22.vancuong7975(xong)WIKI

25/11/15
22.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    còn lạ gì người đặt hàng. Biết là mạo hiểm nhưng cuối cùng, y đã gọi điện cho uỷ viên công tố. Kimbell tìm gặp Kerr và thông báo rằng hắn đã bị Bonanno kết án tử hình. Billy Kerr biết rằng y không thể chống lại bọn giết thuê. Nếu Spilsbury không giết y thì đã có kẻ khác. Cho nên y quyết định giả chết để rồi chờ đợi tình hình sáng sủa trong nơi ẩn trốn an toàn.

    Trong khi dàn dựng vụ giết người, uỷ viên công tố Kimbell biết rằng kịch bản phải giống sự thực cho đến từng điểm nhỏ, rằng cảnh sát phải nhập vai thật khéo, khiến cho những ký giả săn tin giật gân không mảy may nghi ngờ. Nghĩa là ông phải đạo diễn một vụ giết người hoàn hảo.

    Ông đi gặp người quản lý nhà xác ở Brooklyn. Họ chọn một xác đàn ông, được dành cho Viện nhân chủng học làm chí nghiệm, và tiến hành các phẫu thuật cần thiết. Cắt đầu và bàn tay không khó, chạm một con rồng Trung Quốc lên cánh tay tử thi mới là công việc vất vả. Nhưng cuối cùng thì người ta cũng làm xong việc đó. Spilsbury chở bao tải đựng xác chết đến công viên trong xe Chrrysler xanh đen, sau đó y gọi điện cho Bonanno báo tin hoàn thành nhiệm vụ.

    Bonanno ra lệnh cho Spilsbury “lặn” ngay, càng sớm càng tốt. Tên này chuyển đến ở trong một khách sạn rẻ tiền ở Harlem. Một người bán sữa phát hiện ra xác chết và đi báo cảnh sát. Nhưng đây là người của Kimbell, một vai trong vỏ kịch, cảnh sát đi đến hiện trường và cùng với họ là các ký giả, không mảy may nghi ngờ họ đã làm nốt phần công việc thứ hai cho Kimbell. Họ đã làm cho dư luận, nhưng trước hết là cho Bonanno và các luật sư bào chữa tin rằng một nhân chứng nguy hiểm sẽ không xuất hiện trước tòa.

    Bây giờ đến lượt Spilsbury. Y chờ những kẻ tới giết mình trong phòng ở khách sạn. Lần này không phải là những tên giết thuê của mafia. Theo kịch bản, Spilsbury sẽ bị cảnh sát vô ý bắn chết trong khi vây bắt. Cả người y run bần bật vì sợ hãi, y không tin rằng mọi chuyện sẽ xảy ra đúng theo phương án. Làm sao y biết được ai sẽ gõ cửa phòng khách sạn?

    Khoảng sáu đến tám giờ sau khi xác Kerr gia được phát hiện, trong hành lang khách sạn tranh tối tranh sáng, bỗng vang lên tiếng chân người. Sau đó có tiếng gõ cửa.

    - Mở cửa, cảnh sát.

    Họ đã thoả thuận, tất cả chỉ được phép có đạn giả, Spilsbury cũng vậy. Nhưng y sẽ tự vệ bằng cái gì nếu như phía bên kia không giữ lời? Biết đâu không phải là cảnh sát mà là tay chân của Bonanno, bởi vì sếp đã biết được sự phản bội của y?

    Màn kịch kết thúc tốt đẹp. Sau một lúc do dự, Spilssbury mở cửa và hai người lạ mặt cầm súng lục bước vào. Họ mỉm cười thân thiện và chĩa súng lên trần nhà bắn vài phát. Spilsbury thở phào, y cũng bắn vài viên đạn giả. Sau đó theo kịch bản, y nằm xuống sàn nhà.

    Vừa mới có tiếng súng nổ, trên hành lang đã xuất hiện những kẻ tò mò, thậm chí có cả phóng viên. Cảnh sát không cho ký giả vào trong, bởi vì “xác chết” chưa nằm đúng kiểu. Spilssbury, vẫn chưa lấy lại bình tĩnh nằm ngửa, mắt quả có nhắm giả vờ chết, nhưng lòng mi vẫn còn rung rung. Người ta khuyên y nằm úp mặt xuống đất.

    - Thế là hết đời- một cảnh sát nói và ra hiệu cho ký giả chụp ảnh.

