21.vancuong7975(xong)WIKI

24/11/15
21.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    “Mỗi chính trị gia đều phải một lần đi qua văn phòng của tôi!” Y dọa rằng sẽ dùng mọi phương tiện cản trở đường công danh của vị ủy viên công tố.

    Một lần vào chiều chủ nhật, Hoffa dự một buổi tọa đàm trên tivi Washington. Cuối buổi phát, một phóng viên hỏi y về tình hình vụ xét xử Glen Smith, một thủ lãnh Teamsters Union ở Tennessee. Hoffa chớp lấy cơ hội khiêu khích: “Dư luận cần phải biết rằng bất chấp mọi cố gắng của ngài Kennedy, Glen Smith đã được tòa tha bổng”. Hàng triệu khán giả ti-vi chắc phải có cảm giác rằng ủy ban chúng tôi buộc tội oan ức cho Smith.

    Trong thực tế, Glen Smith là một tội phạm có nhiều tiền án. Trước khi cắm rễ trong công đoàn Teamsters Union, y đã bị kết án hai lần vì tội cướp giật. Sau đó y làm công tác tổ chức và đi khắp các thành phố. Trong thời gian này, trong danh mục hình sự của y có thêm vài vụ phạm pháp khác. Cuối cùng, y bị đưa ra tòa ở thành phố Chattamooga thuộc bang Tennesse vì tội hành hung. Điều khiển phiên tòa là chánh án Raulston Schoftield. Sau nhiều mánh khóe đáng ngờ, Schoffield đã tha bổng Smith.

    Tôi liền phái đến đó điều tra viên La Veru Duffy. Duffy xác minh rằng. Smith đã lấy 20.000 đôla từ quỹ công đoàn để hối lộ chánh án. Mặc dù Smith thú nhận điều đó, y vẫn không bị truất chức trong tổ chức công đoàn. Y tuyên bố rằng, y không hề vi phạm điều luật công đoàn.

    Hội đồng thẩm phán biểu quyết Smith phạm tội, nhưng chánh án lại thay đổi quyết định. Ông ta nói rằng quả là Smith không có tư cách của một thủ lĩnh công đoàn, xử sự không đúng, nhưng đồng thời bản luận tội không được viết theo đúng quy chế.

    Jimmy Hoffa cố gắng thuyết phục dư luận và chủ yếu các thành viên công đoàn rằng y có ý đồ tốt đẹp, rằng y ủng hộ các yêu sách của công nhân, rằng y chiến đấu vì sự tiến bộ xã hội của giai cấp công nhân. Y đã thành công không ngờ. Hoffa biết cách nói lôi cuốn người nghe, trên màn ảnh tivi hay trên diễn đàn y xuất hiện bảnh bao lịch sự, y biết tác động khán giả Mỹ và gây. cho họ cảm giác y là “người của họ”. Tất cả chỉ là đóng kịch. Mỗi sáng, y khoác mặt nạ đạo đức như là khoác bộ đồ lao động. Phải một thời gian dài, bộ mặt thật của y mới bị phát hiện.

    Thượng nghị sĩ Robert Kennedy nói tiếp: “Một thời gian Martin Odnoghue là luật sư của Teamsters Union. Trong giới công đoàn, ông là một trạng sư rất được kính nể. Ban đầu ông cho rằng James Hoffa. Song sau hai tháng, ông gọi điện cho tôi; “Ngài đúng hoàn toàn. Đây là thủ lĩnh công đoàn ăn hôi lộ và thủ đoạn tệ hại nhất mà tôi gặp phải. Công đoàn không bao giờ khôi phục được uy tín khi mà Hoffa vẫn còn là chủ tịch”.

    Chủ tịch liên hiệp AFL-CIO George Meany tuyên bố rằng Hoffa là kẻ thù số một của công đoàn. Có thể là chúng tôi mới chỉ phát hiện ra một phần nhỏ các hoạt động phi pháp của Hoffa. Nhưng chỉ phần nhỏ này cũng đã chứng minh hùng hồn rằng Hoffa phản bội các thành viên công đoàn, coi thường nguyên tắc dân chủ, biển thủ công quỹ hơn chín triệu rưỡi đôla. Hoffa và đồng bọn đã dùng các phương tiện tài chính của công đoàn để kinh doanh với quy mô lớn. Song y đã phạm tội nghiêm trọng nhất khi liên minh với những tên tội phạm khét tiếng Johnny Dio và Joe Glimco.

