24.vancuong7975(xong)WIKI

25/11/15
24.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    Vài tuần trước các sự kiện ở Dallas, Brading có ở New Orleans và thuê một văn phòng trong tòa nhà Pier Market Building”. “Thám tử tư” David Ferrie cũng có văn phòng của mình ở vùng tầng tòa nhà, và cũng trên tầng đó có văn phòng của bố già mafia ở New Orleans là Carlos Marcello. Quả là vô lý, nếu Lansky không có liên lạc với Marcello và đường dây Lansky - Brading - Ferrie -Ruby không thể là ngẫu nhiên. Sự tham dự của mafia vào việc chuẩn bị vụ ám sát là không thể chối cãi.

    Bây giờ chúng ta thử phân tích sự có mặt “ngẫu nhiên” của E.Howard Hunt ở Dallas vào thời gian xảy rạ sự cố. Chúng ta biết rằng Oswald chỉ là con tốt thí trong ván cờ. Theo kế hoặch của những kẻ đảo chính y làm mọi việc để được coi là một người thân cộng ủng hộ Fidel Castro. Ngày 24.9, y được cấp thị thực xuất cảnh và lên xe đi Mexico. Theo hồ sơ lưu trữ của hãng Bell, cũng ngày hôm đó David Ferrie gọi điện đến số YX-4940 Chicago và ngay sau đó gọi liên tục vài lần cho Howard Hunt, lúc bấy giờ là chỉ huy phó CIA ở Mexico.

    Đến Mexico, Oswald liền tới gặp Howard Hunt và nhận lệnh đến sứ quán Cuba xin cấp thị thực nhập cảnh vào Cuba. Để thêm sức thuyết phục Oswald mang đến sứ quán những bài báo về các hoạt động tuyên truyền cho cách mạng Cuba của mình. Nhưng vô ích. Oswald vẫn phải sếp hàng chờ như những người khác. Đó là sự trục trặc nhất định trong tính toán của bộ chỉ huy đảo chính. Nhẽ ra Oswald phải đến Cuba và nhanh chóng trở về để được coi là điệp viên mật của Cuba. Thời hạn chuyến đi của Tổng thống tới Dallas đã đến gần, cho nên Howard Hunt truyền lệnh cho Oswald lập tức trở về Dallas. Ở Dallas, George Mohrenschildt trực tiếp chỉ huy và một người quen của cả hai là Ruth Payne gọi điện cho thủ kho Roy Tully, và Oswald nhận chỗ làm trong ngôi nhà mà từ đó y bắn tử thương Tổng thống.

    Oswald sắm vai của mình nhưng y không nắm toàn bộ vở kịch. Nhiều kẻ giết người chuyên nghiệp đã nổ súng vào Tổng thống và phát đạn tử thương được bắn từ phía trước, chứ hoàn toàn không phải từ kho sách giáo khoa. Nhưng tên sát nhân đã rình con mồi trên quả đồi không xa đường hầm xe lửa, và không phải chúng không bị nhìn thấy.

    Khoảng một giờ trước khi đoàn xe Tổng thống đến, bà Iulie Anna Messer lái xe qua phố Elm Street, lúc này đang bị tắc nghẽn vì quá nhiều xe và ngẫu nhiên mà bà dừng xe bên cạnh một xe chờ hàng màu xanh, gần đường hầm xe lửa. Một người đàn ông trạc tuổi trung niên bước ra khỏi xe, mang một vật dài gói trong giấy màu nâu đi đến bụi cây trên đồi, Messer đoán chắc đó là súng, nhưng lại nghĩ rằng người đàn ông đó là cảnh sát bảo vệ đoàn xe Tổng thống. Sau đó bà ta để ý thấy người tài xế xe hàng, người này quay sang và cả hai nhìn nhau một vài giây. Sau này, khi chứng kiến vụ sát hại Oswald trên tivi. Messer nhận ra kệ bắn Oswald chính là người tài xế xe hàng nọ. Ngay ngày hôm sau, Messer đến văn phòng FBI thông báo phát hiện của mình. Một thám tử FBI thẩm vấn và đưa ra ảnh 10 người đàn ông, và bà ta nhận ra Ruby. Hồ sơ cùng với lời khai của Messer đã không cánh mà bay.

