21.27 - Thế Anh (type done)

15/9/15
21.27 - Thế Anh (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-YVZ3SGxHeG1aNFU/view?pli=1ư

    Năm thứ 2, nhà vua lại [23a] xuống chiếu đại xá. Bài chiếu ấy có câu: Di tai Trẫm thân [] [] [] []. Nghĩa là: Đổ hết tai họa của thiên-hạ vào bản thân của Trẫm.

    Năm thứ 3, nhà vua lại xuống chiếu cấp cho những nhà có hiếu nghĩa và những người già cả tuổi cao thóc và lụa có cấp bậc khác nhau.

    Về phụ-nữ thì từ tháng giêng trở về sau hễ sinh con trai thì được ban cấp cho một thạch (1) thóc.

    Nhà vua ra lịnh cho các châu huyện về cứu chẩn hạng cùng dân và những nhà mới trốn tránh trở về.

    Đó là những việc thực-tế khi thi-hành chính-sách vương-đạo.

    Phần Nho-học truyện trong sách Đường-thư chép: lúc Đường Cao-tổ mới nhận mệnh trời, trường Quốc-tử-giám mới lập, sinh-viên có 72 người, vua xuống chiếu chọn lấy con em và cháu của các quan từ tam phẩm trở lên cho vào học. Trường Thái-học có 140 sinh-viên, chọn lấy con em của các quan từ ngũ phẩm trở lên cho sung vào học. Trường Tứ môn có 130 học-sinh chọn lấy con em của các quan từ thất phẩm lên cho vào học.

    Cái tên Tứ môn quán bắt đầu đặt ra từ đời Hậu Ngụy, người ta cho Tứ-môn quán tức là Tứ-môn của trường Thái-học là không phải.

    Bài tán về Mười tám vị học-sĩ trong Doanh-châu (2) do Chử-Lượng làm nay không thể khảo-cứu ra được.

    -----------------------------

    (1) Thạch, 4 đấu là 1 thạch.

    (2) Văn quán do Đường Thái-tông lập ra được người đương thời ngưỡng-mộ gọi là Doanh-châu (cõi tiên).

    -----------------------------

    Xem ở sách Tam tài đồ hội có một bài tán. Bài tán ấy của Tô-Húc như sau:

    1) Nghiệp mẫu du nghệ,

    [] [] [] []

    2) Cung cần đái kinh,

    [] [] [] []

    3) Thư truyền trúc bạch

    [] [] [] []

    4) Họa mỹ đan thanh .

    [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Đã trót thông minh vui thích với lục nghệ,

    2) Tấm thân siêng cần mang theo kinh sử,

    3) Tên họ được chép trên trúc trên lụa để truyền lại đời sau.

    4) Chân-dung được tô vẽ đẹp-đẽ thành nét đỏ xanh.

    Dịch thơ

    Về lục-nghệ trót thông-minh,

    Siêng cần mang lấy sử kinh bên người,

    Tên đề trúc bạch truyền đời,

    Chân dung tô vẽ đẹp tươi sắc màu.

    Thấy ở trong sách Thuyết-phu phần Đại-Đường tân ngữ lại có một bài tán. Bài tán ấy của Lục Đức Minh (1) như sau:

    -----------------------------

    (1) Lục-Đức-Minh, người ở Ngô-huyện đời Đường, tên là Nguyên-Lãng, tự là Đức-Minh, trong thời Đường Cao-tổ, làm bác-sĩ ở Quốc-tử-giám.

    -----------------------------

    1) Kinh thuật (1) vi quý.

    [] [] [] []

    2) Huyền phong (2) khả sư.

    [] [] [] []

    3) Lệ học phi viễn.

    [] [] [] []

    4) Thông nho (3) tại tư.

    [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Việc nghiên-cứu kinh truyện là quý.

    2) Đức giáo của thiên-tử đáng bắt chước theo.

    3) Gắng học, không xa nữa.

    4) Bậc thông nho ở đây rồi.

    Dịch thơ

    Nghiên cứu truyện kinh là quý thật,

    Đức giáo của vua rất đáng noi.

