25.vancuong7975(xong)WIKI

25/11/15
25.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    trường đua này thuộc về mafia. Có thời gian Sirhán làm thủ kho ở một hiệu tạp hoá, ở đâu gã cũng làm việc chăm chỉ, và được các ông chủ hài lòng. Gã ít nói, không quan tâm đến gì cả, chỉ có quan điểm chính trị hay đúng hơn, tôn giáo là đặc biệt.

    Trong báo cáo của FBI có phần xác nhận rằng găngxtơ chuẩn bị vụ ám sát cực kỳ cẩn thận và ghi chú mọi chi tiết vào một sổ nhỏ. Quyển sổ này cũng chứa quan điểm chính trị lộn xộn và một câu đáng chú ý sau: “Kennedy phải chết trước ngày 5.6.1968”. Quả là một tuyên bố lộ liễu và một bằng chứng không ngờ. Đó là ngày kỷ niệm một năm bắt đầu cuộc xung đột Israel-Arab ở Cận Đông. Song Robert Kennedy có gì liên quan đến vụ xung đột giữa Israel và thế giới Arab? Suy cho cùng đó chẳng phải là sự đánh lạc hướng có tính toán sao?

    Các điệp viên FBI đã xác định rằng Sirhán đi đến khách sạn Ambassador trong chiếc xe Desoto cũ, model 1956. Gã đậu xe, đi vào trong, dừng lại bên quầy giải khát mua cốc-tai, rồi với cốc nước trong tay, gã hoà mình vào đám đông. Gã chờ con mồi của mình và nổ súng. Ngay từ đầu, đó đã là cách giải thích không thể tin được. Vì cửa chính bị tắc do quá đông người, nghị sĩ Kennedy cùng đoàn hộ tống có cả vệ sĩ Caesar đi cửa bếp phụ. Sirhán đã chờ sẵn ở đó. Làm thế nào hung thủ biết được con mồi của mình sẽ đi qua chính lối phụ này? Giám đốc khách sạn Ambasador đã quyết định đi lối đó ở phút chót. Như vậy đó không phải tuyến định trước, không phải dự định mà chỉ là sự linh hoạt bột phát mà thôi. Tồn tại đấng tối cao chỉ đường cho Sirhán chăng?

    Người đầu tiên làm sụp đổ giả thiết một hung thủ “duy nhất” là điện ảnh gia thời sự T.Charles Charach. Ông ta chọn một số đoạn phim tình cờ quay được vụ ám sát, chiếu cho các ký giả xem và cố gắng chứng minh rằng Sirhán Bishara không phải là người bắn duy nhất, rằng đó là sự lật đổ có chuẩn bị, rằng Kennedy bị chính vệ sĩ của mình là Caesar bắn tử thương. Có phải ngẫu nhiên mà Caesar có cùng một kiểu súng như Sirhán? Theo một giả thiết khác,thì đây là vụ lật đổ có tổ chức, có nhiều tay súng chốt ở các địa điểm. Sirhán là một trong những kẻ giết thuê canh giữ đoạn đường nhà bếp và Kennedy đã đi vào họng súng của gã. cả giả thiết này cũng không được chứng minh. Nghi vấn sự việc xảy ra khác với báo cáo chính thức của FBI được củng cố bởi các sự kiện bí ẩn sau đó.

    Hội đồng thẩm phán ở Los Angeles sau này đã thông báo cho uỷ viên công tố J.Busch rằng một số tài liệu điều tra quan trọng bị mất cắp và sự đánh giá của các chuyên viên vũ khí cũng không theo đúng quy chế tư pháp.

    Nhưng chúng ta hãy nhìn nhận sự cố ở khách sạn Ambassador từ một góc độ khác. Rõ ràng là động cơ ám sát của Sirhán không đứng vững. Song ai có thể mong muốn đặc biệt cái chết của em trai cố tổng thống và chắc chắn sẽ là Tổng thống tương lai? Mafia.