    Vụ ám sát Tổng thống diễn ra theo đúng bài bản mafia. 12 giờ 30, xe limosine bọc thép chở Tổng thống và phu nhân rẽ từ phố Houston Street sang phố Elm Street. Khi xe cách chỗ vòng khoảng 41 mét thì vang lên tiếng súng đầu tiên và Kennedy giơ hai tay ôm cổ. Viên đạn được bắn từ bụi cây trên đồi. Tổng thống bị thương vào cổ. Ngay sau đó, một tay súng bắn từ phía sau, từ ngôị nhà Dal Tex. Phát đạn trúng vai Tổng thống. Hầu như cùng lúc, một viên đạn khác được bắn ra từ nhà kho sách giáo khoa không trúng Tổng thống, nhưng làm bị thương thống đốc Connally. Phát đạn thứ tư bắn ra từ ngôi nhà Dal Tex không trúng đích. Viên đạn thứ năm từ bụi cây nói trên là phát đạn tử thương, xuyên qua bên phải gáy Tổng thống. Tất cả xảy ra trong vòng sáu giây.

    Cảnh sát nhận ra súng bắn từ đâu, và hai cảnh sát Weisman và Smith chạy lên đồi với súng đã mở chốt an toàn. Ở đó họ chỉ tìm thấy một người duy nhất. Người này trình giấy chứng minh cảnh sát với tên Baker, và nói rằng ở khu đồi không có gì khả nghi. Nhưng sau này người ta đã xác minh, không tồn tại điệp viên Baker nào cả, và người đó chính là thành viên của đội hành quyết, có nhiệm vụ chặn hậu cho cả đội rút lui an toàn. Địa điểm rút lui của những tên giết người là một sân bay nhỏ dành cho máy bay tư ở Galveston. David Ferrie đã chờ sẵn chúng ở đó. Biên giới Mexico cách xa khoảng 500 cây số. Sau bốn giờ, Ferrie đã quay lại và gọi điện báo cáo cho bạn của Ruby là Blake Wall biết nhiệm vụ đã hoàn thành. Wall được Ryby phái đến Galveston kiểm tra việc tẩu tán những tên giết thuê ra ngoài biên giới. Chỉ trong trường hợp đó, cái chết của Lee Harvey Oswald mới có ý nghĩa. Khi đã chắc chắn việc chạy trốn thành công, Ruby lên trụ sở cảnh sát lạnh lùng bắn chết Oswald.

    Kết quả phân tích vụ ám sát Tổng thống khẳng định rằng các bằng chứng đã được chế biến lại, những lời khai quan trọng bị mất, thay vào đó là những lời khai giả. Các nhân chứng quan trọng cho việc đánh giá sự tham gia của mafia trong vụ ám sát, có thể dẫn cảnh sát tìm ra dấu vết những kẻ giết người, đều bị “bịt miệng” theo luật mafia: nhân chứng tốt là nhân chứng chết.

    Nạn nhân đầu tiên là Oswald. Theo kế hoạch ban đầu, mafia sẽ tạo ra tình huống gay cấn để cảnh sát bán chết Oswald trong rạp hát. Nhưng Oswald đã bị cảnh sát bắt sống. Nếu chẳng may Oswald khai rằng trong thực tế những kẻ đảo chính đã chọn hắn làm vật hy sinh, thì người ta sẽ phát hiện ra bàn tay vấy máu mafia. Bởi vậy, Oswald phải chết.

    Nancy Rich Perrin phục vụ trong quán Carousel Club của Ruby. Chồng của thị buôn lậu vũ khí. Y cũng bán vũ khí cho bọn phản động Cuba hoạt động lật đổ Fidel Castro. Có lần y đàm phán với một đại tá quân đội Mỹ và đòi tiền đặt trước là 25.000 đôla. Viên đại tá gật đầu và gọi điện cho ai đó. Sau một lúc, Jack Ruby đến đưa tiền cho Perrin. Vợ chồng Perrin không lạ gì luật mafia và hiểu rằng, họ là các nhân chứng nguy hiểm và Ruby biết điều đó. Vì thế, họ lẩn trốn từ thành phố này đến thành phố khác và cuối cùng định cư ở New Orleans. Ở đó Perrin đã chết một cách đáng ngờ. Cảnh sát thông báo rằng Perrin tự tử bằng thuốc độc acsen. Song các chuyên gia nghi ngờ, bởi vì acsen tác dụng rất lâu. Không ai lại chọn cái cái chết đau đớn dai dẳng cả.