    Lúc này đã có hàng chục nhân viên khách sạn và cả khách trọ nữa, tụ tập ngoài hành lang và mọi người có thể làm chứng cho việc cảnh sát trong khi tự vệ đã bắn chết tên găngxtơ. Cảnh sát gọi điện đến nhà xác thành phố để họ đến lấy xác.

    Những người làm công mặc áo choàng trắng mang quan tài vào trong phòng và đóng cửa lại. Spilssbury ngồi vậy và nằm vào trong quan tài có lót nệm. Người ta đóng nắp quan, khiêng quan tài xuống dưới, ra cửa sau. Một chiếc xe Packard đen chờ sẵn chở quan tài về nhà xác. Khi trời nhá nhem tối. Spilssbury được đưa ra cửa sau, uỷ viên công tố cùng hai phụ tá đã chờ sẵn trong xe. Họ đi đến một kho vũ khí quân đội được canh gác cực kỳ nghiêm ngặt, dành làm nơi trú ẩn cho Spilsbury và Kerr cho tới phiên tòa xét xử Joe Bonanno. Ở đó hai tên găngxtơ đã viết hơn 400 trang hồ sơ kể lại các tội ác của Bonanno và băng của hắn.

    Trước tòa án ở Mỹ, bản khai hoàn toàn không có giá trị, cho nên Kerr và Spilsbury phải nhắc lời khai trước hội đồng thẩm phán. Joe Bonanno và các luật sư bào chữa hiểu rằng họ đã bị mắc bẫy. Bởi thế họ đã linh hoạt thay đối chiến thuật. Bị cáo Joseph Bonanno bỗng khó thở, gục xuống rên rỉ, hai tay ôm ngực, mắt trợn ngược và bất tỉnh nhân sự. Một cơn đau tim. Người ta khiêng y ra ngoài không khí mát mẻ, làm y tỉnh lại. Các luật sư bào chữa yêu cầu tạm ngừng phiên tòa. Họ yêu cầu gọi bác sĩ đến ngay tức thời, thân chủ của họ vì quá phẫn nộ với sự “tráo trở” trắng trợn của ngài uỷ viên công tố đã lên cơn đau tim.

    Joe Bonanno nằm xuống sàn nhà. Bác sĩ pháp y đến khẳng định triệu chứng đau tim, uỷ viên công tố yêu cầu bắt giam Bonanno và đưa vào bệnh viện nhà tù. Nhưng chánh án theo quy chế xử án, đã hoãn phiên tòa và cho phép đưa Bonanno đến nhà thương tư.

    Henry Kimbell không tin là đã thua cuộc. Song các nhân chứng Kerr và Spilsbury hoảng sợ đã từ chối làm chứng. Họ biết rằng uỷ viên công tố không thể giấu họ mãi trong khi vũ khí được, vì thế họ quyết định im lặng. Mọi cố gắng của Kimbell đều vô ích và thế là ông quyết định phương án khác. Ông cho giải hai người vào tù và sáng hôm sau giám đốc nhà giam đưa cho họ quyết định bắt họ, uỷ viên công tố nghĩ rằng bằng cách đó ông bảo đảm sự tham dự của các nhân chứng trong phiên tòa. Dù sao thì ông cũng có hơn 100 trang tự thú và ít ra thì có thế buộc họ tội tòng phạm.

    Nhân chứng thì bị cùm còn Joe Bonanno thì được tự do. Dù bị đau tim thật hay chỉ làm ra vẻ như vậy. Bonanno và các luật sư đắc lực của y chắc hắn không ngồi bó tay. Ngay ngày hôm sau đã xuất hiện trong văn phòng uỷ viên công tố Kimbell hai người mặc thường phục, họ trình thẻ CIA và đưa ra quyết định của chánh án liên bang tối cao Earl Warren bắt Spilisbury và Kerr vì tình nghi tham dự một vụ làm bạc giả lớn.

    Mặc dù cuộc điều tra được giữ cực mật, Kimbell được biết đó là vụ làm bạc giả với tối thiểu 50 triệu đôla đã được đưa ra sử dụng. Số lượng tiền giả tổng cộng được ước đoán tới năm tỉ đôla.

    Chúng ta biết quá rõ sự hợp tác giữa CIA và mafia Hoa Kỳ, Bonanno thì có những ngón tay dài. Không khó khăn gì trong việc nhét vài túi bạc giả vào nhà Kerr và Spilsbury. Và cũng không gì dễ hơn việc tiết lộ với cảnh sát hay trực tiếp với CIA, như là khoản nợ phải trả, rằng hai người này có dính líu vào một vụ áp phe, rằng chỉ cần khám nhà họ thì rõ.