    Gắng công học, chẳng xa-xôi,

    Thông nho những vị ở nơi đây mà.

    Vua Đường Thái-tông có làm bài lục, gọi là bài Kim-kính (bài lục Gương vàng). Những lời thiết-yếu trong ấy như sau:

    -----------------------------

    (1) Kinh thuật tức là kinh học là nghiên-cứu kinh truyện, phân-tích nghĩa lý.

    (2) Huyền phong, đức giáo của thiên-tử.

    (3) Thông nho, nhà nho có kiến-thức sâu rộng.

    -----------------------------

    Chi trị vì thường nhiệm bất tiếu. Chi loạn vị thường nhiệm hiền. Nhiệm hiền hưởng thiên-hạ chi phúc. Nhiệm bất tiếu ly thiên-hạ chi họa [] [] [] [] [] [] []. [] [] [] [] [] []. [] [] [] [] [] [] []. [] [] [] [] [] [] [] []. Đời thịnh-trị chưa bao giờ dùng người hư-hỏng. Đời quá loạn chưa bao giờ dùng người hiền tài. Dùng người hiền tài thì hưởng được cái phúc của thiên hạ. Dùng người hư-hỏng thì mắc vào cái họa của thiên-hạ.

    Về sau vua Tuyên-tông (847-859) đọc đi đọc lại câu ấy ba lần mới thôi.

    Bài lục nầy thấy chép ở sách Cổ văn uyên giám.

    Sách Sơ-học ký (1) chép: Vua Đường Thái-tông có ban cho Tiêu-Vũ bài thơ như sau:

    1) Tật phong chi kính thảo.

    [] [] [] [] []

    2) Hôn nhật thức thánh thần.

    [] [] [] [] []

    3) Dũng [24a] phu an thức nghĩa?

    [] [] [] [] []

    4) Trí giả tất hoài nhân.

    [] [] [] [] []

    -----------------------------

    (1) Sở học ký, tên sách, có tất cả 30 quyển do nhóm Tử-Kiên đời Đường phụng sắc soạn ra, chọn chép những phần thiết yếu trong kinh sử văn-chương, xếp theo từng loại, chia ra 26 bộ, 313 mục, phần đầu kể sự, phần giữa là sự đối, phần cuối là thi văn, những bài chọn trích đều là sách cổ từ đời Tùy trở về trước.

    -----------------------------

    Dịch nghĩa

    1) Khi gió mạnh biết cây cỏ cứng.

    2) Ngày biến loạn tối-tăm mới biết tôi trung.

    3) Kẻ vũ-phu làm sao biết được điều nghĩa?

    4) Người trí tất nhiên phải nhớ điều nhân.

    Dịch thơ

    Gió dữ, biết cỏ nào cứng-cỏi

    Rõ tôi trung, ngày rối âm-u.

    Biết chi điều nghĩa vũ phu?

    Còn người trí phải lo tu nhân nghì.

    Đường Văn-hoàng (Đường Thái-tông) bảo Ngụy-Trưng (1) rằng: «Điềm lành chưa đến ư?»

    Chính sử không thấy chép việc nầy.

    Sách Sách phủ nguyên quy chép như sau:

    – Đầu niên-hiệu Trinh-quán (627) móc ngọt (cam lộ) giáng xuống ở Trường-An.

    – Ở Định-châu người ta nói sao Cảnh-tinh (2) xuất hiện.

    -----------------------------

    (1) Ngụy-Trưng, người ở đất Khúc thành đời Đường, tự là Huyền-thành, ham đọc sách, đầu tiên theo Lý-Mật về với nhà Đường, dưới thời vua Thái-tông làm Gián-thị đại-phu, làm quan đến chức Quan-lộc đại-phu, được phong Trịnh-quốc-công, người có chí đảm, dám can vua, vua Thái-tông phải kính nể, có góp phần trong việc soạn Chu-sử, Tùy-sử, soạn sách Loại-lễ 20 quyển.

    (2) Cảnh-tinh, sao nầy xuất-hiện ở nước có đạo-đức.

    -----------------------------

    – Ở Cử-châu chim phụng-hoàng xuất hiện.