    Ngày 18-11-1963, tức bốn ngày trước vụ ám sát, cảnh sát phát hiện trên xa lộ gần thành phố Eunice, bang Louisiana một người đàn bà nằm bất tỉnh. Trong bệnh viện, Rosa Cheramie, tên nạn nhân, khai là bị tay chân của Ruby vứt từ trên xe xuống vì bà ta không muốn dính líu vào vụ ám sát Tổng thống mà bọn chúng đang chuẩn bị. Nhân viên bệnh viện đã không thông báo lời khai quan trọng đó chọ cảnh sát, bỏ lỡ cơ hội cứu sống Tổng thống. Sau vụ ám sát, Rosa Cheramie rời bệnh viện. Chạy trốn bàn tay trả thù của mafia, nhưng cũng không được bao lâu. Đến ngày 4.9.1965, tức gần hai năm sau. Cheramie đang lái xe trong thành phố

    Bigsandy, bang Texas, thì bị một xe tải lạ chèn ra vệ đường. Nhân chứng quan trọng chết ngay tại chỗ, còn hung thủ thì lái xe chạy mất.

    Trái với dự tính của mình, Jack Ruby vẫn bị giam và ngày 3.1.1964, y chết một cách bí ẩn trong bệnh viện nhà tù. Trong hồ sơ bệnh án chỉ vẻn vẹn có hai chữ ung thư. Cái chết của Ruby khiến người ta liên tưởng đến cái thí nghiệm của David Ferrie. Phải nói tên găngxtơ từng trải này là một người học thức và toàn diện Y có tới 2000 chuột trắng trong phòng thí nghiệm và viết các bài báo khoa học. Đồng sự của y là bác sĩ Mary Sherman bị một hung thủ lạ mặt đâm chết trong nhà của mình ở New Orleans. Biết đâu Ruby cũng là nạn nhân của y? David Ferrie chết ngày 22.2.1967, nghe đâu vì bị vỡ mạch máu não. Song người ta đã tìm thấy trong nhà của y hai bức thư chứng tỏ rằng y qua đời không phải bằng cái chết tự nhiên.

    Cùng ngày ở Miami, bang Florida, một chính khách của chế độ Batista là Eladio Del Valle bị giết chết. Một hung thủ lạ mặt đã bắn vào tim và còn dùng rìu bổ vào đầu nạn nhân. Trước đây Die Valle đã thuê Davie Ferrie 1.500 đôla một lần bay vào không phận Cuba.

    Bill Hunter là phóng viên tờ báo địa phương ở Dallas “The Leng Beack Independent Press Telegram”. Cùng với những người săn tin giật gân khác, đêm 24-4-1964, Bill Hunter còn ngồi ở sở cảnh sát Long Beach, trong phòng dành cho ký giả. Chàng phóng viên cần mẫn đọc một tờ báo vu vơ, đốt thuốc liên tục và sốt ruột chờ đợi. Bỗng hai cảnh sát bước nhanh vào và một người rút súng bắn chết Hunter.

    Hung thủ bị ra tòa nhưng được tha bổng. Nghe đâu đó chỉ là sơ xuất đáng tiếc: anh ta cá với đồng sự xem ai rút súng ra khỏi bao nhanh hơn và súng bị cướp cò. Nhưng thực ra Bill Hunter chỉ là nạn nhân tiếp theo của mafia và CIA. Chủ nhật ngày 24-12-1963, tức hai ngày sau vụ ám sát Tổng thống, Hunter tham dự một cuộc họp bí mật ở nhà của Rack Ruby, kẻ giết Oswald. (Theo một nguồn tin khác thì Hunter đột nhập vào lấy các tài liệu phương hại khi chủ nhà vắng mặt). Cùng với Hunter, còn có ký giả Jim Koetlie của tờ “Times Herald”. Găngxtơ George Senator cũng có mặt. Người ta không rõ nội dung cuộc họp, có điều chắc chắn là các ký giả đã có được các thông tin gì hơn. Ngày 21.5-1964 anh ta bị một tên sát nhân nhà nghề hạ sát bằng một cú carate vào cổ họng, ngay tại nhà của mình. Hung thủ biến đi không để lại dấu vết và cảnh sát phải ngừng điều tra.

