21.28 - Thế Anh (type done )

21/8/15
21.28 - Thế Anh (type done )
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-c2w4UlBjSHc4Mzg/view?pli=1

    văn-vật, chế độ, chiếu-lịnh, tấu nghị quá nhiều làm sao mà đếm cho xiết, thế mà những ký, chí, truyện ghi chép còn chưa được phân nửa.

    Vua Hiến-tông (1465-1486) nhà Minh sai các bề tôi nho học soạn sách Thông-giám cương-mục nhà Tống và nhà Nguyên, đại-khái nói rõ-ràng dấu vết việc trị, loạn, hưng, suy, còn việc binh-mưu quốc-kế, lại-trị, dân-chính thì sơ-lược và bỏ sót khá nhiều, khiến người đọc thật không vừa [26b] ý.

    Tiết-Ứng-Dụ nhà Minh soạn sách Thông-giám cương-mục nhà Tống và nhà Nguyên, bắt chước theo Ôn quốc-công (Tư-mã-Quang), tuy chưa rõ-ràng bằng sách Tư-trị thông-giám, nhưng cương điều rất chu tất.

    Hợp ba sách ấy mà đọc thì có thể được đầy-đủ hoàn-toàn.

    Chu-Tử biên tập sách Tống danh thần ngôn hạnh có hai tập, Tiền-tập và Hậu-tập. Phần Bổn-truyện, Biệt-lục, Gia-ký, Tạp-biên trích chọn đã tường tận, cân nhắc cũng khéo, sự tích chép rõ-ràng khiến người đọc rất dễ mở-mang. Còn Chính-sử thì phần nhiều không thu-thập biên chép, thật quá sơ-sót.

    Một câu hay nửa lời của bậc tiền-bối có thể để cho mình thực-hành trọn đời, lại có thể chép biên sót lược được hay sao?

    Nhà nguyên soạn ba bộ sử : Tống-sử, Liêu-sử, Kim-sử ngang hàng nhau, nhưng thật đã lầm ở việc không phân biệt chính-triều và nhuận-triều (ngụy-triều).

    Nhưng nước Liêu nước Kim lập quốc hàng trăm năm, điển-chương và văn-vật không kém gì của triều Hậu-Ngụy.

    Nếu y theo lệ sách Tấn-thư, lấy nhà Tống làm [27a] chính-kỷ, lấy nước Liêu nước Kim làm tái-kỷ thì đều mai-một thất truyền.

    Nay về ba nước Tống, Liêu, Kim đều làm sử riêng khiến chế-độ của một đời được chép rõ-ràng trong sử sách, việc đó thật đáng khen.

    Nhưng trong Kim-sử những việc khen vua nhà Tống, việc đánh nhà Tống thật không đúng chính-lý.

    Còn Tống-sử thì không chép việc Đoan Bính cũng đáng bàn nghị, bởi vì quan chép sử chưa kịp điểm duyệt hay có điều kiêng kỵ tránh né vậy.

    Bài biểu của Lý-Quang-Tán đời Tống có câu: Khỉ nhược hồi loan phục đô đồn binh Thượng-đảng [] [] [] [] [] [] [] [] [] [] . Nghĩa là : Há bằng quay xa giá về kinh-đô và đồn-binh ở Thượng-đảng?

    Chữ hồi [] (là trở về, quay về) và chữ phục [] (là trở lại) trong câu trên là điệp ý.

    Xét ở sách Danh thần tấu nghị thấy chép bài biểu ấy, chữ Tuấn-đô là nói Biện-kinh.

    Thiên Khải-phong thuộc phần Bội-phong trong kinh Thi có câu : Tại Tuấn chi hạ [] [] [] [] . Nghĩa là : ở dưới ấp Tuấn nước Vệ.

    Vậy Tuấn-đô tức Biện-kinh.

    Sách Tống-sử chép lầm chữ Tuấn-đô ra Phục-đô.

    Sách Bút-lục của Vương-Tăng chép như sau:

    Vua Thái-tổ nhà Tống đi chơi ở Tây-đô. Trương-Tề-Hiền (1) mặc áo vải hiến dâng phương sách. Vua Thái- [27b] tổ vời Trương-Tề-Hiền đến, cho ngồi mà trần bày việc ấy trước mặt vua.

    Văn-Định (Trương-Tề-Hiền) lấy tay vạch đất điều-trần mười phương sách :

    1) Hạ Tinh Phần (hạ châu Tinh châu Phần).