    Ủy viên công tố Henry Kimbell mất hai nhân chứng chủ yếu, còn Joe Bonanno, bình phục sau cơn đau tim, tự tin bước vào sảnh tòa. Ngày 21-12-1967, hội đồng thẩm phán hai mươi người tuyên bố: vô tội. Chánh án đã phải tha bổng bố già mafia vì thiếu bằng chứng.

    Ngày 12.1.1968, người phát ngôn của Cục tình báo trung ương CIA triệu tập một cuộc họp báo ở New York và thông báo với các phóng viên rằng các cơ quan an ninh Hoa Kỳ đã phát hiện được một vụ áp phe tiền giả khổnglồ. Trên sân bay Kennedy ở New York, các điệp viên CIA đã bắt giữ luật sư Joe Lee, định bay ra ngoại quốc với 4,7 triệu đôla giả, 50 triệu đô la đã tìm thấy ở nhà những người trung gian. Phần lớn găngxtơ tham dự vụ áp phe đã bị bắt, trong đó có Wiliam Kerr và Roger Spilsbury.

    CÁI CHẾT CỦA DON GIOVANNI
    “Bố già” Sam Giancana là chủ nhân của dinh thự kiểu Tây Ban Nha cổ ở khu phố Oak Park dành riêng cho các triệu phú ở Chicago. Ngày 19-6-1975 khoảng nửa đêm, ông chủ già nằm chết trong bếp.

    Suốt tối hôm đó, quản gia Dispersio cùng vợ xem vô tuyến. Trước khi đi ngủ, ông ta còn ra vườn và thấy trong bếp có ánh đèn. Ông ta liền vào bếp để tắt điện. Ông kinh hoàng thấy ông chủ nằm trong vũng máu. Giancana mặc áo sơ mi ngắn tay màu trắng và mang giày đi trong nhà, rõ ràng là y đi xuống bếp lấy bia. Dispersio lập tức quay số điện thoại của cảnh sát.

    Sau vài phút, một tốp điều tra đi đến hiện trường. Trong khi xem xét tử thi, chánh cảnh sát Peter Vaire xác định rằng Giancana bị bắn một phát vào đầu từ phía trước và năm phát vào gáy. Sau khi kiểm tra kỹ hiện trường toàn bộ khu biệt thự, cảnh sát xác minh kẻ giết người lọt vào bên trong không phải bằng sức mạnh. Hắn được chính Giancana mở cửa cho vào. Như vậy Giancana phải biết kẻ giết người. Có lẽ họ còn uống rượu với nhau nữa, vì trên bàn còn hai cốc uống dở.

    Kích thước vũ khí giết người cũng quá nhỏ, không phải kiểu thường dùng của những tên giết người chuyên nghiệp. Bọn này hầu như chỉ dùng các súng lục cỡ lớn. Nhưng nếu đó không phải là kẻ giết thuê, thì ai đã hạ sát bố già mafia? cảnh sát không tìm ra một dấu vết nào khả dĩ có hy vọng. Tuy nhiên nhiều giả thiết có thể suy ra từ các sự kiện trước đó gợi ý cho hướng điều tra, và thế là thám tử tiếp tục điều tra. Họ không tìm thấy bằng chứng mà chỉ xác minh được rằng Sam Giancana có tham dự chiến dịch tội ác của mafia và CIA nhằm ám hại Fidel Castro và trong những ngày sắp tới y sẽ bị uỷ ban thượng nghị viện hỏi cung. Người ta sợ y tiết lộ bí mật? Tất nhiên là như vậy.

    Vào thời gian này, bố già mafia quyền lực đã ở tận cùng sức lực của mình. Trước đó không lâu, y đã bị mổ mật, cần phải được yên tĩnh hoàn toàn để điều trị. Nhưng chẳng bao lâu nữa, Giancana phải ra trước uỷ ban điều tra và thế là các thám tử FBI và những người lạ mặt khác nữa liên tục đến gặp và đặt câu hỏi cho y. Y quyết định quay về biệt thự ở Chicago, mặc dù vẫn còn rất yếu, chắc chắn là kẻ giết người không phải vất vả lắm.

