21.30 - kimtientang (type done)

4/11/15
21.30 - kimtientang (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-NTM5TjZmTi1vLUk/view?pli=1

    Đương nhân bất nhượng, tin lịch số chi hữu quy”.

    (...)

    (Hai câu biền-ngẫu đối nhau).

    Dịch nghĩa

    Không có đủ đức thì mất, biết rằng cuộc âu-ca thái-bình đã qua rồi.

    Làm điều nhân thì không nhường, tin lịch số đã định sẵn.

    Về sau, khi vua Cao-tông (1127-1161) lên ngôi, Nhan-Kỳ dâng tờ biểu tạ lỗi có câu:

    “Phu-tử phó Phật-hất (1) chi triệu, ý dục tôn Chu.

    (...)

    Kỷ-Tín (2) thừa Hán-vương chi xa, thệ tương cuống Sở”.

    (...)

    (Hai câu biền-ngẫu đối nhau).

    Dịch nghĩa

    Khổng-tử đi đến theo lời vời của Phật-Hất, là ý muốn tôn nhà Chu.

    Kỷ-Tín đi xe của Hán-vương, thề sẽ gạt Sở-vương Hạng-Vũ.

    Chuyện này thấy chép ở sách Thuyết-phu.

    ---

    (1) Phật-Hất làm chức Trung mân tế cho quan đại-phu họ Triệu nước Tấn thời Xuân-thu. Phật-Hất vời, Khổng-Tử muốn đi (Luận-ngữ).

    (2) Kỷ-Tín, tướng-quân của Hán-vương, Hạng-Vũ vây Hán-vương ở Huynh-dương rất ngặt, Kỷ-Tín xin đi xe của Hán-vương với mui vàng cờ tả-đạo ra đầu hàng để gạt Hạng-Vũ, Hạng-Vũ thiêu chết Kỷ-Tín. Nhờ đó Hán-vương được thoát thân.


    Nhạc Vũ-mục (1) tài-năng và phẩm-chất cao siêu, thơ cũng thanh nhã điêu-luyện.

    Sách Tống nguyên thi hội có chép vài ba chương. Có bài đề ở chùa Phiên-dương Long-cư tự như sau:

    1) Nguy thạch sơn tiền tự

    (...)

    2) Lâm tuyền thắng phục u

    (...)

    3) Tử kim chư Phật tướng

    (...)

    4) Bạch tuyết lão tăng đầu

    (...)

    5) Đàm thủy hàn sinh nguyệt

    (...)

    6) Tùng phong dạ đái thu

    (...)

    7) Ngã lai chúc long ngữ

    (...)

    8) Vi vũ tế dân ưu

    (...)

    ---

    (1) Nhạc Vũ-mục tức Nhạc-Phi, người ở đất Thang-âm đời Tống, tự là Bằng-cử, thờ mẹ rất có hiếu, nhà nghèo cố học-hành, trong niên hiệu Tuyên-hòa ra ứng mộ đi đánh quân Kim, lắm lần phá được quân Kim được vua Cao-tông tự tay viết 4 chữ Tinh trung Nhạc-Phi và chế cờ ban cho, phá quân Lý-Thành, dẹp yên Lưu-Dự, chém Dương-Yêu, làm quan đến chức Thái-úy, cả phá quân Kim ở Chu-tiên trấn, muốn độ quân qua sông đanh quân Kim, lúc ấy Tần-Cối cố sức nghị hòa, giáng kim bài triệu Nhạc-Phi về và vu-cáo bắt Nhạc-Phi hạ ngục mà giết. Vua Hiếu-tông truy phong tước quan và ban tên thụy cho Nhạc-Phi là Vũ-mục. Vua Minh-tông truy phong Nhạc-Phi tước Ngạc-vương và đổi tên thụy là Trung-vũ.


    Dịch nghĩa

    1) Ngôi chùa trước hòn núi đá cao vút.

    2) Rừng suối, cảnh thắng lại thanh u.

    3) Các tượng Phật thếp vàng màu tía.

    4) Đầu nhà sư già bạc như tuyết.

    5) Nước đầm lạnh lẽo mọc lên mặt trăng.

    6) Gió ở ngàn thông ban đêm đượm hơi thu.

    7) Ta đến bảo con rồng:

    8) “Hãy làm mưa mà cứu dân đang lo-âu”.

    Dịch thơ

    Chùa trước núi cao vút.

    Suối rừng đẹp như u.