    Tesmsters Union có trong tay các phương tiện giao thông trong cả nước. Xe của Teamsters chở vợ đang chuyển dạ của anh đến nhà thương, xe khác thì chở người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tài xế Teamsters lái xe tải chở quần áo, thực phẩm và các vật dụng hàng ngày. Họ có thể gây ảnh hưởng tới sự cung cấp sữa, thịt đông, hoa quả tươi, tất cả các mặt hàng của hệ thống thương doanh. Họ thâu tóm cả xe lửa, vận tải hàng không và cả đường biển. Cuộc sống của mỗi công dân Mỹ thực chất nằm trong tay Hoffa và các thành viên Teamsters. Tuyệt đại đa số thành viên của tổ chức này là những người đứng đắn, tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Hoffa, công đoàn thường xuyên đối lập với pháp luật”.

    Năm 1961, khi John F.Kennedy, được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ, em của ông ta là Robert Kennedy giữ chức bộ trưởng tư pháp, ủy ban điều tra do Robert Kennedy lập ra đã phát hiện rằng, Jimmy Hoffa cộng tác với cả Cục tình báo trung ương CIA. Y lo việc môi giới giữa mafia với các nhân viên cao cấp CIA để vạch kế hoạch ám sát Fide Castro. Trong thời gian đó, CIA đang chiêu mộ và huấn huyện các tốp biệt kích đổ bộ lên Cuba.

    Biết được sự hợp tác giữa CIA với mafia và vai trò của Hoffa trong chiến dịch Mongoose, Robert Kennedy đã chính thức cấm giám đốc CIA hợp tác với Hoffa. Nguyên nhân thật là đơn giản: Robert Kennedy không muốn dư luận biết sự hợp tác của mafia với CIA trong vụ xét xử Hoffa.

    Các thám tử FBI và các thành viên của uỷ ban điều tra có trong tay đầy đủ tài liệu để uỷ viên công tố có thể luận tội Hoffa. Y bị đưa ra tòa ở Nashville. Nhưng trong phiên tòa bỗng nhiên có một thanh niên lạ mặt tiến lên phía trước và bắn bị cáo Hoffa bị thương nặng. Người ta không xác minh được đó là một tên giết thuê hay chỉ là một kẻ tâm thần muốn xuất hiện trên báo chí.

    Hai năm sau, Hoffa lại phải ra tòa ở Chattanooga vì tội tổ chức tội ác và vi phạm tự do cá nhân khi làm công vụ. Các thám tử FBI đã cung cấp cho tòa những bằng chứng về việc những tên giết thuê được Hoffa trả tiền đe dọa các thành phần và nhân chứng, và chính Hoffa thì hối lộ họ.

    Hoffa thuê các luật sư bào chữa nổi tiếng nhất Hoa Kỳ. Sau hai năm giằng co, cuối cùng vào tháng 12 năm 1966, tòa án tối cao Hoa Kỳ đã chuẩn y bản sơ án. Jimmy Hoffa lập tức tự vệ theo kiểu của mình.

    Tay chân của y tổ chức tổng bãi công trong Teamster Union, hòng gây áp lực giải phóng sếp. Song Hoffa vẫn phải chịu án và bị giải đến nhà tù ở Lewisburg và các tài xế “trung thành” lại bãi công. Hàng năm vào ngày sinh nhật của Hoffa, xuất hiện trên nhà tù máy bay mang theo lời chúc mừng sinh nhật.

    Y vẫn chưa chịu đầu hàng. Ngày 26.10.1967, y lại bị đưa ra tòa ở Chatttanooga. Nhưng Mafia đã khủng bố tinh thần các nhân chứng, không cho họ khai chống lại bị cáo. Tất cả, chỉ trừ có nữ thư ký công đoàn Mary Gordone. Mary dám can đảm chống lại sếp cũ, và biết nhiều chuyện bê bối về y. Sau phiên tòa cô ta yêu cầu cảnh sát bảo vệ nhưng bị từ chối. Chỉ sau vài tiếng đồng hồ, cô bị một tài xế tên là Enđriu Pulton cán chết.

    Người ta đồn rằng trong phiên tòa 19.3.1962. Hoffa đã hối lộ mỗi thẩm phán 10 nghìn đô la và y được tha bổng. Sau này vụ đó bị phát hiện và ngày 12.3.1964. Hoffa bị kết án tám năm tù và bị phạt 10 nghìn đôla. Sau năm tháng, các thám tử FBI tìm ra thêm các bằng chứng biển thủ công quỹ và Hoffa lãnh thêm năm năm tù giam nữa.