    Vậy thực tế găngxtơ Giancana là ai mà leo cao đến thế trong thang bậc xã hội? Làm thế nào mà một tên tội phạm bố già mafia nổi tiếng lại có thể can thiệp vào chính trị và tham dự mưu đồ đen tối của CIA với hiệp hội tội ác chống nước Cuba cách mạng.

    Sự nghiệp của Salvatore Giancana biệt hiệu là Momo, Mos hay Mooney, tương tự như tiểu sử các tên găngxtơ khác của thế giới ngầm Hoa Kỳ, Y bắt đầu như tên ăn cắp vặt, lớn lên trên đường phố, nơi hiện hành luật rừng không thương tiếc “ai thắng ai”. Khi còn niên thiếu, y đã là thành viên của “băng 42” khét tiếng, hành hoành còn trước cả băng Al Capone. Mới chưa đầy 20 tuổi, y đã ba lần bị tình nghi giết người. Nhưng lần nào y cũng được tha vì thiếu bằng chứng. Thỉnh thoảng y cũng phải vào tù một thời gian ngắn, khi thì vì tội trấn lột, lúc thì vì nấu rượu lậu. Khi phát hiện ra nguồn thu nhập dễ dàng bằng xổ số bất hợp pháp, y đã tổ chức một mạng lưới văn phòng xổ số khổng lồ, tiêu diệt các hãng cạnh tranh, mang lại cho mafia hàng triệu đôla. Y là tên găngxtơ bách nghệ và được bố :già mafia Accardo phong chức phó tướng.

    Hiệp hội tội ác ở Chicago có tiền thân là băng Al Capone từ những năm 20 và 30 khi phải vào nhà tù Alcatraz vương trướng của y được bàn giao cho Frank Nitti và tên này trị vì thế giới ngầm Chicago một sách khôn ngoan và tàn nhẫn cho đến năm 1943. FBI thu nhập được của y các bằng chứng tống tiền các hãng phim và đang chuẩn bị đưa ra tòa thì Frank Nitti không vững thần kinh đã tự sát. Tony Accardo, Biệt hiệu là “Big Tuna” (cá ngừ lớn) nguyên là vệ sĩ của Al Capone tên thay Frank Nitti. Năm 1957, bị thuế quan truy nã, y hoảng sợ bàn giao quyền hành lại cho Giancana.

    Vào thời gian này, Sam Giancana đã là một “bố già” với tất cả những gì thuộc về khái niệm đó. Y và các thứ trưởng của mình sống trong những biệt thự rộng lớn bên cạnh các triệu phú khác. Chúng có văn phòng đầy đủ tiện nghi những ngôi nhà đắt nhất, trên các đường phố cũng đắt nhất. Ban quản trị hiệp hội tội ác tiến hành các cuộc họp trong các phòng họp rộng lớn như của các nhà băng lớn. Doanh thu thì cũng thế hoặc lớn hơn, còn lãi thì nhiều hơn thu nhập của các liên hiệp công nghiệp. Tiền bất hợp pháp được chúng đầu tư vào tất cả các ngành kinh doanh hợp pháp.

    Cho đến năm 1937. Tony Accardo quả là một “sếp lớn”, sông trong biệt thự lộng lẫy giá nửa triệu đôla ở River Forest. Biệt thự có hai mươi hai phòng tiện nghi đắt tiền, hai sân chơi golf, bể bơi có mái che, nhà chơi bi a và sáu bể tắm bằng đá quí. Khóa và vòi nước đều bằng vàng.

    Khu đất rộng lớn được một hàng rào cao bao quanh, lúc nào cũng có sáu con chó Béc-giê, Đức canh giữ. Những người làm vườn mặc quần bò xanh, đội mũ rơm đều là các vệ sĩ vũ trang của y. Mặc dù tự nguyện về hưu, ý kiến của y vẫn được tôn trọng. Y có ảnh hưởng đáng kể và quyền lực lớn. Y chỉ bị ngồi tù duy nhất có một đêm.

    Năm 1929, trong cuộc chiến tranh các băng ở đường phố Chicago, y bị tình nghi giết người, sáng ra Chánh án đã thả y về nhà...

    Các bạn hàng, cộng sự và đồng phạm của Sam Giancana và Tony Accardo cũng đáng được nhắc đến. Chúng hoàn toàn không phải là những kẻ mới vô nghề, Murray Humphreys từng làm cố vấn tài chính và tư pháp cho Al Capone. Sau đó y làm việc cho Accardo và Giancanam. Y có những quen biết đáng kể trong giới chính trị bao giờ cũng tìm ra những khe hở trong rừng luật pháp Hoa Kỳ và biết cách hối lộ bất cứ ai.