    Vàng tươi pho tượng Phật.

    Bạc phếu đầu thầy tu.

    Mặt nguyệt lạnh đầm nước.

    Gió tùng đêm khí thu.

    Ta cùng rồng dặn bảo:

    “Mưa xuống cứu dân sầu”.


    Chùa ngay trước núi vút cao,

    Suối rừng thắng cảnh thanh-tao u-nhàn.

    Những pho tượng Phật tía vàng,

    Bạc đầu như tuyết rõ-ràng sư ông.

    Nước đầm lạnh-lẽo trăng lồng,

    Ban đêm thu đượm gió từng lắt lay.

    Dặn rồng ta đến nơi đây:

    “Hãy tuôn mưa xuống cứu ngay dân sầu”.


    Sách Thang-âm từ miếu ký chép sự tích và văn-chương của Nhạc-Phi khá [32b] rõ-ràng.

    Bài biểu của ông về cuộc hòa nghị với nước Kim có câu”

    “Tuy Tần thị chi thập ngũ thành chung vi ngô hữu,

    (...)

    Nhiên Thương-ư (1) chi lục bách lý thượng niệm bỉ khi”.

    (...)

    (Hai câu biền-ngẫu đối nhau).

    Nghĩa là:

    Tuy mười lăm thành của họ Tần cuối cùng là sở hữu của ta.

    Nhưng sáu trăm dặm của đất Thương-ư còn lo họ lừa dối.

    Nhà Nam-Tống (2) có quân Bối-Ngôi. Phạm-Thạch-Hồ nói: “Người ở Yên-trung gọi bình rượu là ngôi. Bình rượu của đại-tướng đều giao cho người thân-cận đi theo mang lấy, cho nên gọi là bối-ngôi (bối là mang theo ở lưng, ngôi là bình rượu). Hàn-Thế-Trung (3) và Nhạc-Phi lấy tên bình rượu đặt tên đội thân-quân.

    ---

    (1) Thương-ư, tên đất ngày xưa, vì có Thương-thành ở đất Ư-trung, cho nên được gọi là Thương-ư.

    (2) Nam-Tống, đối với Bắc-Tống mà nói, nhà Tống từ vua Cao-tống dời về phương Nam giữ vùng phía Nam sông Hoài sông Hán, được sử gọi là Nam-Tống, có 7 đời vua, được 149 năm, khởi từ năm 1128 đến năm 1276 thì dứt, mất nước về nhà Nguyên.

    (3) Hàn-Thế-Trung, người ở đất Diên-an đời Tống, tự là Lương-thần, dũng mãnh thiện-chiến, tùng quân từ thuở nhỏ, đã đánh bại Tây-Hạ, bắt Phương-Lạp; nhiều chiến-công, làm quan đến chức Gia-châu phòng ngự-sứ. Khi vua Cao-tông dời về phương Nam đến Tiền-đường, bọn Miêu-Truyền, Lưu-Chính-Ngạn làm phản cướp vua. Hàn-Thế-Trung đánh phá Hàng-châu đuổi bắt được bọn Miêu-Truyền, Lưu-Chính-Ngạn ở Ngư-lương mà giết cả. Ngột-Thuật nước Kim đem binh 10 vạn xâm-phạm phương Nam, Hàn-Thế-Trung đem 8 ngàn quân đóng đồn ở Trấn-giang cả phá quân Kim ở Hoàng-thiên-đãng. Quân Kim và Lưu-Dự hợp binh chia đường đến đánh phá bị Hàn-Thế-Trung phục kích hơn 20 chỗ, cả phá được bọn giặc. Tần-Cối cầm quyền chủ hòa nghị, Hàn-Thế-Trung chỉ-trích, bị Tần-Cối thu binh quyền, từ đó ở ẩn nơi Tây-hồ, không bàn luận việc binh, thường mang rượu cời lừa tiêu-đao, ngày về già ưa đạo Phật, đạo Lão tự gọi mình là Thanh-lương cư sĩ.


    Sách Ủy hạng tùng đàm chép: La-Quán-Trung (1) ở đất Tiền-đường (2) tên Bổn, người đời Nam-Tống (3) soạn tiểu-thuyết hằng mấy mươi bộ, như truyện Thủy-hử, kể việc bọn Tống-Giang gian trá trộm đạo, trót lọt, mưu cơ khéo-léo rất rõ-ràng, nhưng biến trá trăm đường, hại tâm thuật của con người, về sau con cháu ba đời đều câm.