    Thế là cuối cùng Robert Kennedy đã chiến thắng, mặc dù suýt nữa ông ta bị thiệt mạng. Sau này người ta đã xác minh rằng Hoffa có chuẩn bị ám sát đối thủ của mình, rằng y có ý đồ thiêu cháy dinh thự của Kennedy, rằng y đã sẵn sàng thuê một hội giết người thanh toán địch thủ.

    Jimmy Hoffa phải ngồi tù 13 năm chẵn. Y bàn giao quyền hành cho bạn hữu Frank Fitzsimmons. Nhưng giống như các “bố già” Mafia, y tiếp tục điều khiển kinh doanh từ trong tù, và các đồng tiền ăn cắp lại đẻ ra lời lãi. Bộ trưởng tài chính của Teamsters Uninon vẫn là ông bạn già Allan Dorfman, và điều đó là một đảm bảo rằng quyền lợi của Hoffa vẫn được coi trọng. Tất nhiên là y không chịu an phận với bản án và đã thuê các luật sư có tiếng bào chữa trong phiên tòa phúc thẩm với ý đồ thay đổi kết quả. Y đã cố gắng vô ích, cuối cùng vẫn bị giải đến nhà tù Lewisburh.

    Song Hoffa chỉ ngồi tù có 3 năm. Ngày 13.12.1971, Tổng thống Nixon đã ký lệnh ân xá cho y. Sau này khi xảy ra vụ bê bối Watergate, dư luận được biết các “mánh khóe bẩn thỉu” của Tổng thống Nixon. Teamsters Union đã góp một triệu đôla vào quỹ tranh cử của Nixon. Đó là phần thưởng cho Tổng thống đã ân xá tên găngxtơ nguy hiểm Jimmy Hoffa.

    Khi được ra tù, Hoffa phải cam kết không hoạt động công đoàn nữa. Song vừa mới chân ướt chân ráo về nhà, y đã gây chuyện chống lại chủ tịch công đoàn Fitzsimmons và nối lại quan hệ với mafia. Nhưng mafia đã khai trừ Hoffa. Và không phải chỉ mafia. Cục tình báo trung ương, sau các vụ bê bối, đang cố gắng xóa mọi dấu vết về sự hợp tác với mafia. Trong thời gian đó, một số bạn hữu của Hoffa, từng làm trung gian giữa CIA và mafia, bị mất mạng trong những hoàn cảnh rất đáng ngờ, và cảnh sát không điều tra được vụ nào cả.

    Hoffa vẫn tự tin rằng y là nhân vật có thế lực chính trị với các khả năng tài chính vô hạn. Trong khi đó, cả uỷ ban pháp lý thượng nghị viện. Cục hình sự Bộ tư pháp và trước hết là thuế quan, đều quan tâm đến các thủ đoạn mờ ám của Teamsetrs Union.

    Jimmy Hoffa sống trong một biệt thự hai tầng ở Lake Orion, phía đông nam Michigan City. Sáng ngày 30-7-1975, sau khi tắm rửa ăn sáng, y thắng bộ complét xanh thẫm, ngồi vào chiếc xe con màu xanh lá cây đi đến nhà hàng Red Fox, y có cuộc hẹn ở đó. Vợ y còn nhìn theo qua cửa sổ và sau này đã khai rằng hôm đó y không được bình tĩnh, như thể sắp có một cuộc hội đàm quan trọng.

    - Hai rưỡi chiều, Jimmy gọi điện, - vợ của Hoffa khai - và hỏi Tony Giacalone có gọi điện không. Tôi nói rằng không và anh ấy yêu cầu tôi nhắn với Giacalone là anh đang chờ ông ta ở nhà hàng Red Fox, nếu ông ta có gọi. Đó là tất cả. Từ lúc ấy tôi không nhìn thấy anh ấy nữa.

    Từ giây phút đó không một ai nhìn thấy Hoffaa. Y mất không để lại dấu vết gì. Các thám tử FBI cố gắng lý giải sự bí ẩn, song kết quả không được công bố. Lý do rất hiển nhiên: Sự hợp tác giữa găngxtơ và CIA cần phải được giấu kín.