    Thông qua tổ chức công đoàn Teamsters Union, mafia thâu tóm tất cả các ngành buôn bán ở Hoa Kỳ. Sân bay Kennedy ở New Yok là một hãng kinh doanh khổng lồ, hàng ngày nhập vào và xuất đi hàng nghìn tấn hàng hoá các loại. Mafia kiểm soát tất cả các tài xế Teamsters Union và nắm độc quyền ăn cắp hàng máy bay khoản tiền lên tới hàng tỉ mỗi năm. Theo báo cáo FBI, một phần ba hàng điện tử, thực phẩm, đồ da và đồ trang sức rơi vào tay mafia. Teamsters Union bảo đảm việc ăn cắp trót lọt trên quy mô toàn quốc và chủ tịch công đoàn Jimmy Hoffa đã bỏ túi 385 triệu đôla.

    Nhưng rồi trên vũ đài xuất hiện một đối thủ nguy hiểm. Bộ trưởng tư pháp Robert Kennedy và Jimmy Hoffa quyết định bằng mọi giá tiêu diệt Kennedy. Hoffa đã tiết lộ mưu đồ sát hại Bộ trương tư pháp cho phó sếp Endriuward Grody Partin và người này sau này đã tố giác:

    “Ban đầu Hoffa định cho bắn Kennedy bằng súng tầm xa, bởi vì bộ trưởng tư pháp hay đi xe mui trần và là mục tiêu tốt cho các tay súng. Sau đó y thay đổi quan điểm và dự định cho nổ tung biệt thự Kennedy ở virginia, thiêu cháy F.Kennedy cùng cả gia đình. Khi tôi nhắc Hoffa rằng như vậy cả trẻ con cũng không tránh khói chết cháy y trả lời: Thế thì sao, bọn nhóc ấy cũng là Kennedy mà”.

    DỌA NẠT
    Edwar Moore Kennedy là người con trai thứ ba của dòng họ Kennedy. Cái chết của hai người anh trai trên vũ đài chính trị vẫn không làm ông ta từ bỏ ý đồ tiếp tục sự nghiệp chính trị, và điều đó làm mafia không hài lòng. Có nhiều khả năng mafia đã quyết định thanh toán ông ta, mặc dù cũng như hai trường hợp trước, người ta chưa thu được các bằng chứng không thể chối cãi được về những ngón tay dài của hiệp hội tội ác.

    Lãnh địa của dòng họ Kennedy nằm trải rộng trên vùng đất nhô ra Đại Tây Dương ở bờ biển đông nam bang Massachusetts. Họ sở hữu những khu rừng bạt ngàn và những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Kế cận là dinh thự của các gia đình triệu phú khác, các trí thức và nghị sĩ giàu có, nơi tụ họp ăn chơi của tầng lớp thanh niên công tử và các playboys trung niên.

    Không xa thái ấp Kennedy là một đảo nhỏ mang tên Chappaquiddick với cảng Edgartown. Và cạnh nó chỉ cách con kênh nhỏ Poucha Pond. Là thiên đường của những kẻ khá giả, đảo Marthas Vineyard.

    Chiều thứ sáu ngày 18.7.1969, thượng nghị sĩ Edward M.Kennedy bay đến đảo Chappaquiddick dự hội đua thuyền do câu lạc bộ “Edgartown Yacht Club” tổ chức. Sau cuộc đua, ông ta thuê một nhà nghỉ và tổ chức dạ tiệc cho bạn bè thân cận. Họ ăn mừng chiến thắng trong cuộc thi vừa rồi, đồng thời muốn bày tỏ sự biết ơn đối với các cô gái nhiệt tình tham gia chiến dịch vận động bầu cử của Robert Kennedy năm trước.

