để cầu khẩn triệu vời. Cho nên nhiều người hiền tài đều từ phương xa tựu đến.

    Lúc ấy trong nước mới được dẹp yên, nhà vua mới dũng chí kinh luân (sửa-sang sắp đặt việc chính-trị), để tinh-thần vào văn-nghệ, nhân đó mới mở học quán để tiếp đãi kẻ sĩ trong bốn phương.

    Nhà vua lại xuống sắc-chỉ nói như sau :

    « Ngày xưa nước Sở tôn trọng bậ hiền tài, vui theo « đạo-đức, trước hết cử họ Thân họ Mục ; nước Lương tiếp « đãi kẻ sĩ, quý chuộng đạo-đức, trọng dụng họ Trâu họ « Mai, [21a] đều bắt chước theo khuôn mẫu về việc trau giồi « của người trước và để tiếng thơm cho công nghiệp đời sau.

    « Tự xét mình đức bạc, đa tạ bậc hiền sĩ (2), núi cao « thì để người ta ngẩng trông (3) lại không thể ngưỡng « mộ được hay sao?

    « Cho nên hương lan vừa đượm thì nghĩ nhớ sâu xa « đến bậc quan chức (4) tới chơi ; đan quế (5) mới rườm-rà « thì mong mời rước được kẻ sĩ hào tuấn.

    ---------------------

    (1) Nguyên văn : Trưng cầu thảo mãng. Thiên Vạn-chương trong sách Mạnh-Tử có câu : Tại đã viết thảo mãng chi thần, nghĩa là : Sống ở đồng nội gọi là kẻ bề tôi nơi thảo mãng.

    (2) Cát sĩ, thiện sĩ, hiền sĩ.

    (3) Nguyên văn : Cao sơn ngưỡng chỉ, nghĩa là : Núi cao thì để người ta ngưỡng trông. Câu nầy xuất xứ ở thiên Xa-hạt thuộc phần Tiền-nhã trong kinh Thi.

    (4) Nguyên văn là Quan cái là áo mão xe lọng của quan chức cao cấp. Quan to.

    (5) Đan quế, loại cây quế có vỏ đỏ, ngụ ý nhân tài.

    ---------------------

    « Thế rồi, mạ trong vườn càng ít mà không lưu lại được « con ngựa tơ trắng (1) của bậc hiền tài ; cây cao vừa mới « bay lên thì thẹn tiếng chim kêu oanh oanh tìm bạn (2).

    « Sở dĩ mong được bậc hiền tài trau giồi bồi bổ những « điều khiếm-khuyết của mình, cho nên ngồi nghiêng (3) « không chán ở sân Tề để đợi hiền, mở tiệc ở quán Yên để « đãi khách.

    Rồi vua Thái-tông cử những hiền-sĩ vào những chức sau đây :

    - Đỗ-Như-Hối giữ chức Đại-hành đài-ty Huân Lang trung.

    - Phòng-Huyền-Linh, Vu-Chí-Ninh giữ chức Ký-thất khảo công Lang trung.

    - Tô-Thế-Trường làm chức Quân tư Tế tửu.

    - Tiết-Du giữ chức Thiên-sách phủ ký thất.

    - Diêu-Tư-Liêm, Chử-Lượng giữ văn học.

    - Lục-Đức-Minh, Khổng-Dĩnh-Đạt giữ chức Đại-học Bác-sĩ.

    ---------------------

    (1) Đoạn này lấy ý ở thiên Bạch-câu thuộc phần Tiểu-nhã trong kinh Thi : Hạo hạo bạch câu, Thực ngã trường miêu ... (Ngựa tơ lông trắng đẹp thay! Hễ ăn lúa mạ vườn nầy của ta ...). Đại ý của thiên Bạch-câu là ân-hận không lưu giữ được người hiền cưỡi ngựa bạch câu.

    (2) Đoạn nầy lấy ý ở thiên Phạt-mộc thuộc phần Tiểu-nhã trong kinh Thi : Thiên vu kiều mộc, Oanh kỳ minh hĩ, Cầu kỳ hữu thanh ... (Thẳng lên cây vòi vọi vút cao, Oanh oanh cất tiếng thanh tao, Kêu lên tìm bạn hợp nhau vui hỏa ...) Đại ý của thiên Phạt mộc là nhóm bạn ăn uống vui chơi cho thỏa tình giao hảo.

    (3) Trắc tịch, ngồi nghiêng để chờ đợi bậc hiền tài.

    ---------------------

    - Lý-Đạo-Huyền giữ chức Chủ-bộ.

    - [21b] Lý-Thủ-Tố giữ chức Thiên-sách Thương tào.

    - Ngu-Thế-Nam giữ chức Vương-phủ ký thất Tham-quân.

    - Thái-Doãn-Cung, Tiết-Nguyên-Kính, Nhan-Tướng-Thì giữ chức Tham-quân.

    - Hứa-Kính-Tông giữ chức Tống-châu Tổng quản Hộ tào.

    - Cái-Văn-Đạt giữ chức Thái-học trợ giáo.

