21.29 - kimtientang (type done)

4/11/15
21.29 - kimtientang (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-WWRib2xtMzVXRHc/view?pli=1


    Nếu khiến trông ra thấy đều là một thứ lúa nếp lúa kê mà không có cỏ dại chen mọc vào thì sao lại không thể được?

    Chỉ vì cái học của Kinh-công (Vương An Thạch được phong Kinh-quốc-công) tự nó đã có chỗ chưa đúng vậy.

    Từ nhà Đường trở về sau, các quan ở kinh-đô sai người và lại viên dò xem triều đường có làm việc gì, có sai khiến ai, có trao chức quan cho ai thì biên vào giấy báo cho biết, gọi đó là triều báo.


    Lại-viên và người của các quan ở ngoài quận lưu lại ở kinh để (1) hễ có nghe được điều gì thì ghi chép vào miếng giấy để báo cho biết, gọi đó là để báo.

    Hai loại báo-cáo này đều tùy theo sự việc mà sao chép.

    Kinh-quốc-công Vương-An-Thạch chê sách Xuân-thu là loại triều (30a) báo vụn-vặt, ý nói sách

    Xuân-thu ghi chép vụn-vặt việc các nước mà lời văn thì nhiều chỗ sót thiếu.

    Trong bộ Thuyết-phu bài Nam Tống thị lệ ký gọi là tiểu kỷ thì có Ban triều lục, Cung triều báo và

    Duyệt quan đồ.

    Trong sách Chu-tử toàn thư, Chu-Hy nói có đọc một đoạn di bút của hai ông họ Trần luận về các sai lầm của học-thuật họ Vương (Vương-An-Thạch) rất là khúc chiết.


    Giả sử Kinh-quốc-công (Vương-An-Thạch) có sống lại cũng phải chịu thua mà khuất-phục


    không có lời nào chối cãi được.


    Sách Tính-lý đại toàn (2) đã ghi chép thiếu châm chước.


    ---


    (1) Kinh đề, nhà trọ ở kinh đô.


    (2) Tính-lý đại toàn, tên sách, có tất cả 17 quyển do nhóm Hồ-Quảng đời Minh Phụng soạn sắc ra, chọn


    lấy những thuyết của các nhà nho đời Tống, tất cả có 120 nhà.


    Chu-tử bảo học trò rằng: “Sách vở ghi chép, dẫu có giải thuyết rõ-ràng sao bằng tận mặt nghị-


    luận với nhau, một lời nửa câu cũng có chỗ làm cho mình thông hiểu. Cho nên người ta có câu:


    “Dữ quân nhất dạ ngữ, thắng độc thập niên thư” (...). Nghĩa là: Cùng anh nói chuyện một đêm


    còn hơn đọc sách trong mười năm.


    Một đêm nói chuyện cùng anh,


    Còn hơn đọc sách một mình mười năm.


    [30b] Chu-Biện (2) vâng mệnh đi sứ nước Kim có làm bài văn tế vua Tống Huy-tông, nay thấy


    chép ở sách Chu văn công tập như sau:


    1) Ổi (3) dĩ phạm dung.


    (...)


    2) Ngộ mông tuyền trạch.


    (...)


    3) Mậu lâm phong thảo, bị vũ lộ ư đương niên.


    (...)


    4) Tuyệt đảng thù lân, mạo phong sương ư tương lão.


    (...)


    5) Tiết thượng chi mao (4) tận lạc.


    (...)


    ---


    (2) Chu-Biện, người ở đát Vụ-nguyên đời Tống, tự là Thiếu-Chương, hiệu là Quan như cư sĩ, mới 20 tuổi


    đã vào trường Thái-học, tự xin đi sứ sang nước Kim, thủ tiết không chịu khuất, khi hòa nghị thành, được


    trở về. Ông có viết những sách Sinh du tập, Thư-giải, Khúc vĩ cựu văn, Phong nguyệt đường thi thoại.


    (3) Ổi, lạm.


    (4) Tiết mao, vật cảu vua ban cho sứ-giả cầm để làm tin, có lông đuôi con ly-ngưu gắn ở đầu gù.


    6) Khẩu trung chi thiệt đồ tồn.


    (...)


    7) Thán mã giác chi vị sinh, hồn tiêu tuyết giáo.


    (...)


    8) Phan long nhiêm nhi mạc đãi, lệ sái băng thiên.


    (...)


    Dịch nghĩa


    1) Lạm dùng kẻ tầm thường.


    2) Lầm lẫn đội ơn vua tuyển chọn.


    3) Nơi rừng rậm-rạp cỏ um-tùm, chịu mưa và móc đương năm ấy.