    Đạo trời ưa [33a] trở lại, cho nên việc báo ứng là như thế.

    Bộ Tam-quốc diễn nghĩa cũng do La-Quán-Trung viết ra, ông đã dựa vào chính-sử dựng ra những việc không có phần nhiều không gần với lẽ phải. Các nhà nho trên đời không tin sách của Trần-Thọ (4) mà tin sách này của La-Quán-Trung.

    Sách này đã không có kiến-thức chân-chính, lại có những lời nói những câu ngạn-ngữ ở làng quê vốn không phải là chính pháp làm văn. Lại có những người dùng những lời ấy mà khoe-khoang là tân kỳ rồi dương dương tự đắc mà không biết là đã lầm vậy.

    Họ Phan ở Dương-tiết tổng luận các triều-đại đã trải qua của Trung-quốc thật là thuần-hậu thâm-thúy và vĩ-đại. Thật là một áng văn trứ danh của ngàn xưa.

    Đọc sách Thiếu vi thông giám thấy đặt họ Phan ở Dương-tiết đứng đầu các thiên mà không thấy chép là người thời nào.

    ---

    (1) La-Quán-Trung, các từ điển đều chép là người cuối đời Nguyên người đất Hàng-châu tên Bổn, tự là Quán-Trung, có soạn nhiều bộ tiểu-thuyết, như Tam quốc chi thông tục diễn nghĩa, Thuyết Đường, Phấn-trang lâu, Thủy-hử truyện từ hồi 70 trở về sau, Kim-Thánh-Thần cũng đoán lad do La-Quán-Trung viết nối theo.

    (2) Các từ điển đều chép ở đất Hàng-châu.

    (3) Các từ điển đều chép người ở cuối đời Nguyên.

    (4) Trần-Thọ, người ở đất An-hán đời Tấn, tự là Thừa-Tộ, đầu tiên làm quan cho Thục, với chức Quan các lịnh sứ lắm lần bị khiển truất, vào nhà Tấn làm chức Trứ-tác lang. Ông có soạn sách Tam quốc chí.


    Sách Minh-sử tập lược cũng không thấy chép đến.

    Sách Thuyết-phu chép bài Tuyết đình tạp ngôn có câu: Họ Phan ở Dương-tiết lúc trẻ thờ Ngụy-triều (1) làm sai tờ biểu trần tình.

    Bài này cũng không chép xuất xứ của ông như thế nào.

    Gần đây, xem sách Minh-sử bản mới khắc thấy ở phần Liệt-truyện [33b] chép: Phan-Vinh, tự là Kiêm-dụng, người ở đất Long-khê, trong năm Chính –thống thứ 13 (1448) đời vùa Anh-tông nhà Min, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng-thư bộ Hộ, thọ 78 tuổi được phong chức Thái-tử Thái-bảo.

    Tuyên-Du đời Tống nói: “Hiệu-đính sách vở như quét bụi, quét mặt này thì mặt kia bụi đóng”.

    Sách Giáp ất thặng ngôn của người nhà Minh chép: Lưu-Tử-Huyền đi sứ nước Triều tiên trở về nói: “Sách vở của nước này phần nhiều Trung-quốc không có. Vả lại những sách ấy thật sạch-sẽ tốt lành, không có một chữ nào là không bắt chước theo Triệu-Văn-Mẫn, bị giống người Ải-nô (tức Ainu, một chủng-tộc ở phía bắc nước Nhật-bổn ngày xưa) tàn hủy.

    Nước Triều-tiên bị vua Đường Cao-tông tiêu diệt. Đến thời Ngũ-đại, đời Tấn, Vương-Chiêu khôi-phục được nước ấy và gồm thêm được đất Tân-la, đất Bách-tế mà sử không chép rõ sự-tích.

    Họ Vương làm vua truyền nước cho con cháu, trải qua đời Tống đời Nguyên, đến đầu đời Minh họ Lý mới thay thế làm vua cho đến ngày nay, trong khoảng 700 năm mới thay đổi [34a] hai họ. Đó cũng là điều đáng thẹn của Trung-quốc.

    ---

    (1) Ngụy-triều, triều giặc, triều không chính-đảng, những có lẽ là triều nhà Ngụy, chữ Ngụy (...) (từ nhà Ngụy) viết lầm ra chữ Ngụy (...) (là giặc).
  • Đang tải...