    Có mặt trong cuộc họp bí mật đó còn có Tom Howerd, và người này, tháng 5 năm 1965, đã chết trong hoàn cảnh đáng ngờ. Một người lạ mặt chở Howard đến bệnh viện rồi đi mất không để lại tên tuổi. Nghe đâu Howard chết vì bị nhồi máu cơ tim. Mặc dù theo các nhân chứng, trong hai ngày cuối cùng Howard xử sự không bình thường, chánh án không cho phép mổ tử thi. Vì thế không thể làm sáng tỏ cái chết của Howard dược.

    Warren Reynolds có cửa hàng ô tô cũ ở Dallas. Tình cờ mà ông ta chứng kiến vụ cảnh sát Tippitt bị bắn chết, thậm chí ông còn đuổi theo hung thủ một lúc cho nên ông biết chắc chắn đó không phải là Lee Harvey Oswald(88)Theo văn bản chính thức. Tippitt bị Oswald bắn chết, nhưng ngày 21-1-1965, Reynolds tuyên bố với điều tra viên rằng không phải Oswald bắn chết Tippitt, rằng chính mắt ông nhìn thấy hung thủ. Rõ ràng Reynolds đã trở thành nhân chứng phương hại. Hai ngày sau, khi Reynodls đang làm việc trong gara thì một tay súng lạ đến gần và nổ súng. Xe cứu thương đưa nạn nhân đến bệnh viện.

    Cảnh sát đã thành công đặc biệt và tìm ra thủ phạm. Gã tên là Darell Wayne Garner, uống rượu say, lang thang khắp các quán rượu và kêu to rằng Reynolds xứng đáng bị trừng trị. cảnh sát bắt Garner, song gã lại có alibi. Gái nhảy Nancy Kane Mooney xác nhận là Garner có ở trong phòng thị khi xảy ra sự cố. Garner được thả, nhưng một tuần sau Mooney bị bắt, nghe đâu vì tội làm rối loạn trật tự ban đêm. Người ta giải Mooney lên đồn và giam vào xà lim. Hai giờ sau gác ngục mở cửa và thấy tù nhân bị treo cổ. Nghe đâu Mooney tự sát vì những lý do không rõ. Nhưng lý do gì đã khiến Mooney phải chết, nếu không phải trong quá khứ, thị đã từng làm việc ở dạ quán Carousel và biết quá nhiều bí mật?

    Reynolds may mắn sống sót nhưng không được yên ổn làm ăn. Những bức thư nặc danh, những cú điện đe dọa, và số phận đứa con gái mười tuổi đã làm ông mất tinh thần. Tháng 7-1964, ông tuyên bố rút lại lời khai trước và từ đó không ai quấy nhiễu ông nữa.

    Wanda Joyce Kiliam cũng là gái nhảy ở dạ quán của Ruby. Thị có tình nhân là đồng sự của chồng John Carter. Carter sống trong cư xá ở North Beckley Avenue 1026, nơi Oswald đến ở khi y từ New Orleans đến Dallas. Đây lại là sự ngẫu nhiên nữa chăng. Killam và Carler cùng làm việc với nhau, họ có thể trao đổi nhiều điều bí mật. Nhưng Kitlam đã biết được những gì từ Carter để rồi cảm thấy tính mạng bị đe dọa? Killam hoảng sợ, chạy trốn, trong khi vợ anh ta vẫn làm việc trong dạ quán Carousel. Một hôm anh ta gọi điện cho vợ từ Pensacola thuộc Florida, báo tin là đã tìm được việc làm, lương bổng cao. Ngày hôm sau, người ta tìm thấy Killam nằm chết trên phố, cổ bị cứa đứt, cảnh sát tuyên bố là nạn nhân ngã vào tủ quảng cáo hàng và bị mảnh kính vỡ cứa đứt cổ. Những ai quen thuộc với các phương pháp giết người mafia đều biết rằng đây là kiểu giết người Sicilie.

    Cảnh sát Dallas kết luận một cách nhanh chóng đáng ngờ rằng Oswald là hung thủ duy nhất bắn chết Tống thống và cả viên cảnh sát Tippitt, nhưng tài xế tắc xi William Whaley lại khai khác hẳn. Whaley khẳng định rằng Oswald không thể bắn Tổng thống và Tippitt từ một lý do đơn giản: ngày 22-11, từ 12h30 đến 12h45 Oswald ngồi trong xe của Whaley. Theo sổ theo dõi. Whaley đã chở Oswald từ bến ô tô buýt gần kho sách giáo khoa đến phố North Becley.