    Nuray Humphreys sống trong căn hộ đắt tiền ở Chicago, hoặc trong biệt thự ở Florida. Riêng hệ thống báo động điện tử đã trị giá 200.000 đôla. Không bao giờ y bị luận tội cả. Một lần y bị rắc rối vì trốn thuế và chánh án có nhân chứng quan trọng là người môi giới chứng khoán Irring Vine, chồng cũ của vợ Humphreys Betly Jane. Có thể buộc tội được Humphrey trước tòa. Một phần Vine có bằng chứng cụ thể, một phần y hận Humphreys phỗng mất vợ. Song Vine đã không ra trình trước tòa. Một thủ phạm lạ mặt đã giết Vine một ngày trước khi phiên tòa xử Humphreys. Vine bị đánh bất tỉnh nhân sự rồi bị dán kín mồm, mũi bằng băng y tế. Nhân chứng Vine bị chết ngạt. Hung thủ biến mất và phiên tòa xử Humphreys phải dừng lại vì thiếu bằng chứng...

    Mafia vẫn còn trị vì ở Chicago. Nó có mặt ở khắp nơi. Bít-tết bạn mua ở nhà hàng là của hiệp hội tội ác. Whisky và bia cũng ở hiệp hội. Dịch vụ vệ sinh phải nộp 10 đôla, người giữ đồ cũng phải nộp thuế. Các hiệu giặt, là khăn bàn là của mafia. Mafia nắm cả việc đổ rác, quảng cáo, gara, mua vé máy bay và lắp ráp thiết bị. Hàng năm, ba tỉ đôla qua tay các “bố già”. Như trong quá khứ, các chủ quán ăn, quầy thịt bị bắt buộc mua hàng của mafia với giá định trước. Mỗi người đều biết sẽ không sống nổi nếu dám chống lại mafia, và thế là mọi người chịu khuất phục áp lực của nó. Nhiều người khác lại không biết mình là khách hàng của mafia.

    Trung tâm Chicago là quận một, nơi tập trung hầu hết đời sống buôn bán và văn hóa. Nhà băng, rạp hát, trung tâm thương mại Sears và Wolloworth, khách sạn và nhà hàng sang trọng chen chúc trên các phố. Ngay từ thời Al Capone, người bảo vệ quyền lợi của mafia.

    Ngày nay Chicago vẫn không thay đổi mấy so với thời Al Capone. Các vụ giết người còn tiếp tục diễn ra trên đường phố, các xác chết còn tiếp tục được ném xuống hồ Michgan. Một trong các nhà hàng nổi tiếng nhất Chicago “The Living Room”. Các nhân vật tiếng tăm cõ thế giới, từ các tù trưởng da đỏ, các ông hoàng từ Ấn Độ cho đến Frank Sinatra và Liz Taylor. Đã từng ăn trưa hay ăn tối ở đây. Cách đây không lâu, chủ nhân nhà hàng vẫn là Arthur Adler. Ông ta không làm ăn với thế giới ngầm và hiển nhiên là phải va chạm với mafia. Một hôm ông ta biến mất không để lại dấu vết gì. cảnh sát điều tra không kết quả. Sau hai tháng những người vét cống phát hiện ra xác của ông ở trong một đường cống chính. Mặc dù xác chết bị lột hết quần áo và đã bắt đầu phân rã, người ta vẫn nhận ra ông.

    Cảnh sát Chicago tiến hành điều tra, nhưng không phát hiện ra dấu vết nào cả và thế là người ta đưa ra hai giả thiết. Rush Street thuộc vùng kiểm soát của mafia. Mở nhà hàng “The Living Room”, Adler đã làm ăn cạnh tranh với mafia. Sau này khi ông ta mở cả nhà hàng “The Blach Onyx”, găngxtơ đã hăm dọa bắt ông phải trả tiền “bảo hiểm”. Nghe đâu lúc đầu Adler có trả. Nhưng sau đó ông ta gặp khó khăn về tài chính, hay có thể ông ta giả vờ như vậy, và dọa sẽ tố giác mafia trước tòa.

    Giả thiết thứ hại cũng có thể xảy ra. Các thành viên thế giới ngầm thường hội họp trong các bar ban đêm, để bàn chuyện làm ăn. Một tay mafia không rõ tên đã ăn cắp trong một khách sạn sang trọng các đồ trang sức giá trị. Hắn mang đến nhờ Adler bán hộ. Nghe đâu Adler đã ăn bớt một phần không nhỏ và như thế, ông ta đã tự ký bản tử án.