    4) Xa thân-thích cách láng-giềng, mạo gió sương lúc sắp già nua.


    5) Trên cây tiết-mao, lông đà rụng hết (2).


    6) Ở trong miệng, lưỡi hãy vẫn còn (3).


    7) Than thở sừng ngựa chưa mọc (4), hôn tiêu nơi hang tuyết.


    8) Vin râu rồng (5) mà không kịp, lệ rảy giữa trời băng.


    ---


    (2) Trên cây tiết-mao, lông đà rụng hết, ý nói thời gian trải qua đã lâu.


    (3) Ở trong miệng, lưỡi hãy vẫn còn, ý nói Chu-Biện đi sứ sang nước Kim bị giữ lại, thủ tiết mà không


    chịu khuất.


    (4) Ngựa mọc sừng tức Mã sinh giác, việc không bao giờ có. – Yên-Đan đi sứ sang nước Tần bị giữ lại.


    Yên-Đan xin về, Vua Tần bảo: “Chừng nào con quạ bạc đầu, con ngựa mọc sừng thì ta cho ngươi về” –


    Ý nói không hy-vọng có ngày trở về.


    (5) Rầu rồng tức Long nhiêm, theo sách Sử-ký, Hoàng-Đế lấy đồng ở núi Thú-sơn đúc cái đỉnh ở dưới


    núi Kinh-sơn, khi cái đỉnh đúc thành có con rồng thòng cái râu xuống rước Hoàng-Đế. Hoàng-Đế lên cỡi,


    quần thần và hậu cung theo lên hơn 70 người, rồng mới bay lên đi. Còn những thiểu thần không được


    theo lên mới nắm râu rồng, râu rồng rụng rớt xuống làm rơi cây cung của Hoàng-Đế. Trăm họ ngưỡng


    mộ Hoàng-Đế đã lên trời mới ôm cây cung và vin râu rồng mà kêu khóc.


    Sách Chu văn công tập lại sơ lược chép bài chế của vua Cao-tông sai Chu-Biện vâng mệnh đi


    sứ như sau:


    1) Trẫm phương ỷ đồng Tấn quốc, dụng Ngụy-Giáng dĩ hòa Nhung.


    (...)


    2) Khanh kỳ viễn thể Hầu sinh, ngự Thái công nhi quy Hán.


    (...)


    Dịch nghĩa


    1) Trẫm vừa dựa theo gương nước Tấn đã dùng ý-kiến của Ngụy-Giáng (1) giảng hòa với rợ


    Nhung.


    2) Khanh nên bắt chước Hầu-Sinh (2) đánh xe đưa Thái-công về bên Hán.


    Chu-Biện là chú họ của Chu-tử (Chu-Hy).


    Sách Tống sử thông giám chép bức thư viết tay của Nguyên-hựu Hoàng-hậu (3) khiên Khung-


    vương lên nối ngôi. Đó là [31a] lời văn sâu rộng.


    Toàn bức thư ấy thấy chép ở sách Tứ tục văn tông như sau:


    1) Ti dĩ địch quốc hưng sư


    (...)


    2) Đô thành thất thủ.


    (...)


    ---


    (1) Ngụy-Giáng, làm quan đại-phu nước Tấn đời Xuân-thu, dưới thời vua Biện-công, Sơn-nhung Vô-


    Chung-Tử xin giảng hòa. Ngụy-Giáng nói giảng hòa với Sơn-nhung có 5 điều lợi, bên mình ước với rợ


    Nhung.


    (2) Hầu-Sinh tức Hầu-công, người đầu đời Hán, Hán-vương sai Hầu-công đi thương-thuyết với Hạng-Vũ.


    Hạng-Vũ và Hán-vương định hòa ước chia đôi thiên-hạ, Hầu-công đánh xe rước cha mẹ vợ con của


    Hán-vương, được Hán-vương phong Hầu-công làm Bình-quốc-quân.


    (3) Nguyên-hựu Hoàng-hậu, Hoàng-hậu của vua Tống Triết-tông.


    3) Xâm triều cung khuyết, kỳ nhị đế chi mông trần (1).


    (...)


    4) Vu cập tông banh (2), vị tam linh (3) chí khải bốc.


    (...)


    5) Chúng khủng Trung-nguyên chi vô thống


    (...)


    6) Cố linh cựu bật dĩ lâm triều.


    (...)


    7) Tuy nghĩa hình ư sách, nhi dĩ tử vi từ (4).


    (...)


    8) Nhiên sự bách ư nguy, nhi phi quyền mạc tế.