    Trong thực tế hôm đó, Hoffa có hẹn gặp trong nhà hàng Red Fox với thủ lĩnh công đoàn Anthony
    Provenzana và “bố già” mafia Anthony Giacalone từ Detroit. Chúng sẽ thảo luận cách thức chống lại chủ tịch Teamsters Union Fitzsimmons. Hoffa vẫn luôn tin rằng y sẽ quay lại cương vị cũ. Với người tình đầu. tiên, y có con trai tên là Charles O’Brien và nghe đâu đó là một trong số ít người y tin tưởng. O’Brien là bạn của Giacalone, nhưng y cũng làm việc với Fitzsimmons trong Teamsters Union với lương hàng năm là 45.000 đôla. Thực chất Fitzsimmons đã cưu mang O’Brien vì hồi đó O’Brien bất đồng với cha đẻ và không có một xu dính túi. Sau vụ Hoffa mất tích O’Brien bặt tăm hơi suốt năm ngày.

    Jimmy Hoffa chờ trong nhà hàng Red Fox đã lâu mà không thấy ai đến cả. Y lo lắng không biết việc gì xảy ra, cho nên y gọi điện cho vợ. Không lâu sau đó, Charles O’Brien đi đến và nói với Hoffa rằng Giancalone ở nhà. Bố con lên xe đi đến nhà “bố già” Giacalone. Ở đó, ba tên giết thuê Taomas Andretta, anh em Salvatore và Gabriel Briguli đang chờ sẵn. Chúng bắn chết Hoffa, nhét xác vào thùng đựng dầu rồi chở đến bãi sắt vụn xe Ford khu Dearbon ở Detroit.

    Mafia lũng đoạn các tổ chức công đoàn ở Mỹ. Bằng chứng biển thủ công quỹ có từ năm 1880. Báo cáo của Bộ lao động từ năm 1971" Ảnh hưởng Haffenden trong công đoàn Teamsters Union” nên tên 35 công đoàn bộ phận mà ở đó mafia có tiếng nói quyết định. Năm 1972. Allan F.Dorfman ở Chicago bị kết án vì tội nhận hối lộ 55.000 đôla và sử dụng công quỹ phi pháp. Dorfman cộng tác với Nick Civelli, sếp băng mafia ở Kansascity quản trị một nhà băng bí mật chuyên nhận tiền hối lộ. Một cộng tác viên vào ghế chủ tịch công đoàn.

    Báo cáo của FBI về mafia có dẫn ra các mánh khóe hậu trường như sau; “Những người muốn vay tiền được dẫn đến Civelli hay một tên mafia khác, những tên này lại tiếp tục gửi họ đến chỗ Dorfman. Sau đó Dorfman giải quyết công chuyện với các nhân viên thủ quỹ. Song Civelli là một trong nhiều thành viên mafia quyết định việc sử dụng các phương tiện của Teamstere Union”.

    Ở New Jersey một cán bộ cũ của công đoàn là Anthony Provenzano lo việc liên lạc giữa mafia và công đoàn. Y nổi tiếng với biệt hiệu “Tony Pro” uỷ ban thượng nghị viện đã xác minh rằng y là thành viên gia đình mafia Vito Genovese. Các em trai của y Munttio và Slvatore cũng làm việc trong tổ chức Teamstere Union.

    Từ năm 1961, Provenzano đã đứng đầu một trong các chi nhánh công đoàn mạnh nhất New Jersey và y giành được quyền lực bằng cách thuê bắn chết chủ tịch công đoàn hồi đó là Anthony Castellito biệt hiệu là “Nâu ba ngón”. Tuy nhiên lúc đó chánh án không có đủ bằng chứng để đưa ra tòa. Mãi đến vụ Jimmy Hoffa mất tích năm 1978, y mới bị kết án tù giam vì tội ăn hối lộ và giết người. Song người kế tục lại chính là con gái của y, như vậy trong thực tế,
    y tiếp tục điều hành các công việc làm ăn mờ ám từ trong tù.

    Các thám tử FBI biết rõ ai đã giết Jimmy Hoffa. Nhưng họ không có đủ bằng chứng. Như mọi lần, mafia đã bảo hiểm bằng cách thủ tiêu một trong ba tên tội phạm là Salvatore Brigugli.

    Trong khi điều tra, FBI đã phát hiện ra các vụ biển thủ công quỹ và sự lệ thuộc của các công đoàn khác vào mafia. Lãnh đạo Công đoàn lao động chân tay thế giới là Angelo Fosco. Người này nhận lệnh trực tiếp từ mafia Chicago. Mỗi quyết định quan trọng đều phải được mafia phê chuẩn.

    Chúng ta đã tìm hiểu tình hình công đoàn công nhân cảng trong thời gian chiến tranh. Phó chủ tịch là Anthony Scotto. Y xử sự và ăn mặc lịch lãm, có nhiều bạn trong giới chính trị, thường xuyên đi lại với thống đốc bang New Yok là Hugh Carey. Thế nhưng y lại là thành viên của băng Carlo Gambino. Và năm 1976, y phải vào tù vì tội ăn hối lộ 225.000 đôla.