    Bác sĩ pháp y cho rằng Adler bị chết ngạt. Song sau này cảnh sát biết được từ một điểm chỉ viên rằng trước hết găngxtơ đã tra tấn Adler, bắt nộp tất cả tiền. Sau đó chúng chở ông ta đến nhà lạnh ướp thịt, bơm nước vào tai rồi ném xác xuống cống. Năm 1957, chủ nhà hàng Leon Marcus, bị bắt cóc và sau khi đàm phán về tiền chuộc không kết quả, ông bị giết chết, Marcus là một trong những người sáng lập và là cổ đông chính của hãng Southmor Bank and Trust đóng tại Chicago. Lục túi nạn nhân, cảnh sát đã tìm thấy không những sáu nghìn đôla tiền mặt mà cả bản sao phiếu nhận 100.000 đôla. Điều đó có nghĩa là, chủ nhân thật sự của khách sạn River Road là bố già mafia. Còn tên giết Marcus phải trả giá cho sự sơ suất bằng sinh mệnh của mình. Hai tuần sau cái chết của Marcus, cảnh sát đã phát hiện xác chết của Salvatore Morett, vệ sĩ của Giancana

    Vương quốc tội ác của Giancana được tổ chức như một lĩnh vực công nghiệp phát đạt. “Bố già” chia nó ra làm ba vùng do các thủ lĩnh địa phương cai trị. Đích thân Giancana quản lý West Side (Miền Tây), sếp Morlb Side (miền Bắc) là Ross Prie, còn Frank La Porta chỉ huy South Side (miền Nam), cả hai có chức vụ caporegime” (sếp vùng) giống như các thứ trưởng của Giancana. Prio là chuyên gia đặt thuốc nổ và gây ra các đám cháy. Y sống trong một biệt thự lớn ở Glenview với vườn cây tuyệt đẹp. Các con của y tốt nghiệp đại học, tham gia tích cực của hoạt động xã hội.

    Còn la Porta thì mua một biệt thự sang trọng trị giá 100.000 đôla ở Elose Moor thuộc bang lliois, y là tên găngxtơ được bảo vệ cẩn thận nhất, tiểu đội vệ sĩ của y gồm hơn một tá tay súng thiện nghệ. Các phóng viên và cảnh sát thì không sao chụp ảnh được y. Y làm giàu bằng kinh doanh mãi dâm và cờ bạc.

    Cảnh sát ước đoán Giancana có chừng 500 thuộc hạ. Đối thủ của y là hơn 5000 cảnh sát địa phương, cảnh sát bang và cảnh sát liên bang. Mặc dù vậy, đây là trận chiến không cân sức, Phe chiếm ưu thế lại là găngxtơ.

    Chánh thanh tra cảnh sát Wilson tuyên bố: “Hiện nay chúng tôi bất lực đối với các “bố già” mafia. Tổ chức nhiều tầng đảm bảo an toàn cho chúng. Chúng tôi không thể tiếp cận chúng được. Trong hoàn cảnh như vậy, chúng tôi cố gắng hạn chế hoạt động của chúng bằng cách truy nã mãi dâm và cờ bạc. Chúng tôi không ngừng tổ chức vây ráp”.

    Sam Giancana ở trên đỉnh cao quyền lực trong những năm 70. Các điệp viên CIA yêu cầu y hợp tác vì y là người có thế lực cả trong hậu trường chính trị Hoa Kỳ. Trên bình diện chuyên nghiệp, y xếp ngang hàng với thống đốc Chicago Richard Daley, người trị vì Chicago từ những năm 50 và là chính khách hàng đầu của đảng Dân chủ ở bang llionois. Giancana đã ủng hộ chính sách của Daley với tất cả khả năng của mình. Trong cuộc bầu cử năm 1960, ứng cử viên Kennedy thắng cử ở vùng Chicago, số phiếu bầu ông ta nhiều hơn cả số cử tri. Trò gian lận này là công việc của tay chân Giancana.