    – Năm Trinh-quán thứ 2 (628) ở Trường-an người ta dân lên vua lúa hột to (gia hòa).

    – Năm Trinh-quán thứ 4 (630) chim sẻ đỏ xuất hiện ở huyện Vạn-niên.

    – Năm Trinh-quán thứ 5 (631) mây lành (khánh vân) xuất hiện ở Tuấn-châu, suối nước ngọt tuôn chảy ở phía tây điện Đan-tiêu.

    Vua sai các quan từ bậc công khanh trở lên đi xem, và nhân đó vua ban cho bầy tôi rượu và lụa có khác nhau theo phẩm trật.

    Sách Đỗ thị thông điển chép như sau:

    Bài minh của Vũ-hậu khắc trên cái đỉnh ở Dự-châu:

    1) Hy Nông thủ xuất

    [] [] [] []

    2) Hiên Hạo ứng kỳ

    [] [] [] []

    3) Đường Ngu kế chủng

    [] [] [] []

    4) Thang Vũ thừa thì

    [] [] [] []

    5) Thiên-hạ quang trạch

    [] [] [] []

    6) Vực nội ung hi

    [] [] [] []

    -----------------------------

    7) Thượng huyền giáng giám

    [] [] [] []

    8) Phương hiến long ky (cơ)

    [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Vua Phục-Hy vua Thần-Nông ra đầu tiên.

    2) Vua Hiên-Viên vua Thiếu-Hạo đúng kỳ sinh ra.

    3) Vua Đường-Nghiêu vua Ngu-Thuấn nối gót theo.

    4) Vua Thành-Thang, vua Vũ-vương thừa thời thế lên ngôi.

    5) Thiên-hạ được đầy-đủ dồi-dào.

    6) Trong nước thuận hòa sáng sủa.

    7) Trời cao soi xét.

    8) Mới dựng nên nền tảng lớn-lao.

    Dịch thơ

    Phục-Hy Thần-Nông ra trước cả.

    Hiên-Viên Thiếu-Hạo đã nối theo.

    Đường-Nghiêu Ngu-Thuấn tiếp sau

    Vua Thang vua vũ cùng nhau ứng thời.

    Thiên-hạ đã khắp nơi giàu có.

    Trong nước thì sáng tỏ thuận hòa.

    Trời cao soi xét cho ta.

    Lớn lao nền tảng dựng ra vững-vàng.

    Sách Hầu chinh lục chép: Vua Đường Tuyên-tông (847-859) nói với quan Tể-tướng rằng:

    -----------------------------

    Thanh sơn bất yếm thiên bôi tửu.

    [] [] [] [] [] [] []

    Bạch nhật duy tiêu nhất cuộc kỳ.

    [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    Thưởng thức núi xanh thì uống ngàn chén rượu cũng không chán.

    Trọn một ngày chỉ đủ tiêu một ván cờ mà thôi.

    Dịch đối

    Núi xanh nào chán ngàn chung rượu,

    Ngày trọn chỉ tiêu một ván cờ.

    Làm vua mà ưa thích rượu cờ, lêu-lổng như thế thì làm sao trị dân được?

    Sách Tân Đường-thư chép: Sử đời Ngũ-đại không chép chiếu lịnh. Phần ghi chép công việc thì nhiều giản-lược khiến người đọc không thể không có điều bất mãn. Nhờ có sách Sách phủ nguyên quy còn có thể khảo xét được. Nếu không thì các việc xưa trải qua các đời đều mất cả không còn lưu-truyền.

    Trong sách Sách phủ nguyên quy có thiên Xá-hựu (Tha-thứ) chép 14 đạo chiếu thư của vua Đường Cao-tổ và Đường Thái-tông. Những chiếu thư ấy đều là thể-thống và đại quy mô để bình-định thiên-hạ và giữ-gìn thiên-hạ.

    Văn-thể những chiếu thư ấy cũng không phải biền-ngẫu (có từng cặp đối nhau). Âu-Dương-Tu đã xén bỏ cả.

    [25a] Sách Tả-truyện mỗi khi chép việc các nước đều nói: «Lễ dã».