    Scotto không phải là con cừu đen duy nhất trong các cán bộ công đoàn, hơn một phần ba ban lãnh đạo phải ra trước vành móng ngựa. Chủ tịch Liên hiệp công đoàn ngành giấy thế giới (The Paperwrkers InternationaUnion) Joseph Tonelli cũng là nhân vật quen biết. Với danh nghĩa cố vấn chính thức của cơ quan bảo vệ môi trường và thành viên ban lãnh đạo liên hợp FAL- CIO, thậm chí y đã được đích thân Giáo hoàng Paven VI trao huân chương. Trong khi đó, y biển thủ ít nhất là 340.000 đôla. Khi có nguy cơ phải ra toà, công đoàn đã thuê cho y hai luật sư bào chữa giỏi nhất ở Atlanta. Các luật sư này quen biết tổng uỷ viên công tố và nhận khoản tiền thù lao béo bở để có thế gây ảnh hưởng với các viên chức cao cấp Nhà trắng. Vụ việc đổ bể, Tonilli phải ngồi một năm trong nhà tù liên bang ở Allanta Wood thuộc bang Penylvania. Cùng với Tonilli, nửa tá tay chân của y cũng bị kết án tòng phạm.

    Từ năm 1959, quốc hội Mỹ đã duyệt y “đạo luật Griffin” (thượng nghị sỹ Landrum Griffin đưa ra) nhằm ngăn ngừa các thủ đoạn sử dụng tài chính công đoàn một cách phi pháp. Song mafia Hoa Kỳ thông thạo trong việc né tránh pháp luật. Trong 10 năm qua, chỉ có khoảng 500 cán bộ công đoàn bị kết án, mặc dù cho đến giờ, một loạt vụ án nhân sự với tổng số bồi thường 170 triệu đôla biển thủ đang được xét xử.

    Tân khách sạn Hyatt Lincolwood nằm ở trung tâm Chicago. Thứ năm ngày 20-1- 1983, khoảng sau 12 giờ trưa, từ cửa chính đi ra hai người đàn ông, họ hướng tới bãi đậu xe. Khi đến gần dãy xe đầu tiên, bỗng trước mặt họ xuất hiện các tay súng bịt mặt nạ. Súng nổ. Một người ngã xuống và thở hơi cuối cùng. Người đó tên là Allan Dorfman, 60 tuổi, và bác sĩ hình sự đếm được bảy phát đạn trên thi thể nạn nhân. Người còn lại, Irwin Weiner, chạy đến xe không trúng đạn. Những kẻ giết người trong mặt nạ biến mất và cho tới nay cảnh sát vẫn không tìm ra dấu vết gì về chúng cả.

    Allan Dorfman sống thọ hơn Jimmy Hoffa và người kế tục y là Frank Fitzsimmonos. Y chính thức trở thành “cố vấn đặc biệt” của chủ tịch công đoàn Teamsters Union Roy Wiliams. Bằng tiền công đoàn, y buôn bán đất đai và bất động sản ở Las Vegas, Florida và New Jersey. Song cuối cùng kẻ cắp đã gặp bà già.

    Quốc hội bắt đầu thảo luận để nghị đạo luật mới về giá cả giao thông. Đối với tài xế xe tải, đạo luật mới không có lợi. Williams và cả Dorfman tìm người có thế lực khả dĩ có thể ít ra là làm chậm sự phê chuẩn đạo luật này. Thượng nghị sĩ Howard Cannon là người được chọn mặt gửi vàng. Ông ta sống ở Las Vegas và muốn mua một khu đất thuộc về công đoàn Teamsters dorfman nhắn với Canno rằng ông ta sẽ nhận được khu đất với giá rẻ hơn 400.000 đôla, nếu như ông ta làm cho đạo luật không được thông qua ở quốc hội. Nhưng các thám tử FBI đã thọc tay vào kế hoạch hối lộ ngài thượng nghị sĩ.

    Đã một thời gian dài FBI nghe lén điện thoại của các thủ lĩnh Teamsters vì họ đã biết từ lâu sự hợp tác của công đoàn với mafia. Những cuộc nói chuyện liên quan tới việc hối lộ thượng nghị sĩ Canno bị ghi âm và được trao cho toà. Cannon mất 400.000 còn Alla Dorfman và chủ tịch công đoàn Teamsters bị gọi ra toà. Ngài “cố vấn đặc biệt” bị buộc tội, được tạm tha bằng tiền chuộc và kết thúc cuộc đời trước khách sạn Hyatt để y không bao giờ nói nữa. Y biết mình quá nhiều và biết đâu khi bị hỏi cung chéo, y lại chả tiết lộ điều gì đó.