    Găngxtơ những năm hai mươi đã biến khỏi vũ đài. Ngày nay, chúng ăn mặc sang trọng chẳng khác các chủ ngân hàng hay các nhà công nghiệp. Chúng được xã hội chấp nhận, giúp đõ các chính khách và ngược lại được các chính khách giúp đỡ. Thống đốc Daley bổ nhiệm chức giám đốc cảnh sát Chicago cho

    Agnew Signorel, anh họ của găngxtơ Rocky Prann. Còn cháu của Giancana là Anthony de Tolve thì trở thành nghị sĩ bang llionois.

    Các cuộc nói chuyện của phóng viên báo chí với những tên tội phạm là món “đặc sản” Hoa Kỳ. Thậm chí còn xuất hiện cả những bài phỏng vấn hung thủ giết người đang bị cảnh sát bất lực truy nã. Những tên găngxtơ và bố già mafia, với mức độ khác nhau, cũng thích nổi danh. Al Capone thì kiêu căng như một minh tinh màn bạc, còn Giancana cũng không từ chối phỏng vấn. Tờ Chicago Tribune (Diễn đàn Chicago) đã đăng bài bào chữa cho hội nghị mafia: “Tại saọ mọi người lại nghĩ rằng hiệp hội làm việc gì xấu? Tôi đi gặp bạn bè là lập tức bị nghi ngờ ngay. Các thương gia thỉnh thoảng phải hội họp chứ”.

    Tháng 1 năm 1965, Carlo Gambino triệu tập hội nghị thượng đỉnh mafia ở nhà hàng Capri tại thành phố Cedarhurst thuộc bang New York. Trong chương trình nghị sự có một vấn đề kỳ quặc, chưa từng có trong lịch sử mafia. Boss Carlo Gambino cử Sam Giancana làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền chuyên trách các vấn đề nước ngoài. Thế là cấp cao nhất mafia đã thông qua việc hợp tác với Cục tình báo trung ương chống lại Cuba, đặc biệt là Fidel Castro.

    Robert Maheu, một trong những người đề xướng “chiến dịch Mongoose” có quá khứ đáng ngờ. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Maheu là điệp viên của FBI, sau đó thành lập văn phòng điều tra tư, trong khi đồng thời là chỉ điểm của CIA. Maheu quen biết nhiều găngxtơ và đã đề nghị thu dụng John Roselli biệt hiệu don Giovanni, cho “chiến dịch Mongoose”.

    Tại sao Roselli lại đồng ý tham gia một chiến dịch nguy hiểm như vậy? 150.000 đôla tiền thưởng của CIA cho ai ám sát được Fidel Castro không phải là nhiều đối với găngxtơ cỡ Roselli. Chúng ta hãy thử đi tìm lý do.

    45 năm, John Roselli giữ kín tung tích của mình. Nhưng rồi một ngày đẹp trời, điệp viên FBI Jack Barron đến gõ cửa và Roselli giật mình, bí mật đã không còn là bí mật nữa. Y tên thực là Filippo Sacco, sinh năm 1911 ở tỉnh Esterie, nước Ý. Lên sáu tuổi, Sacco cùng mẹ đến Hoa Kỳ, nơi người bố đã sinh sống vài năm ở East Boston. Bố Sacco chết sớm và người mẹ đi bước nữa. Bố dượng là một găngxtơ của thế giới ngầm và Sacco được ông ta nhanh chóng truyền nghề.

    Y rất ham học và chịu khó. Y đốt nhà bố, lấy tiền bảo hiểm, mang theo tấm hình mẹ, người đã nuôi dưỡng y từ lúc còn ẵm ngửa, rồi trốn mất. Y trở thành người của băng Al Capone. Y kinh qua mọi chức vụ trong mafia và khét tiếng dưới cái tên John Roselli.

    Jack Barron là thám tử FBI có nhiệm vụ theo dõi Roselli và bạn của y là Fratiano. Không rõ Barron làm thế nào có được thông tin đó, chỉ biết một hôm anh ta đến nhà Roselli và đưa ra tấm hình mà tên găngxtơ hơn bốn mươi năm qua giữ gìn như vật hộ mệnh Roselli hiểu rằng một người thân tín đã phản y.

    FBI nắm y trong lòng bàn tay. Hoặc là y phải làm việc cho FBI như người đưa tin, hoặc là y bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ như dân di cư bất hợp pháp. Không còn đường nào khác, y phải cầu cứu Jack Barron. Thế là ngày
    4.9.1960, ở nhà hàng Brown ở Berly Hills. Roselli nhận từ Robert Maheu nhiệm vụ giao liên.