    Bữa tiệc tiến hành theo đúng chương trình. Rượu chảy như suối, nhạc giật gân ầm ĩ và các cặp ôm nhau dâm dật. Tất cả đàn ông, kể cả thượng nghị sĩ Edward Kennedy, đều không mang theo vợ. Khoảng gần 12 giờ đêm thì Edward Kennedy và cô gái tóc vàng Mary Jo Kopechne lỉnh trốn mọi người.

    Không ai ngạc nhiên cả, anh em nhà Kennedy xưa nay vẫn nổi tiếng trăng hoa mà. Cả hai ngồi lên xe Limousine 88 đen của Kennedy và biến vào bóng đêm.

    Sáng sớm thứ bảy, các ngư dân phát hiện thấy chiếc xe Limousine đen nằm lật ngược dưới cầu qua kênh Poucha Pond, cách nơi dạ tiệc khoảng hai cây số. Họ thông báo cho cảnh sát và sếp cảnh sát địa phương Dominick Arena lập tức đến hiện trường. Thợ lặn lôi từ trong xe bị nạn ra một xác phụ nữ, trong túi xách có chứng minh thư cho phép được vào trụ sở của thượng nghị viện Hoa Kỳ. Nạn nhân chính
    là Mary Jo Kopechne, một thời làm thư ký riêng cho Robert Kennedy.

    Khoảng 10 giờ sáng hôm đó, thượng nghị si Edward Kennedy đến đồn cảnh sát ở Edgartown thông báo rằng xe ông bị tai nạn ở cầu Dyke Bridge và yêu cầu giữ kín tin đó trong vòng ba tiếng đồng hồ. Sau này khi được công khai, lời khai của Kennedy không có sức thuyết phục cho mấy. Edward Kennedy kể rằng ông cùng Mary Jo Kopechne rời khỏi dạ tiệc vào khoảng 23 giờ 15. Ông định đi đường Main Street đến cảng Edgartown, nhưng vì không thạo đường nên đã đi lạc sang đường đất Dyke Road. Khi đi được vài trăm mét đường đồng và đi xụống dốc thì bỗng xuất hiện một cầu nhỏ, không có thành chắn. Ông không giữ vững tay lái, làm xe rơi xuống nước lật ngược và chìm xuống đáy. Ông đã vùng vẫy hết sức đề mở cửa và không nhớ mình thoát ra ngoài xe như thế nào nữa. Khi nổi lên mặt nước và sực nhớ trong xe còn Mary Jo Kopechne, ông lặn xuống mấy lần định cứu cô ta nhưng vô vọng. Trời quá tối. Ông không nhớ rõ chi tiết, vì bị choáng và quá kiệt sức.

    Ông chỉ nhớ lờ mờ là sau đó cũng lết được đến ngôi nhà nghỉ, ngồi lên một xe đỗ trước cổng và yêu cầu ai đó lái xe đi, cuối cùng tỉnh lại thì thấy mình nằm trong phòng ở khách sạn.

    Cùng đi với Edward Kennedy đến đồn cảnh sát còn có luật sư Paul Markham, cũng có mặt trong buổi dạ tiệc. Từ đồn cảnh sát, Kennedy gọi điện chia buồn đến gia đình nạn nhân, sau đó ông lên máy bay riêng bay về thái ấp của dòng họ Kennedy.

    Xếp cảnh sát Dominick Arena đã tiến hành xem xét hiện trường, không phát hiện có vết phanh xe, các dấu vết xác nhận tai nạn cũng không. Tuy vậy, Arena không hỏi Kennedy một câu nào cả và tuyên bố rằng đó là tai nạn giao thông đáng tiếc. Tất nhiên là uy tín của thượng nghị sĩ Kennedy là một đảm bảo cho cảnh sát rằng lời khai của ông ta về tai nạn tối hôm đó là chính xác và đúng sự thật.