    2) Phú dân (làm cho dân giàu có).

    3) Phong kiến (2).

    4) Đôn hiếu đễ (trau chuộng hiếu đễ).

    5) Cử hiền (tiến-cử người hiền tài).

    6) Thái-học (mở trường Thái-học).

    7) Tịch điền (ruộng dành cho vua tự ra cày lúc đầu mùa).

    8) Tuyển lương lại (tuyển chọn quan lại tốt).

    9) Trừng gian (trừng-trị kẻ gian).

    10) Tuất hình (thận trọng việc hình phạt).

    Nay sách Cương-mục không thấy chép mười phương sách nầy.

    Vua Thái-tông nhà Tống sai các bề tôi nho học soạn những bộ sách : Sách phủ nguyên quy, Thái bình ngự lãm, Văn uyển anh hoa, mỗi bộ một ngàn quyển, đều là sách đại văn tự ( loại sách lớn lao).

    --------------------

    (1) Trương-Tề-Hiền, người đời Tống, tự là Sư-lượng, bề tôi được yêu chuộng của Tống Thái-tông, trong thời vua Chân-tông, làm Binh-bộ Thượng-thư, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, sau làm Tư-không tên thụy là Văn Định, có viết sách Lạc-dương tấn thân cựu văn ký.

    (2) Phong kiến, Thiên-tử lấy tước-vị và đất-đai phong cho chư-hầu và khiến chư-hầu kiến quốc ở đất được phong ấy.

    --------------------

    Sách Tống danh thần ngôn hạnh lục chép sử và truyện các bề tôi nổi tiếng :

    Khấu-công bị biếm (bị giáng chức quan), chết ở Lôi-châu.Vua xuống chiếu đưa linh-cữu về chôn ở Lạc-dương. Khi linh-cữu đi ngang qua đất Công-an, dân chúng đều ra đón rước cúng tế, đốn tre cắm xuống đất, treo giấy tiền mà đốt.

    Những ngọn tre ấy lại mọc và lên măng thành tre. Người ở kinh-đô cho là thần, gọi tre ấy là Tướng-công-trúc, nhân đó mới [28a] lập miếu ở một bên mà cúng tế.

    Sách Bút-lục lại chép như sau :

    Khấu-công bị giáng chức đi ra Lôi-châu, trên đường ra đất Công-an, đốn tre cắm trước miếu thân và khấn chúc rằng : « Nếu lòng nầy mà phụ triều đình thì tre nầy không sống. Nếu lòng nầy không phụ triều-đình thì tre nầy phải sống mọc lên lại ».

    Tre ấy quả nhiên mọc lên lại

    Hai thuyết không giống nhau.

    Chu-Tử nói : « Thuyết trước là đúng » .

    Sách Thông-giám chép : Vương-khuê (1) ở trai cung (2) làm thơ được vua Thần-tông trao chức Tham-tri

    Theo sách Loại-tụ thì hai kỳ tế Đại-xã vua phần nhiều sai quan cận thần ra tế.

    --------------------

    (1) Vương-Khuê, người ở đất Hoa-dương đời Tống, tự là Vũ-ngọc, đỗ tiến-sĩ cập-đệ, văn-chương tao-nhã đẹp-đẽ, điển-sách của triều-đình đều do tay ông viết ra, làm quan đến chức Thượng-thư Tả-bộc-xạ. Sách của ông viết có Hoa dương tập.

    (2) Trai-cung, cung dành cho thiên-tử trai-giới.

    --------------------

    Vương-Khuê làm quan 20 năm, trong khoảng niên-hiệu Hy-ninh (1067 – 1078) làm Hàn-lâm học-sĩ, lại bị vua sai đi, bèn đề thơ ở Trai-cung. Bài thơ ấy như sau :

    1) Lân kê vị xướng hiểu, sam (1) thôi.

    [] [] [] [] [] [] []

    2) Hựu hướng Linh-đàn ẩm tửu bôi

    [] [] [] [] [] [] []

    3) Tự tiếu trị lung tri bất túc

    [] [] [] [] [] [] []

    4) Minh niên cường kiện cánh trùng lai.

    [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Gà láng-giềng chưa gáy sáng, xe ba ngựa đã thúc-giục lên đường để đi xa.

    2) Lại đến linh-đàn uống chén rượu.