    Do Giovanni tiến hành việc tuyển mộ những tên giết thuê chuyên nghiệp. Y giao cho Richard Cain 90 nghìn đôla để lo việc tổ chức và y lui vào hậu trường. Cain mộ lính từ dân di tản Cuba và người Portorico, vì điều kiện đầu tiên là biết tiếng Tây Ban Nha. Y chọn những tên giết người đã được thử thách trong thế giới ngầm Chicago và New York, một số thật sự có tập luyện trong các trại huấn luyện của CIA.

    Richard Cain đã phải trả giá đắt cho hoạt động của mình. Bốn ngày trước Noel năm 1973, y ngồi úống bia với thịt nướng trong quá Rose Sandwich Shop ở Chicago. Bỗng hai người đeo mặt nạ bước vào, dí súng vào cổ Cain và bóp cò. Vũ khí giết người là loại súng săn Sicilie. Mafia trả thù? Cain đã làm gì chống lại mafia? Đến nay người ta vẫn chưa tìm ra câu trả lời.

    Sam Giancana bị giết chết ngày 19.6.1975 trong biệt thự của mình. Trước đó không lâu, chủ tịch uỷ ban điều tra thượng nghị viện Mỹ Frank Chureh đã gửi trát đòi y lên khai về các quan hệ giữa mafia và CIA. Năm ngày sau cái chết của Giancana, Don Giovanni ra trước uỷ ban điều tra. Trong áo vét xanh, quần nỉ xám và với cặp ngoại giao đen trong tay, trông y giống như ông chủ nhà băng. Ngày 24.6.1975, y xác nhận sự có thật của “chiến dịch Mongoose”. Y khai về việc tuyển một găngxtơ và các vụ mưu sát Fidel Castro. Y thú nhận là CIA có che chở cho những tên găngxtơ hợp tác với CIA. Ngày hôm sau, y biến mất. CIA giúp y tránh sự trả thù với giấy tờ giả mang tên Kenneth Banstock . 11 tháng Don Giovanni sống yên tĩnh như một hưu trí giàu có ở bang Oregon. Chỉ có CIA và một vài cảnh sát biết được bí mật của y. Nhưng rồi một đêm tối trời, một tay súng lạ đột nhập vào nhà, bắn chết Don Giovanni trên giường và cẩn thận xóa hết các dấu vết. Sau đó hung thủ mang xác Don Giovanni xuống cầu thang, cho vào xe và đi mất. Không ai để ý thấy hung thủ và xe của hắn, cảnh sát đành chịu bó tay.

    Ngày 7.8.1976 các ngư dân nhìn thấy trên vịnh Biscayne Bay một thùng to bập bềnh trên sóng và dây xích cọ vào nhau lẻng xẻng. Họ đến gần và nhận thấy mùi hôi thối bay ra. Người ta kéo thùng vào bờ và mở ra thì thấy một xác chết bị chặt mất chân, để nhét được vào thùng. Sau này cảnh sát xác minh đó là Don Giovanni- John Roselli.

    NGƯỜI TÌNH CỦA TỔNG THỐNG
    Trong lịch sử mafia chỉ xuất hiện rất ít phụ nữ. Theo tập quán Ý, vợ những tên găngxtơ chỉ lo việc bếp núc và không để ý tới công việc của chồng. Tình nhân găngxtơ biết rõ họ có vinh dự bắt bồ với ai, cho nên tốt hơn hết là im lặng. Trường hợp Virginie Hill góp phần dẫn đến sự sụp đổ của găngxtơ Bugsy Siegel và Judita Campbell Exner, tình nhân đồng thời của bố già Sam Giancana và Tổng thống J.F.Kennedy, là các trường hợp đặc biệt. Còn người thứ ba thì mãi sau cái chết của mình, bí mật mới được tiết lộ. Người đàn bà đó tên là Marilyn Monroe.

    Milo Sperilio, giám đốc văn phòng điều tra “Nich Harris”, trong cuộc họp báo ngày 4.6.1982, tuyên bố rằng sau 10 năm điều tra, người ta nghi rằng ngôi sao màn bạc Monroe bị ám hại. Lý do? Marilyn Monroe là tình nhân của Tổng thống J.F.Kennedy và sau này còn bắt bồ với em trai của Tổng thống là Robert Kennedy, Bộ trưởng tư pháp. Monroe đã biết về kế hoạch ám sát Fidel Castro và sau khi chia tay với Robert Kennedy, bà ta dọa sẽ tiết lộ bí mật.
  • Chia sẻ trang này