    Người ta hỏi cung Whaley nhiều lần và cố gắng thuyết phục anh ta thay đổi lời khai. Nhưng người tài xế vẫn bảo lưu lời khai của mình, hoàn toàn không phù hợp với kết luận “một hung thủ tâm thần”. Mafia không còn đường nào khác. Ngày 18-12-1965 đã xảy ra một tai nạn giáo thông. Một tài xế xe tải đã “vô tình” đâm vào tắc xi của Whaley và nhân chứng nguy hiểm mãi mãi không nói nữa.

    Dorthy Kilgallen là một nữ phóng viên hạng một chuyên phỏng vấn những kẻ nổi tiếng. Có lẽ vì thế mà chánh án Brown cho phép cô ta gặp Ruby. Thậm chí họ còn được vài phút nói chuyện tay đôi. Sẽ không bao giờ có ai biết được nội dung câu chuyện và Ruby đã tiết lộ cho nữ phóng viên những gì. Ngày 8-11-1965, Dorothy chết trong phòng ngủ của mình, nghe đâu vì uống quá liều thuốc ngủ. Nhưng sau này bác sĩ xác nhận là cô không chết vì ngộ độc thuốc ngủ. Tuy vậy, vụ án vẫn bị đình chỉ.

    Lee Bowers là người làm công mẫn cán của hãng “Union Terminal”. Ngày 22-11-1963, Bowers trực trên tháp điều độ cao 14 foot(89) và từ trên cao nhìn thấy toàn bộ diễn biến của tấm thảm kịch. Hơn nữa, mọi điều trông thấy đều được anh ta, theo thói quen nghề nghiệp, ghi vào sổ thông báo. Thông báo này không khớp với văn bản chính phủ, bởi vì phản ứng của cảnh sát sau vụ ám sát chẳng đã bộc phát chạy lên đồi có bụi cây đó sao?

    Thậm chí họ còn bắt giữ ở đó hai người đàn ông, nhưng sếp cảnh sát hình sự ở Dallas là Fritz đã thả họ khi nghe báo hung thủ là Oswald. Hai kẻ tình nghi này là các điệp viên CIA Surgis và Hunt.

    Năm 1966, Borwrs nhận được giấy mời đến gặp ủy ban điều tra, nhưng trước đó vài ngày anh ta đã bị một tai nạn khó hiểu. Chiếc xe cũ của anh đang đi ngon lành trên xa lộ không xa Dallas, bỗng giở chứng tăng tốc vọt ra khỏi lòng đường. Lee Bowers chết ngay tại chỗ. Thế là chánh án không còn dịp để thẩm vấn nhân chứng quan trọng, cả biên bản cảnh sát về tình trạng kỹ thuật của xe sau tai nạn cũng biến mất.

    Không chỉ “bố già” mafia Carlos Marcello, mà cả chủ nhân văn phòng điều tra tư Guy Bannister và Hugh Ward có văn phòng ở ngôi nhà số 544 trên phố Camp Street. Trong thời gian sống ở New Orleans, Oswald cũng lai vãng tới ngôi nhà đó. Số phận hai chàng thám tử tư trong năm 1964, Hugh Ward chết trong một tai nạn máy bay ở Mexico, còn Guy Bannister thì không qua nổi một cơn đau tim.

    Xung quanh vụ ám sát Tổng thống J.F.Kennedy còn nhiều điều bí ẩn chưa được sáng tỏ, song cũng đã xuất hiện nhiều dấu vết dẫn tới mafia. Diễn biến của sự cố đã loại trừ giả thiết một tay súng duy nhất. CIA và mafia có không thiếu lý do và thừa phương tiện để cùng với những chính khách thâm cung thực hiện ám sát vị Tổng thống không mấy dễ chịu với tập đoàn tư bản lái súng và những con diều hâu khát máu ở Mỹ.

    KẺ THÙ SỐ MỘT CỦA MAFIA
    Thứ năm 4.12.1958, trở thành một ngày lịch sử trong lịch sử chống mafia Hoa Kỳ. Một găngxtơ tiểu tốt tên là Charles Lichtman khai trước tiểu ủy ban điều tra Mc Clellan. Người hỏi cung là một cố vấn luật của tiểu uỷ ban. Robert Kennedy.

    - Lichtman, lần đó anh quyết định giành lại các máy nhạc tự động của mình. Anh có đi đến đó lần nữa chứ? - Robert Kennedy hỏi.