    (...)


    9) Nãi dĩ suy lung chi chất


    (...)


    10) Khởi ư nhàn phế chi trung


    (...)


    11) Nghinh trí cung vi


    (...)


    12) Tiến gia vị hiệu


    (...)


    13) Cử Khâm Thánh dĩ hoàn chi điền.


    (...)


    14) Thành Tĩnh Khang dục phục chi tâm.


    (...)


    ---


    (1) Mông trần (phủ bụi), nói vua chạy ra ngoài tránh nạn.


    (2) Banh, lễ tế ở cửa tông-miếu.


    (3) Tam linh, Trời, Đất và người – Mặt trời, mặt trăng và tinh-tú.


    (4) Chữ từ ở đây phải hiểu theo động-từ, để đối với chữ tế ở dưới.


    15) Vĩnh ngôn lịch số chi truân,


    (...)


    16) Tọa thị bang gia chi phúc.


    (...)


    17) Phủ cung độc cảm,


    (...)


    18) Lưu thế hà tùng?


    (...)


    19) Diễn duy (1) Nghệ tổ chi khai cơ,


    (...)


    20) Thực tự cao khung chi quyến mệnh (2)


    (...)


    21) Lịch niên nhị bách, dân bất tri binh,


    (...)


    22) Truyền tộ cửu quán, thế vô thất đức.


    (...)


    23) [31b] Tuy cử tộc hữu Bắc viên chi hấn,


    (...)


    24) Nhi phu thiên đồng tả đản (3) chi tâm.


    (...)


    ---


    (1) Diễn duy, suy nghĩ xa xôi.


    (2) Quyến mệnh, đoái thương mà sai khiến.


    (3)Tả đản, Chu-Bột đời Hán toan giết họ Lữ để khôi phục họ Lưu, nhưng sợ lòng quân không theo, bèn


    ra lệnh rằng: “Ai theo về họ Lưu thì vén ống tay áo bên tả lên (tả đản). Quân-sĩ đều một lòng bênh-vực


    nhà Hàn, cùng vé ống tay áo bên tả. Vì thế mà Chu-Bột trừ được họ Lữ, khôi-phụ nhà Hán. Tả đản là


    bênh-vực.


    25) Nãi quyến hiền vương


    (...)


    26) Việt cư cựu phục


    (...)


    27) Dĩ tuận quần tình chi thỉnh


    (...)


    28) Tý ưng thần khí (1) chi quy


    (...)


    29) Do Khang-đế chi cựu phiên


    (...)


    30) Tự Tống triều chi đại thống.


    (...)


    31) Hán gia chi nguy thập thế nghi Quang-Vũ chi trung hưng.


    (...)


    32) Hiền-tông chi tử cửu nhân, duy Trùng Nhĩ chi thượng tại.


    (...)


    33) Tư nãi thiên ý


    (...)


    34) Phù khỉ nhân mưu?


    (...)


    35) Thượng kỳ trung ngoại chi hiệp tâm.


    (...)


    36) Đồng đinh an nguy chi chi kế.


    ---


    (1) Thần khí, ngôi vua


    37) Thứ trăn tiều khế,


    (...)


    38) Dụng để phi bình


    (...)


    39) Viên bá cáo ư đa phương


    (...)


    40) Kỳ thâm minh ư dư ý.


    (...)


    (Bài này viết theo thể biền-ngẫu, từng cặp đối nhau).


    Dịch nghĩa


    1) Gần đây: vì nước địch khởi binh,


    2) Đô-thành phải thất-thủ.


    3) Quân địch xâm phạm bủa vây cung khuyết khiên hai vua phải bỏ chạy ra ngoài.


    4) Và hại đến tông miếu, bảo rằng tam linh (Trời, Đất và Người) đã bói sang vận mới.


    5) Dân chúng sợ cõi Trung-nguyên (nước Tàu) thiếu người thống-trị.


    6) Chỉ cho quan chức cũ lâm triều.


    7) Tuy nghĩa đã lộ ra ở sắc diện, mà đã lấy cái chết để khước từ.


    8) Nhưng việc bức bách nguy-hiểm, nếu không quyền biến thì không thể cứu vãn được.


    9) Mới nghĩ đến ta với tư-chất yếu đuối bịnh hoạn,


    10) Đưa ta ra từ nơi nhàn phế,


    11) Đón về chốn cung vi.


    12) Thăng cho ngôi vị và tước hiệu.


    13) Cử hành điền lễ lúc bà Khâm-thánh Hiến-túc Hoàng-hậu đã trở về.