    Vụ Allan Dorfman khẳng định rằng con đường tiến thân của Jimmy Hoffa không phải là duy nhất. Hoffa và cả Dorfman trưởng thành trong xã hội Hoa Kỳ, nơi mà lợi nhuận được đặt lên vị trí hàng đầu, cả Robert Kennedy chắc chắn cũng không chiến đấu vì quyền lợi dân lao động. Khi phát động chiến dịch chống mafia trong công đoàn, ông ta biết rằng, trong vai người bảo vệ quyền lợi và công lý, ông sẽ chiếm được cảm tình của cử tri. Chiến đấu chống tội ác, thập tự chinh chống chiến dịch tranh cử. Tất cả các chính phủ Mỹ trong 50 năm qua đều tuyên bố chống mafia để chiếm cảm tình của các cử tri. Phần lớn các lời hứa vẫn nằm nguyên trên giấy tờ. Và thế là các vụ kiểu Hoffa lại được lặp lại.

    NHÂN CHỨNG CHẾT
    Một người mặc áo blu của công ty sữa, đầu tóc rối tung, hốt hải chạy đến đồn cảnh sát. Ngay từ ngoài cửa, ông ta đã kêu lớn:

    - Giết người, thưa ngài chỉ huy!

    - Ở đâu, khi nào, ai?- Chánh cảnh sát Growes hỏi.

    - Đitheo tôi, tôi sẽ chỉ cho các ông thấy.

    - Khoan đã, ông sẽ chỉ cho chúng tôi thấy cái gì?

    - Xác chết.

    - Ai bị giết?

    - Tôi không biết, thưa ngài. Nhưng cái xác chết ấy được kéo đến trong bao tải!

    - Ai kéo xác đến?

    - Đàn ông. Mặc áo bành tô da lạc đà ngắn, và

    mũ...

    Ừ, mũ cũng giống bành tô.

    Cảnh sát liền đi đến công viên và tìm thấy trong bụi cây một bao tải. Họ quan sát hiện trường và kết luận rằng thủ phạm không giết người. Hắn chỉ mang xác chết đến đó thôi. Chắc phải là một người to lớn, vì bao tải nặng không bị kéo lê trên đất. Nhân chứng mặc áo blu đi đi lại lại một chốc rồi biến mất. Trong khi đó cảnh sát mở bao tải và lôi ra một xác người không tay, không chân và cũng chẳng có đầu.

    - Dễ hiểu thôi mà. Không để lại vân tay. Không thế nhận diện được. Nhưng, xin các ngài chú ý...! -thám tử Growes ngẩng lên nhìn mọi người chờ đợi. Không thấy ai lên tiếng, ông nói tiếp,- Thủ phạm đã phạm một sai lầm tai hại. Các ngài hãy xem đây hắn quên mất cái này. Chú rồng con này sẽ đi tìm hắn.

    Ở trên cổ tay, nơi các thuỷ thủ thường chạm mỏ neo và các nàng tiên biển với tên người yêu, nạn nhân có chạm một con rồng kiểu Trung Quốc.

    Năm 1967, ở cục hồ sơ FBI ở Pensylvania Avenue người ta đã xử dụng hệ thống điện tử nhận dạng bằng các ký hiệu. Họ có nhiều nhất là hai ba trăm con rồng Trung Quốc. Và thế là cảnh sát nhanh chóng tìm ra nạn nhân tên là William Kerr, cánh tay phải của bố già mafia Joseph Bonanno. Vài tuần nữa Bonanno phải ra trước toà vì tội giết người, hối lộ và buôn ma tuý.

    Ngày hôm sau người mặc áo blu lại xuất hiện ở đồn cảnh sát.

    - Tôi phải xin lỗi ngài, thưa ngài chỉ huy, nhưng hôm qua tôi sợ quá nên quên mất, Hắn ta đi đến bằng xe Chrysler màu xanh đen. Đây là số xe. Tôi đã ghi lại cho chắc ăn.