    3) Tự cười mình trị bịnh điếc mà biết rằng trị chưa đủ.

    4) Sang năm mạnh khỏe sẽ trở lại đây.

    Dịch thơ

    Xe ngựa giục, gà chưa gáy sáng,

    Đến linh đàn uống cạn rượu ngay,

    Cười mình trị điếc chưa đầy,

    Sang năm mạnh khỏe về đây hẹn rồi.

    [28b] Bởi vì từ xưa tục truyền : Uống rượu tế thu xã thì trị được bịnh điếc.

    --------------------

    (1) Sam, chiếc xe thắng ba ngựa.

    --------------------

    Sách Lữ-thị đồng mông huấn chép như sau :

    Y-xuyên tiên-sinh (1) nói : « Đời người có ba điều bất hạnh (chẳng may) :

    1) Trẻ tuổi mà thi đỗ cao.

    2) Nhờ thế-lực của phụ-huynh mà làm quan.

    3) Có tài cao và giỏi văn-chương.

    Chu-Tử bảo : « Những việc trái đời ấy nếu mắc phải mà không hiểu thì sẽ chậm trễ (2) cả một đời, lại không rảnh-rang để suy xét nghĩa-lý, chỉ từ bề ngoài xem được lớp da, đã vội bảo rằng mình đã hiểu được, đã không rảnh-rang để giảng-cứu tinh-vi, lại bị người ta xem mình là tiên-sinh trưởng-giả thì đã tự cao không chịu đi hỏi kẻ dưới » .

    Sử chép : Lý-Định nói : « Tô-Thức làm thơ chế nhạo, chỉ trích lấy một câu để chứng-thực việc ấy » .

    Trong sách Quảng thâu ký [29a] , Trương-Ô-Đài thi án chép rất rõ-ràng, như bài :


    QUAN TRIỀU THI

    [] [] []

    (Thơ về việc xem thủy-triều)

    1) Ngô nhi sinhh trưởng hiệp đào uyên

    [] [] [] [] [] [] []

    2) Mạo lợi vong thân bất tự liên

    [] [] [] [] [] [] []

    --------------------

    (1) Y-xuyên tiên-sinh, tức Trình-Di đời Tống.

    (2) Nguyên văn : Đam các [] [] là trì trệ.

    --------------------

    3) Đông-hải nhược tri minh chúa ý.

    [] [] [] [] [] [] []

    4) Ưng tri xích-lỗ (1) biến tang điền.

    [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Trai-tráng nước Ngô sinh trưởng (ở miền biển) đã quen với biển cả ba đào.

    2) Mạo hiểm vì lợi mà quên mình không tự xót thương mình.

    3) Biển Đông nếu hiểu ý của nhà vua sáng suốt,

    4) Thì phải biết biến đất mặn thành ruộng dâu.

    Dịch thơ

    Trai Ngô quen biết cả ba đào.

    Ham lợi quên mình chẳng xót đau

    Đông-hải nếu am lòng thánh chúa.

    Biết đem đất mặn biến nương dâu.

    VỊNH CỐI (2) THI

    [] [] []

    (Thơ vịnh cây cối)

    1) Lẫm nhiên tương đối cảm tương khí.

    [] [] [] [] [] [] []

    2) Trực cán lăng vân vị túc kỳ.

    [] [] [] [] [] [] []

    --------------------

    (1) Xích-lỗ, đất mặn có thể làm muối chớ không thể trồng-trọt.

    (2) Cối, cây cối thuộc loại cây tùng, thân giống cây tùng, lá giống lá cây bách, gỗ dùng về kiến-trúc.

    --------------------

    3) Căn đáo Cửu tuyền vô khúc xứ

    [] [] [] [] [] [] []

    4) Ta gian duy hữu trập long tri

    [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Đáng kính sợ đối lẫn nhau, dám đâu khinh nhục nhau?

    2) Thân cây cao thẳng vượt từng mây chưa đủ là lạ kỳ.

    3) Rễ ăn đến cõi Chín suối mà không có chỗ cong-co.

    4) Ở mấy chỗ ấy chỉ có con rồng ẩn nấp hiểu biết.

    Dịch thơ

    Đáng kính sợ dám đâu khinh nhục?

    Đủ lạ chi, cao vút mây chồng.

    Rễ ăn Chín suối chẳng cong.

    Biết rành chỗ ấy chỉ rồng ẩn thân.