    - Tôi còn đi đến đó nhiều lần nữa, nhưng tôi hiểu là ngài Geltan không chịu nhượng bộ. Ông ta đã thuê vài tên côn đồ can thiệp. - tên găngxtơ trả lời.

    - Anh có nhắc đến một người đàn ông tên là Valachi?

    - Vâng, thưa ngài.

    - Valachi là ai vậy?- Robert Kennedy hỏi.

    - Tôi tình cờ làm quen với lão ở Harlem. Lão hứa sẽ giúp tôi giải quyết vụ tranh chấp.

    - Valachi từng cộng tác với Anthony Stroll biệt hiệu Bender. Y cũng là bạn thân thiết của Vincent Maur, - Robert Kennedy nói.- Năm 1856, FBI đã bắt y vì tội vi phạm luật pháp liên bang cấm buôn bán ma túy. Y bị kết án 5 năm tù. Y đã 17 lần bị bắt giữ và 5 lần bị kết án tù giam. Chính y lại chìa bàn tay giúp đỡ cho anh?

    - Vâng, thưa ngài.

    - Sau đó y đã làm gì?

    - Lão mời tôi đến quán bar ở góc phố 180 và đại lộ Phương Nam.

    - Anh đã gặp ai ở đó?

    - Tôi thấy ở đó Geltan và cả Blackie. Sau đó Valachi đến và tất cả đi ra phía sau bàn bạc.

    - Những ai có mặt bữa đó?

    - Tôi không rõ. Tôi chỉ biết có ba người đó.

    - Jimmy Alo, biệt hiệu “Mắt Xanh”, cũng có mặt
    ở đó?

    - Tôi không nhìn thấy hắn. Tôi thấy có Tommy

    Milo.

    - Tên găngxtơ từ New York?

    - Vâng, chính hắn.

    - Họ gặp nhau để quyết định ai đượckiểm soát các tủ nhạc ở Westchester?

    - Vâng, chính xác như vậy.

    - Họ quyết định thế rào?

    - Theo như họ nói với tôi, cả Valachi cũng nói thế, thì bạn hàng của tôi là Jimmy Caggiano đã bán đứng tôi lấy 500 đô. Tôi không có cơ hội giành lại các máy nhạc tự động. Tôi bị trắng tay hoàn toàn. Ông biết đấy, khi ông không có tổ chức làm chỗ dựa thì một mình ông không thể tồn tại được.

    - À, ra thế. Valachi cũng có tiếng tốt đấy chứ? -Robert Kennedy kết thúc buổi hỏi cung.

    Robert Kennedy tiếp tục cuộc chiến chống tổ chức tội ác với nhiệt tình hiếm có và đã hạ đo ván Valachi. Với thành công đó, ông đã trở thành ngôi sao số một trong lịch sử hình sự Hoa Kỳ. Ngược lại, Joseph Valachi biến thành con cừu đen mafia, một kẻ phản bội bị nguyền rủa. Robert Kennedy đã thuyết phục được con cáo già mafia phản bội lại luật sắc mafia “omerta” và tố giác đồng bọn. Thậm chí, y còn nói trước ống kính tivi, 18 tháng trời y viết lại tất cả những gì y biết về mafia và với thành công đó. Robert Kennedy trở thành kẻ thù số một của mafia.

    Sau này khi đã là bộ trưởng tư pháp, Robert Kennedy tuyên bố về vụ Valachi như sau:

    “Lần đầu tiên trong lịch sử có người vi phạm luật thiêng, “im lặng” của mafia. Hơn nữa đó lại là người được thông tin đầy đủ trong đế chế mafia. Tuy nhiên lời khai của Valachi còn có ý nghĩa khác. Nó giúp chúng ta dựng nên bức tranh khổng lồ về mafia, phát hiện ra những mới quan hệ ngầm khác, và nhìn nhận sự việc sâu sắc hơn. Bản cung khai của Valachi có giá trị lớn và nhiều sự kiện cũ nhận được ý nghĩa khác chính xác hơn. Đây là một bức tranh kinh tởm. Bức tranh về hiệp hội tội ác, một tổ chức được gọi không chút thổi phồng là chính phủ vô hình, với thu nhập nhiều tỉ đôla hàng năm. Một quái thai sống bằng sự cùng cực của nhân loại và tồn tại nhờ sự suy đồi, thoái hóa của đạo đức nhân phẩm”.