    Cái gì quá dễ dàng cũng đáng ngờ, nhất là trong nghề hình sự. Nếu cái đó có liên quan tới thế giới ngầm Mỹ hay thậm chí mafia, thì lại đáng ngờ gấp hai lần. Growes gọi điện đến phòng quản lý xe và được biết chiếc xe Chrysles xanh đen là của Roge Spilsbucy một phụ tá thành thạo của Bonanno. Găngxtơ thanh toán “nợ nần”? tại sao lại nhét xác vào bao tải? Tại sao lại mang xác đến công viên. Những găngxtơ nhà nghề không bao giờ làm như thế cả.

    Những nghi vấn của thám tử Growes được sáng tỏ khi ông được biết Spilsbury và Kerr đều là những nhân chứng quan trọng trong vụ án xét xử Bonano sắp tới. Sau đó, Growes nhận được báo cáo là cảnh sát đã lần ra nơi ẩn náu của Spilsbury. Người ta xông vào khách sạn nơi Spilsbury trốn dưới một tên giả, nhưng y nhả đạn như điên vào cảnh sát và cuối cùng bị cảnh sát bắn chết.

    Trong phòng có treo bành tô da lạc đà. Có vương vài sợi chỉ gai của bao tải đựng xác chết. Thế là đã rõ ai là hung thủ, song người ta vẫn thắc mắc, tại sao Spilsbury lại giết đồng bọn là Kerr và tại sao y lại để lại nhiều dấu vết ngây thơ vỡ lòng như vậy.

    Hai nhân chứng chết. Ngẫu nhiên mà hai tên mafia bất đồng thanh toán lẫn nhau? Có thật cảnh sát vụng về đến mức không bắn vào chân khi bắt Spilsbury? Chẳng phải những chuyện ngẫu nhiên là quá nhiều sao? Nhất là đằng sau vụ giết người, có thể cảm thấy bàn tay của mafia và Joe Bonanno?

    Vậy tên bố già mafia đáng sợ, lúc nào cũng ăn diện và xử sự như ông chủ nhà băng với những móng tay trau chuốt cầu kỳ đó là ai?

    Sự nghiệp của Bonanno bắt đầu chính xác vào thời điểm mà ngôi sao chiếu mệnh của Adonis tàn lụi, Joe Adonis, tên tội phạm tàn ác, không bao giờ bị bắt quả tang. Cảnh sát không thể thu thập được các bằng chứng thuyết phục để luận tội y. Nhưng tên găngxtơ xảo quyệt, một việc vụn vặt và y phải trả giá đắt cho sự vô ý đó. Năm 1953, Joe Adonis đến Cuba, nơi y có cổ phần trong các casino. Trong hộ chiếu của y có ghi rằng công dân Hoa Kỳ Joe Adonis sinh năm 1901 tại nhà số 26, đường State Street, thành phố Passaie thuộc bang New Jersey. Có trời mà biết tại sao số liệu đó làm cho các nhân viên sở di tản nghi vấn và họ đã gọi điện hỏi cảnh sát địa phương. Bức điện trả lời mới bất ngờ làm sao. Năm 1901, đường phố State Street chưa có, như vậy không thể có ngôi nhà số 26 để Joe Adonis ra đời ở đó được. Mánh khóe này không phải là mới. Hàng trăm nghìn, có thể là hàng triệu dân di tản bất hợp pháp đã làm giấy khai sinh giả, chỉ tốn khoảng vài chục đôla, và làm như họ đã sinh ra ở châu Mỹ.

    Joe Adonis là một người có thế lực. Từ năm 1935, y là chủ nhân của hãng Automotive Canveying Company of New Jersey, trong nhiều năm, độc quyền chuyên chở xe “Ford” từ nhà máy ở Edgewater đến các cửa hàng ở vùng bờ biển phía đông. Đây là một ngành kinh doanh béo bở. Hàng trăm xe trải khổng lồ, hai tầng đầy ắp xe Ford mới xuất xưởng, chạy liên tục 24 trên 24 giờ. Nhưng tại sao Ford Company lại ký hợp đồng dài hạn với găngxtơ Adonis? Người ta đã điều tra được là ban quản trị của hãng không còn đường nào khác.

    Adonir giành được vị trí độc quyền của mình một cách đáng ngờ. Một hãng cạnh tranh khác là New Carriens Company cũng có ý định ký hợp đồng. Trong cuộc họp đầu tiên, uỷ ban liên bang phải hoãn việc xẻt các đề nghị hợp đồng và đến phiên họp sau một tháng thì hãng cạnh tranh đã không còn tồn tại.