    TẠP THI

    (Thơ lặt-vặt)

    1) Trượng lê quả phạn khứ thông thông,

    [] [] [] [] [] [] []

    2) Quả nhãn thanh tiền (1) chuyên thủ không.

    [] [] [] [] [] [] []

    3) Doanh đắc nhi đồng âm ngữ hảo,

    [] [] [] [] [] [] []

    4) Nhất niên cường bán tại thành trung.

    [] [] [] [] [] [] []

    --------------------

    (1) Thanh-tiền, đồng tiền ngày xưa đúc bằng đồng và kẽm có màu xanh, cho nên gọi là thanh tiền.

    --------------------

    Dịch nghĩa

    1) Chống cây gậy bằng gỗ lê, đùm cơm mà đi gấp.

    2) Đồng tiền qua mắt mình thì hết sạch chỉ còn tay không.

    3) Được đứa trẻ có tiếng nói đẹp-đẽ.

    4) Một năm quá nửa ở trong thành.

    Dịch thơ

    Gậy lê, cơm bọc, bước nhanh,

    Đồng tiền qua mắt chuyển thành tay không.

    Trẻ thơ tiếng nói đẹp lòng,

    Một năm quá nửa ở trong vòng thành.

    o0o

    1) Lão niên bất thập tự yêu liêm,

    [] [] [] [] [] [] []

    2) Tàm quỷ xuân sơn tuẩn (1) quyết (2) cam.

    [] [] [] [] [] [] []

    3) Khỉ thị văn Thiều giải vong vị?

    [] [] [] [] [] [] []

    4) Nhĩ lai tam nguyệt thực vô diêm.

    [] [] [] [] [] [] []

    Dịch nghĩa

    1) Già đã tám mươi tuổi mà lưng phải đeo dao lưỡi liềm.

    2) Thẹn-thùng cho mình phải vào núi trong mùa xuân tìm măng tre và rau quyết ngọt để ăn.

    --------------------

    (1) Tuần, măng tre.

    (2) Quyết, một thứ rau để ăn.

    --------------------

    3) Há là vì nghe khúc nhạc Thiều (1) mà quên mùi thịt (2)?

    4) Ba tháng gần đây đã ăn không có muối (ăn lạt).

    Dịch thơ

    Lưỡi liềm tám chục lưng mang,

    Núi xuân tìm kiếm quyết măng thẹn người.

    Nghe Thiều, ăn há quên mùi?

    Đã ăn không muối một thời ba trăng.

    Tô-Đông-Pha nói : « Văn của Giới-phủ (3) chưa ắt là không hay, nhưng lỗi ở việc ưa khiến người ta đồng với [29b] mình.

    Đất mà tốt thì cùng sinh ra mọi vật mà không cùng sinh ra một thứ.

    Chỉ có đất hoang, đất xấu, đất mặn thì mới thấy mọc đầy một thứ tranh vàng lau trắng

    Đó là cái đồng của họ Vương (Vương-An-Thạch) ».

    Chu-Tử nói : « Vương-An-Thạch nói thế chưa đúng. Nếu cái học của ông là đúng khiến người người đồng như mình để cùng vào chỗ đúng thì sao lại không được ?

    --------------------

    (1) Thiều, tên khúc nhạc do vua Thuấn sáng-tác.

    (2) Sách Luận-ngữ có câu : Tử tại Tề văn Thiều tam nguyệt, bất tri nhục vị (nghĩa là : Khổng-Tử ở nước Tề, được nghe khúc nhạc Thiều luôn ba tháng ăn không biết mùi thịt).

    (3) Giới-phủ tức Vương-An-Thạch, người ở đất Lâm-xuyên đời Tống, tự là Giới-phủ, hiệu là Bán-sơn, tính hiểm độc và tự tin, nghị-luận cao kỳ, văn-chương hiểm-hốc, đỗ tiến-sĩ làm Tể-tướng triều Tống Thần-tông, được phong Kinh-quốc-công, định ý cải cách chính-trị, lập ra tân pháp Nông điền thủy lợi, Quân thâu, Thanh miêu, Bảo giáp, Mộ dịch, Bảo mã, Phương điền quân thuế đem ra thi-hành mà mong thành-công quá gấp, dùng người không xứng đáng, công hiệu chưa thấy mà-tệ loạn sinh ra, bèn tự xin ra bỏ ở ngoài mà mất.

    --------------------