    14) Mà làm thành cái lòng muốn khôi-phục của vua Tĩnh-khang (niên-hiệu của vua Tông Khâm-


    tông, 1126).


    15) Mãi nói rằng lịch số truân chiên,


    16) Mà đành ngồi xem nước nhà nghiêng đổ.


    17) An-ủi mình mà riêng cảm


    18) Tuôn nước mắt vì đâu?


    19) Suy-nghĩ xa-xôi đến Nghệ-tổ đã mở nền,


    20) Thật tự trời cao đoái thương mà sai khiên:


    21) (Nhà Tống) trải qua hai trăm năm, dân-chúng không biết việc binh đao.


    22) Truyền phúc được chín đời vua, ở thế không có làm điều thất đức.


    23) Tuy toàn tộc có mối hiềm khích khi đi lên phương bắc.


    24) Nhưng khắp trời đồng một lòng bênh-vực.


    25) Ta mới quyến luyến Hiền-vương


    26) Hiện ở xa nơi đất cũ,


    27) Đã theo lời cầu thỉnh của dân-chúng.


    280 Để đáp-ứng với việc quy hoàn ngôi báu.


    29)Từ phiên-trấn cũ ở Khang-đế


    30) Lên ngôi đại thống của Tống triều.


    31) Nhà Hán đời thứ mười nguy khốn phải có cuộc trung hưng của vua Quang-Vũ (1)


    ---


    (1) Quang-Vũ, Hán Quang-Vũ đế, cháu 9 đời của Hán Cao-tổ, tên Tú, lúc bé lo việc cấy gặt, lớn lên hiểu


    đại nghĩa kinh Thư, cuối đời Vương-Mãng, cử binh ở Thung-lăng, đánh bại quân của Vương-Mãng ở


    Côn-dương, rồi tiến quân khắc-phục Trường-an, Vương-Mãng tự thiêu mà chết, Hán Quang-Vũ đế lên


    ngôi, định đô ở Lạc-dương lập triều đại Đông-Hán, trung-hưng được nhà Hán, ở ngôi được 33 năm, tên


    thụy là Quang-Vũ.


    32) Vua Hiền-tông có chín người con trai, nhưng chỉ có Trùng-Nhĩ (1) là sống còn.


    33) Ấy là ý trời,


    34) Há là mưu của người?


    35) Mong mỏi trong ngoài đồng lòng


    36) Cùng định kế lớn an nguy.


    37) Ngõ hầu đi đến việc tạm yên


    38) Mà tiến tới thái-bình.


    39) Vậy bá cáo khắp nơi


    40) Mong dân chúng rõ thấu sâu xa ý của ta.


    Xét theo đấy nước địch là nước Kim, mà toàn thiên không dám nói rõ đến nước Kim, sợ giặc


    thật quá lắm!


    Thời nhà Tống có nhiều người có tài viết văn và tâm thuật không đoan chính. Như Nhan-Kỳ (2)


    thảo thờ [32a] chiếu cho Trương-Bang-Xương (3) tiếm vị có câu:


    “Vô đức giả vong, tri âu ca chi dĩ khứ.


    (...)


    ---


    (1) Trùng-Nhĩ, con thứ của vua Tấn Hiền-công đời Xuân-thu, em của Thái-tử Thân-sinh, tên là Trùng-Nhĩ.


    Nàng ái thiếp Linh-Cơ của Hiền-công giết Thái-tử Thân-sinh, Trùng-Nhĩ phải chạy sang nươc Địch. Hiền-


    công mất, ngôi truyền cho Hoai-công. Tần Mục-công ghét Hoài-công mới tìm Trùng-Nhĩ cấp cho quân-đội


    đưa về làm Tấn-hầu, tức là Tấn Văn-công, làm minh-chủ chư-hầu.


    (2) Nhan-Kỳ, người đời Tống, tự là Di-Trọng, trong niên-hiệu Kiến-viêm làm quan đến chức Môn-hạ thị-


    lang.


    (3) Trương-Bang-Xương, người ở đất Đông-quang đời Tống, tự là Tử-năng, trong niên-hiệu Tĩnh-khang


    đỗ tiến-sĩ, làm quan đến chức Thiếu-tề. Khi quân Kim hãm Biện-kinh, bắt hai vua nhà Tống đi về bắc,


    Trương-bang-Xương nhận sách phong của quân Kim làm Sở đế, chiếm cả nội định hơn 40 ngày, sao


    đến Đông-kinh xin Khang-vương lên ngôi được phong Đông-an quận-vương, bị Lý-Cương hạch tội, dời


    đi ở Đàm châu, được lịnh phải tự sát.
  • Đang tải...