    Tuy nhiên trong hồ sơ xuất hiện vài điểm mâu thuẫn. Kennedy khẳng định rằng ông đi từ nhà nghỉ vào khoảng 23 giờ 15 để kịp chuyến phà sang đảo Marthias Vinevard. Nhưng phó sếp cảnh sát Ch.Lock lại khai rằng khoảng 0 giờ 40, anh ta nhìn thấy gần khu nhà nghỉ chiếc xe Limousine đen, sau một lát lưỡng lự rẽ sang đường đất dẫn đến cầu Dyke Bridge. Còn chỉ huy cứu hỏa A.M.Silva thì khẳng định rằng tai nạn không thể xảy ra trước 1 giờ kém 15.

    Vậy Kennedy và Kopechne đã làm gì từ 23 giờ 15 đến 0 giờ 50? Làm sao thượng nghị sĩ Kennedy có thể nhầm đường được khi mà ở ngã tư có biển dạ quang chỉ đường. Chuyến phà cuối cùng đến lúc giữa đêm. Kennedy còn tìm cái gì ngoài đồng vào lúc 1 giờ kém 15?

    Kennedy tuyên bố là đã cố gắng cứu Mary Jo Kopechne một cách tuyệt vọng. Sau đó trong cơn sốc và mệt mỏi, ông quay trở lại nhà nghỉ. Nhưng đoạn
    đường mà ông phái đi qua không nằm trên sa mạc. Hai bên đường có nhiều nhà nghỉ và một số vẫn còn đèn. Nghị sĩ Kennedy quả đã kiệt lực tới mức không còn biết làm gì tiếp? Nếu như vậy, tại sao ông không gõ cửa nhà gần nhất, yêu cầu giúp đỡ, mà lại phải lết hai cây số đến chỗ dạ tiệc làm gì?

    Edward Kennedy khẳng định là đã yêu cầu ai đó chở về Edgartown. Một câu hỏi được đặt ra là những người tham dự dạ tiệc được biết về tai nạn khi nào và tại sao họ không báo cảnh sát? Nhà nghỉ ở trên đảo Chappaquiddick, nhưng sáng sớm Kennedy đã có mặt ở khách sạn trên bờ bên kia kênh, Kennedy qua kênh bằng cách nào khi chuyến phà cuối cùng rời bên lúc 24 giờ?

    Edward Kennedy tuyên bố là đã bơi qua kênh và đến khách sạn lúc 2 giờ sáng, ngủ một lúc, sau đó gọi điện cho luật sư của gia đình là Burk Marshall. Song chủ nhân khách sạn là Russel E.Peachney lại khẳng: định rằng ông ta nhìn thấy thượng nghị sĩ Kennedy về khách sạn lúc 2 giờ 25 và quần áo không bị ướt.

    Kennedy khai rằng ông lạc đường và bị bất ngờ bởi chiếc cầu hẹp qua Poucha Pond. Nhưng ngày 18.7. Kennedy đã đi trên quốc lộ ở Chappaquidick ba lần và qua dường đất Dyke Road và cầu Dyke Bridge hai lần. Như vậy ông phải biết chính xác là cầu hẹp và không có thành chắn.

    Khi khám nghiệm tử thi Mary Jo Kopechne, các bác sĩ xác minh rằng cô uống rất ít, có lẽ chỉ hai, ba
    cốc cốc-tai. Trên áo sơ mi trắng có vết máu không bị nước xóa nhòa. Điều đó chứng tỏ cô bị thương trước khi rơi xuống nước. Edward Kennedy có nhiều vết đánh trên đầu và gáy. Thậm chí trong đám tang Mary Jo Kopechne và khi phát biểu trên tivi, cổ ông còn quấn băng. Theo các chuyên gia thì những vết thương như vậy không thể xảy ra dưới nước khi Kennedy cố thoát ra khỏi chiếc xe bị chìm.