    -----------------------------

    Chữ Lễ ở đây là gồm cả pháp-luật chế-độ mà nói.

    Vậy mà các nho sinh đời sau làm sách Lễ-nghi chú chỉ lấy năm điều cát, hung, quân, tân, gia (1) để phân chia sách Lễ-nghi chú ra từng tiết-mục mà làm lễ, lấy thực, hóa, binh, hình, quan-chế, tuyển-cử phân-biệt ra làm sách Lễ-nghi chí, mà cái ý của người xưa không còn nữa.

    Sách Huỳnh tuyết tùng thuyết chép: Người đời trước chia sách ra từng tiết mục, và dùng phần đầu phần cuối mà bao gồm. Tiết thứ nhất chép việc khẩn-yếu. Tiết thứ hai chép những câu hay. Tiết thứ ba chép những sự thực xưa.

    Như sách Tư trị thông giám của Tư-mã Ôn-công (Tư-mã-Quang) thì có thể xem và có thể bắt chước theo.

    Sách Thượng-thư (kinh Thư) chép riêng từng việc.

    Sách Xuân-thu biên niên thông kỷ là tổ của môn sử-học.

    Sách Hán-sử bắt chước theo sách Thượng-thư.

    Sách Thông-giám bắt chước theo sách Xuân-thu.

    Mỗi sách đều lập thành một phái riêng, nhưng mình theo cả hai cũng không hại gì.

    Chu-Tử (Chu-Hy) nói: «Sách Thông-giám khó [25b] xem hơn sách Hán-sử. Ở sách Hán-sử, mọi việc được chép thông suốt từ đầu đến cuối.

    Sách Thông-giám là loại biên-niên, cứ việc theo từng năm mà chép qua.

    -----------------------------

    (1) t là cát lễ, việc cúng tế trời đất thánh thần. Hunghung lễ, việc tang ma. Quânquân lễ, việc cúng tế trong quân đội khi hành quân. Tântân lễ, việc đón tiếp tân khách. Giagia lễ, việc cưới hỏi.

    -----------------------------

    Vả lại cũng nên xem sơ qua Chính-sử một lần rồi hãy xem đến sách Thông-giám.

    Người đời sau thích xem sách biên-niên mà bỏ phế sách kỷ truyện có được không?

    Nhưng Ôn-công (Tư-mã-Quang) có nói: «Tôi làm sách Tư-trị thông-giám, chỉ thấy có Vương-Thắng-Chi đòi xem qua một lần, còn người khác, đọc được mấy tờ đã xếp quyển lo ngủ. Sách này (Tư-trị thông-giám) đã giản-lược mà còn thế, huống chi chính-sử.

    Sách Cương-mục của ông Khảo-Đình (Chu-Hy) thật là loại sách Xuân-thu. Nhưng Chu-Tử chỉ mới thảo ra phần Phàm-lệ và phần Đề-yếu. Phần mục thì giao cho Nột-trai Triệu-Sư-Uyên trích nhặt biên ra, thật khác nhau rất xa, bèn gởi được hai ba quyển để Chu-Tử hiệu-chính. Xem những thư-từ gởi qua gởi lại thì có thể thấy rõ việc ấy.

    Cho nên Chu-Tử có nói: «Phần Cương thì muốn cẩn-thận nghiêm-chỉnh mà [26a] không sơ sót, phần Mục thì muốn rõ-ràng đầy-đủ mà không lộn-xộn tạp-nhạp.

    Nhưng tuổi già nhiều bịnh, chưa kịp đính-chính từng điều, cho nên quy-mô về việc trị nước trải qua các đời và lời nghị-luận còn có nhiều chỗ phải gọt sửa mà đến nay vẫn chưa làm được».

    Người đời sau đều cho sách ấy là do bậc đại hiền viết ra mà không dám bàn nghị phê-phán, như thế cũng là chưa khảo xét kỹ vậy.

    Người nhà Nguyên viết sử nhà Tống, bậc nhà Nho thấy xa hiểu rộng cho là rườm-rà.

    Nhưng nhà Tống (960-1276) đã trải qua hơn 300 năm,

    -----------------------------