    Adonis tên thật là Giuseppe Dotto, người Sicilie và y đến Hoa Kỳ bằng con đường bất hợp pháp. Y là bạn hữu của các bố già mafia Frank Costello và Meyer Lansky. Nhưng rồi cuối cùng một phản đối và hối lộ đều vô ích. Năm 1956, y bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ trên tàu thủy “Comte Bianeamono” đến
    Janoy(Thiếu)....... mafia của y và phần lớn các kinh doanh
    chuyển sang tay Joe Bonanno. Bonanno trở thành một trong năm, nhiều nhất là bảy, bố già quan trọng nhất của mafia. Song năm 1967, y phải ra trước tòa vì các tội ác của mình.

    Bonanno không mảy may lo sợ. Hai nhân chứng quan trọng nhất là Kerr và Spilsbury đã vĩnh viễn im miệng và thế là y cùng bốn luật sư bào chữa có tiếng nhất Hoa Kỳ bình tĩnh ngồi vào chỗ của mình. Hàng ngày báo chí tường thuật cuộc đọ sức giữa các luật sư bào chữa của Bonanno và uỷ viên công tố Kimbell. Bonanno có uy thế và y cũng theo đó mà xử sự. Y lơ đễnh không thèm để ý đến các nhân chứng, thậm chí còn ngủ gật và bị cảnh cáo là coi thường tòa án.

    Ngày thứ tư của phiên tòa, một xe cảnh sát bọc kín xuất hiện và với sự hộ tống của hai hàng cảnh sát ken dày, hai người đàn ông lưng còng đội mũ sụp đi đến sảnh đường tòa án, uỷ viên công tố Henry Kimbell đã chờ họ ở cửa ra vào. Họ chào nhau rồi tiến vào bên trong.

    - Thưa tòa. Thưa các ngài thẩm phán, - viên viên công tố bước ra trước tòa.- Tôi yêu cầu thẩm vấn các nhân chứng.

    - Nhân chứng nào?- Chánh án hỏi.

    - Họ tên là Kerr và Spilsbuny

    - Họ đã chết rồi mà!- Chánh án kêu to.

    - Không, thưa tòa. Họ sẽ khai trước tòa.

    Sự xôn xao ở sảnh đường và sự kiện giật gân ở trang nhất các báo. Các ký giả chạy vội đến máy điện thoại. Vào thời điểm đó, Joe Bonanno và các luật sự bào chữa hiểu rằng họ không có cơ hội chiến thắng. Ủy viên công tố Henry Kimbell đã đưa họ vào bẫy. Ông đã dàn dựng thành công hai vụ giết người.

    Màn kịch thứ nhất xảy ra ngày 12.9.1967. Khoảng 4 giờ chiều có tiếng chuông điện thoại trong văn phòng uỷ viên công tố Kimbell và một ngươi đàn ông lạ lên tiếng. Người dó không chịu nói tên, nhưng thông báo là có một tin rất quan trọng. Vì các lý do an toàn, anh ta không muốn và cũng không thể đến chỗ Kimbell cho nên đã đề nghị gặp nhau ở một chỗ trung lập ngoài New York.

    Đó quả là một đề nghị kỳ quặc, song uỷ viên công tố Kimbell là một người từng trải. Ông không sợ rơi vào bẫy và đã thỏa thuận hẹn gặp với người nọ.

    - Tôi đã tố giác hắn, thưa tòa - Spilsbury nói trươc tòa.

    - Anh đã tố giác ai?

    - Joe Bonanno.

    - Về việc gì, nhân chứng Spisbury?- chánh án hỏi.

    - Tôi tố giác rằng Joe Bonanno đã ra lệnh cho tôi giết Billy Kerr.

    Chắc chắn là trong lịch sử tư pháp Hoa Kỳ không thiếu chuyện bất ngờ. Song cho đến bây giờ còn chưa xảy ra chuyện nhân chứng chết ra khai trước tòa. Vì vậy uỷ viên công bố Henry Kimbell phải giải thích việc tâm không bình thường của mình. Ông ta phải yêu cầu tòa chấp nhận phương pháp mới nghe tưởng chừng không hợp pháp.

    Kimbell biết là ông không có hy vọng chống lại mafia. Giống như nhiều vụ khác, các nhân chứng của ông sẽ không sống đến ngày xử án bố già Bonanno. Cho nên ông đã vạch ra kế hoạch đánh lừa bị cáo Bonanno và các luật sư của y.

    Spilsbury được lệnh giết Kerr để tên này không thể khai chống lại Bonanno trước tòa. Tên giết thuê biết rõ mình có thể trở thành nạn nhân tiếp theo vì y
  • Chia sẻ trang này