    Johnson, cũng giống như các tổng thống trước, khi nhậm chức, đã thay tất cả các viên chức chính phủ cao cấp, bằng người của mình, cả em trai vị tổng thống quá cố cũng được gợi ý từ chức. Robert Kennedy rời ghế bộ trưởng, nhưng không có ý định từ bỏ sự nghiệp chính trị và ngay trong năm 1964, ông đã ứng thắng cử, bắt đầu phê phán đường lối của Johnson và chuyển sang phái đối lập. Năm 1968, Robert Kennedy quyết định ra ứng cử Tổng thống.

    - Tôi quyết định ứng cử Tổng thống không phải vì tôi đứng bên phe đối lập, - ông tuyên bố với các nhà báo trong một cuộc họp báo - mà là vì tôi muốn thực hiện đường lối chính trị mới. Đất nước chúng ta đang bị lái sang con đường nguy hiểm. Cho nên tôi phải làm tất cả những gì nằm trong khả năng của mình.

    Công việc thuận buồm xuôi gió. Robert Kennedy chiến thắng trong tất cả cá cuộc bầu cử sơ bộ, trừ ở bang Oregon, rồi cùng vợ con và bộ tham mưu tranh cử, tiếp tục cuộc hành quân thắng lợi đến California. Khi nhà báo Romain Gary của tờ báo Pháp Figaro đề nghị phỏng vấn, Kennedy đã nói: “Tôi biết rằng ở đâu đó có kẻ cầm dao rình tôi. Chúng ta sống trong thời đại có khuynh hướng không bình thường, thiên về bạo lực. Ở chỗ chúng tôi, King (90) bị giết hại và lập tức ở bờ bên kia đại dương, ở Đức quốc, một kẻ bệnh hoạn định giết người phát ngôn của sinh viên Đức”.

    Đây không phải là tuyên bố màu mè của một chính trị gia đang lên như diều, mà là lời khẳng định sự thật. Robert Kennedy biết rằng, thế giới ngầm bạc tỉ Hoa Kỳ căm thù ông hơn bất cứ ai khác. Không giống những người khác, thường dừng lại ở nửa đường, ông đã đạt được ít ra là thắng lợi bộ phận trong cuộc chiến với tội ác. Ngày 5-8-1968, Robert Kennedy đến khách sạn Ambassador (Đại sứ) ở Los Angeles.

    Sau này khi được tận mắt quan sát hiện trường, khách sạn trên đại lộ Wilshire làm tôi thất vọng. Nó làm người ta nhớ tới các khách sạn cổ ở châu Âu với ban công và một tượng hầu tước loè loẹt ngay trên cửa ra vào.

    Robert Kennedy đi đến trong chiếc xe Roll-royces sang trọng của người bạn là đạo diễn điện ảnh Fran Kenheimer. Các em gái của Kennedy là Pat và Jean cùng hai ông chồng- ông bầu của chiến dịch tranh cử Fred Dutton và nhà vô địch Ragby(91) hâm mộ Roosevelt Grier, vô địch Olympic thể thao mười môn Raffer Johnon, các ký giả và một vài thượng khách được chọn lựa kỹ càng, đang hồi hộp chờ đợi trong một phòng trang hoàng lộng lẫy. Ở tầng dưới, cả hai hội trường khiêu vũ chật ních các cử tri trẻ, họ đến để chúc mừng chiến thắng của Bobby(92) yêu mến.

    Bỗng đoàn ra khỏi thang máy và đi vào. Mọi người vỗ tay, hô khẩu hiệu chào mừng. Đi bên cạnh Robert Kennedy là bí thư báo chí Frank Mankiewitz, còn phía bên kia là vệ sĩ Tgane Caesar. Trong hội trường dàn nhạc đang chơi bài “Khi các thánh thần xuống đường” của gia đình Kennedy. Cô bé Lisa Lynn Urse là người đầu tiên nhìn thấy hung thủ, một người nhỏ bé, da nâu, mặc sơ mi xanh. Hắn chen đến gần Robert Kennedy, vươn tay ra như thể muốn bắt tay Tổng thống trong tương lai như những người hâm mộ khác. Nhưng đó lại là bàn tay cầm súng. Một vài tiếng nổ và Robert Kennedy quỵ xuống sàn nhà.