    - Tô-Húc giữ chức Tư-nghị điển tiêm.

    Có người lìa sông Hoài hàng ngàn dặm mà đến, có người đến nước Triệu vui mừng yết-kiến ba lần, có người rủ quần nơi phủ đệ, nhận chức làm tôi ở nước phiên, dẫn lễ độ mà thành phép tắc, làm văn mà vịnh thơ Phong (thơ Quốc-phong), thơ Nhã (thơ Tiểu-nhã và Đại-nhã), nhàn hạ tự đắc (ưu du) nơi mạc-phủ (1).

    Đó là việc dùng người đáng khen cả.

    Phải cho vị bổn quan kiêm chức văn học sĩ.

    Đến khi Tiết-Du mất, nhà vua lại vời quan Tham-quân lục-sự ở châu Đông-Ngu là Lưu-Hiếu-Tôn vào Văn-quán, rồi sai Khố-trực Diêm-Lập-Bổn vẽ hình tượng, lại để tên họ, tự hiệu, tước vị, quê-quán, và xuống sắc-lịnh cho quan Văn-học là Chử-Lượng làm bài tán về bức vẽ đóng thành một quyển gọi là Thập bát học sĩ (18 vị học-sĩ), vẽ chân [22a] dung đem cất ở thư-phủ.

    ---------------------

    (1) Mạc-phủ, phòng do màn căng lên trong quân lữ, phủ của tướng quân.

    ---------------------

    Các bậc học-sĩ đều được cấp-dưỡng bằng những món trận hào và được chia làm ba phiên luân lưu túc-trực ở trong các. Mỗi khi có việc quân quốc các vị học-sĩ đều được tham-yết vua.

    Các vị học-sĩ thảo-luận về sách-vở, thương-lượng xác-đáng những lời xưa, khảo xét việc nên hư có khi đến nửa đêm mới ngủ.

    Nhà vua ngự đến với dung sắc ôn-tồn với lê-nghi trọng hậu.

    Do đó thiên-hạ đề theo về triều-đình.

    Kẻ-sĩ kỳ tuấn đều lo bắt chước theo. Người thời bấy giờ ngưỡng-mộ việc ấy cho việc vào Văn-quán như lên cõi Doanh-châu (cõi tiên).

    Sách Sách phủ nguyên quy chép như sau :

    Đường Thái-tông bảo Huyền-Linh (1) và Như-Hối : « Các khanh làm chức Bộc-xạ phải mở rộng tai mắt hỏi thăm tìm kiếm bậc hiền-triết, những người có vũ nghệ mưu lược có tài trị quân thì cho gánh vác việc biên phòng, những người thông kinh sử trau dồi đạo đức thông hiểu tính lý thì dùng làm thị-thần (quan hầu cận vua), những người trong-sạch hiền lành có tài-cán và [22b] xử sự công bằng thì cho gánh vác những việc khó-khăn, những người có học-thức

    ---------------------

    (1) Phòng-Huyền-Linh, người ở đất Lâm-tri đời Đường, tên Kiều, tự là Huyền-linh, rộng thông sử sách, lúc Đường Thái-tông làm Tần-vương, làm Hành-quân ký thất tham quân, được phong Lâm-tri hầu, khi Thái-tông lên ngôi, làm đến chức Tả-bộc-xạ, ở ngôi Tể-tướng được 15 năm.

    ---------------------

    hiểu cổ kim, thông đạt việc chính thuật thì cho gánh vác việc trị người. Đó là công việc lớn-lao vằ tăng ích cho ta (1).

    Gần đây nghe thấy các khanh lo việc từ-tụng xử án ngày ngày không được rảnh-rang thì làm sao giúp Trẫm tìm kiếm bậc hiền tài ».

    Nhân đó, nhà vua xuống sắc-lịnh cho Thượng-thư dạy : Các vụ nhỏ-nhặt thì giao cho quan Tả-thừa và Hữu-thừa. Chỉ những việc đại sự oan uổng cần phải tâu lên thì mới giao cho quan Bộc-xạ.

    Những điều đó được ghi chép rất minh bạch.

    Sách Thiếu vi mông giám chép : Vua Đường Thái-tong cố sức làm việc nhân nghĩa, thương sót nhân-dân mà không thấy có chính lịnh thực-tế. Sách Cương-mục cũng không có chép.

    Sách Sách phủ nguyên quy chép : Mới lên ngôi vua Đường Thái-tông xuống chiếu tha những tù-nhân bị giam, thả về những kẻ bị lưu-đày, sáu châu ở Quan-nội được miễn hai năm thuế-má, toàn thể trong nước (2) được miễn làm xâu (3) một năm, ban cấp gạo vải lụa cho người già cả 80 tuổi trở lên, thương xót giúp đỡ người không vợ, không chồng, mồ-côi, không con cái, ban cờ biển đề sao những nhà có hiếu nghĩa.

    ---------------------

    (1) Hoằng ích, làm lớn-lao và tăng ích.

    (2) Suất thổ, toàn bộ cảnh vực.

    (3) Cấp phục, miễn làm xâu.