    Xung quanh tai nạn trên đảo Chappaquidick và lời khai của Kennedy có nhiều điểm mâu thuẫn tới mức khiến các nhà hình sự đặt vấn đề nghi vấn. Họ cảm thấy Kennedy cố giữ bí mật các sự kiện, rằng ông không muốn, hay không thể nói về một số chi tiết. Bởi vậy người ta đã thử, xuất phát từ các lời khai của nhân chứng và kết quả điều tra, tái dựng lại các sự kiện xảy ra đêm hôm đó. Trên sân khấu xuất hiện mafia.

    Hai tên giết người chuyên nghiệp giấu mình sau bụi cây trước nhà nghỉ. Khi nghị sĩ Kennedy và tình nhân Mary Jo Kopecline đi ra xe, chúng liền nhảy ra và đánh họ gục ngã. Các vết máu trên áo của Mary Jo và vết thương ở gáy Kennedy bởi một đòn Karate, đã xác nhận giả thiết này. Sau đó, các hung thủ chở hai nạn nhân đến cầu và đẩy xe xuống kênh. Nước lạnh làm Kennedy tỉnh lại và ông ta may mắn thoát chết, còn Mary Jo thì chết chìm trong xe.

    Nhiều tình tiết đã khảng định giả thiết trên. Phó sếp cảnh sát Leck nhìn thấy nhiều người trong xe. Thợ lặn tìm thấy Mary Jo ở ghế sau. Thật là khó tin, khi trong xe chỉ có hai người mà chàng ngồi sau vô lăng còn nàng lại ngồi ở ghế sau.

    Edward Kennedy im lặng. Hiển nhiên là ai đó đã dọa sẽ cho ông nối bước các anh nếu ông tiết lộ sự thật. Họ nhắc ông nhớ lại tai nạn máy bay mà ông may mắn thoát chết, trong khi phi công và bí thư của ông thiệt mạng. Dư luận không bao giờ biết được nguyên nhân thật sự của tai nạn. Người ta cho rằng có kẻ đã cố ý phá hỏng cơ chế điều khiển máy bay.

    Kennedy đã lo sợ thật sự khi biết rằng đến lần thứ ba thì ông sẽ không sống nổi? Có điều chắc chắn là ông quyết định rời bỏ con đường danh nghiệp. Ông biết rằng mafia không muốn thấy bất cứ Kennedy nào trong Nhà Trắng cả. Các sự kiện tiếp theo đã khắng định điều đó.

    “Khách vãng lai” ở Dallas, Howard Hunt, trở thành nhân vật nổi tiếng nhờ vụ bê bối “Watergate”. Y chính là cố vấn của Tổng thống Nixon và tác giả của nhiều mánh khóe bẩn thỉu.

    Khi các tài liệu mật của Lầu Năm Góc về chiến tranh Việt Nam bị báo chí tiết lộ ngày 13.6.1971, người ta đã nổi trống báo động ở Nhà Trắng và tiến hành truy tìm lỗ rò thông tin. Một đơn vị đặc biệt, đội điều tra của Nhà Trắng White House Special Investigation uni đã ra đời. Nó đóng đô ở phòng số 16, tầng ngầm ngôi nhà hành chính, bên cạnh Nhà Trắng, Emil Krogh được chỉ định làm chỉ huy, còn phó sếp là David Young, người của Kissinger trong Hội đồng an ninh quốc gia. Tiếp đến là các điệp viên sừng sỏ Jack Caulfield và Tony Vlasewicz. nhũng con cáo già từng hoạt động lâu năm trong đơn vị đặc biệt của cảnh sát New York Bujreau of Special Service and Investigation(93). Họ có một nhiệm vụ duy nhất là ngăn cản, làm nhục và hăm dọa người Kennedy cuối cùng, ở ngôi nhà số 321 phố 19 có người khách trọ mang tên Thomas A.Watkins. Người này thuê dài hạn phòng số 11C với giá 370 đôla hàng tháng. Phòng được trang trí một cách đặc biệt với thị hiếu có lẽ của một độc giả nhiệt thành của tạp chí Playboy(94).