    Có lẽ không cần thiết phải nhắc lại diễn biến tiếp theo được nhiều tài liệu mô tả. Hung thủ bị cảnh sát bắt giữ, xe cứu thương chở Kennedy vào bệnh viện Hộ lý từ thiện cách đó không xa, các nhà giải phẫu thần kinh giỏi nhất nước đã quyết định mổ não, họ cố gắng cứu sống nạn nhân nhưng không thành công vì vết thương quá nặng. 1 giờ 30 phút sáng 7 tháng 8, bà Kennedy nắm tay vĩnh biệt chồng. 18 phút sau, trước các ký giả và ống kính tivi, bí thư báo chí Mankiewitz, bằng một giọng mệt mỏi, thông báo: “Tôi được uỷ nhiệm tuyên bố:thượng nghị sĩ RobertKennedy đã qua đời”.

    Hung thủ chỉ cao có 1,55 centimet, da nâu, nặng hơn 50 kilôgam, mắt đảo qua đáo lại lo lắng. Và gã câm lặng. Gã không tiết lộ tên tuổi, hoàn toàn không muốn khai báo. Giám đốc cảnh sát ở Los Angeles là Thomas Redin biết rằng cứ tra hỏi mãi tên ám sát da nâu nhỏ bé này cũng không dẫn đến đâu, liền cho chụp ảnh gã và vài phút sau trên màn hiện hình của hàng triệu tivi Mỹ xuất hiện ảnh kẻ giết người cùng câu hỏi: Ai biết người này?

    Đồng thời, các chuyên gia đã cố gắng nhận hình vũ khí giết người và phân tích vân tay trong catalog của FBI. Khẩu colt tám phát Johnson cadet, model 55, cỡ 5- 6mm, có lẽ là loại vũ khí thông dụng nhất ở Mỹ. Nó được sản xuất và lưu hành từ thời miền Tây hoang dã đến nay, trị giá có vài đôla. Chủ nhân đầu tiên là Albert Hunt, sau này ông ta trao lại khẩu súng cho con gái. Cảnh sát tìm ra cô gái ở phố nhỏ Woodacre gần San Francisco và được biết cô đã tặng súng cho George Erhard ở Passadena, một thanh niên mới 18 tuổi.

    Các thám tử lại rong ruổi đến Patsadena và tìm được George Erhad.

    - Ở đây, ở Passadena, trong cửa hàng bách hoá có một thanh niên nhỏ bé, tóc đen, đang làm việc. Anh ta tên là Joe. Anh ta mê khẩu súng. Thế là tôi bán nó cho anh ta, - Erhard nói

    Trong khi đó, một khán giả tivi nhận ra người trên ảnh và gọi điện thông báo địa chỉ: Passadena, phố Howard Stret, số nhà 699. “Joe” tên thật là
    Abdel Sirhán, người Jordan và hiển nhiên là có lương tâm trong sạch.

    - Khẩu súng ấy đâu rồi?- cảnh sát hỏi.

    - Tôi cho em trai mượn,- Joe bình tĩnh trả lời.

    - Em của anh tên gì? ,

    - Sirhán Bishanra.

    Cảnh sát giơ ảnh ra.

    - Có phải người này không?

    - Vâng thưa ngài.

    Đã hơn 15 năm trời trôi qua kế từ ngày xảy ra vụ ám sát, khi mà sự phẫn nộ bột phát, sự kết luận nông nổi được thay thế bởi đầu óc tỉnh táo, chín chắn, người ta thấy có cái gì không bình thường ở kẻ được coi là thủ phạm duy nhất. Tại sao hắn lại không muốn nói? Bất kỳ ai dám phạm một tội ác như thế, hoặc vì lòng tin vào lí tưởng, hoặc tự kỷ ám thị cho mình được thay đấng tối cao trả thù, trừng phạt và tiêu diệt một bạo chúa, đều có cảm giác, cần thiết tự quảng cáo. Nhưng Sirhán im lặng. Quả là kẻ giết người bàng quang không thế tưởng tượng nổi. Cái gì nấp sau bộ mặt bất động kia?

    Sirhán sinh ngày 18.3.1944, tại làng Silvan ở Jordan. Không xa Jeruzalem. Khi cậu 13 tuổi, gia đình cùng đường phải sang Mỹ kiếm kế sinh nhai. Người bố không làm sao thích nghi với môi trường Mỹ, đã quay lại cố hương để lại vợ và các con ở Passadena. Cậu đi đến trường ở đó. Sau đó, vì nhỏ nhẹ cân, cậu làm chân, cưỡi ngựa đua trong một trường đua ngựa ở Ca Librnia. Cũng như các trường đua khác ở California.
  • Chia sẻ trang này