    Ngài Thomas A.Watkins bí ẩn đi đến rồi lại vắng mặt không đều, vài lần dẫn theo cả khách, song nhân viên thường trực đâu có biết rằng những “người bạn” của Watkins là các chuyên gia đến để lắp những máy quay phim và các hệ thông nghe lén bí mật trong phòng. Ngài Watkins tên thực là Tony Vlasewioz và y đang bài trí một màn kịch cho Margarete Caroll. Esther Newberg và một số cô gái khác đã tham dự dạ tiệc do Kennedy tổ chức ở đảo Chappaquidick. Các điệp viên dự định sẽ chuốc say những người đẹp của Kennedy, chụp ảnh, ghi âm những lời kể của họ về tối ăn chơi trên đảo. Như vậy, không những chỉ ngăn cản mà còn thanh toàn về mặt chính trị Edward Kennedy.

    Ai đã thuê các điệp viên này? Tổng thống Nixon bằng quỹ vận động bầu cử, hay còn một kẻ thế lực nào khác trong hậu trường, không muốn thấy Kennedy trên vũ đài chính trị? Họ không để ông ta yên. Cáo già Howard bước lên sân khấu. Y đã chế biến lại hơn 240 tài liệu mật của FBI và Bộ ngoại giao thành các tài liệu phương hại đến uy tín hai anh em Kennedy đã chết, và như thế cũng hạ bệ uy tín của người còn sống là Edward Kennedy, y thay đổi tên tuổi, các sự kiện và trao bản photocopy các tài liệu giả cho các báo. Màn kịch với các người đẹp của Edward Kennedy cũng do chính y đạo diễn.

    Tháng 12.1982, khi tôi đang viết bản thảo quyển sách này thì báo chí đưa tin: “Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Edward Kennedy thông báo không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ 1984-1988, vì những lý do và cá nhân gia đình”.

    NHÂN CHỨNG SỐNG
    Tháng 5.1962. Công trường xây dựng xa lộ ở bang Georgia. Các xe ủi đào đất và những xe tải lớn chở đất đi. Xa lộ đi qua nghĩa địa và những người chết được dời đến chỗ khác. Đã hơn 10 năm nay người ta không mai táng ai ở đây cả.. Nhưng khi mở một ngôi mộ người ta thấy trong đó có hai xác chết. Người thứ hai chết chưa lâu, có lẽ mới được nửa năm, mặc bộ đồ tù và được ai đó lén chôn vào ngôi mộ cũ.

    Đây là người trạc 60 tuổi, trên sọ có vài vết thương, rõ ràng là bị đánh chết. Pháp y được gọi đến và xác minh xác chết đã nằm trong mộ khoảng sáu tháng. Mặt đã biến dạng, vân tay cũng không còn sau một thời gian dài như vậy. Số tù trên áo cũng bị xé mất. Làm thế nào đế nhận dạng nạn nhân?

    Vào thời gian này, uỷ viên công tố Henry Kimbell bắt đầu sự nghiệp ở Durham, bang Bắc Caroline. Trẻ tuổi, đầy tham vọng, ông bắt tay điều tra vụ án với quyết tâm của một luật sư trẻ tuổi muốn nổi danh. Ông lập luận: tù nhân trong ngôi mộ nhất định phải vắng mặt ở đâu đó. Hàng ngày các nhà tù đều có đếm số người ăn, và phải biết tù nhân nào thiếu. Ông gửi công văn cho tất cả các nhà giam ở Mỹ và chẳng bao lâu được biết rằng không nhà giam nào mất tù nhân cả.

    Luật sư Henry Kimbell liền quay sang cách khác. Ông cho nghiên cứu phân tích bộ đồ tù đã quá cũ. Cả phương pháp này cũng không giúp ông tiến xa hơn, bởi vì tất cả đồng phục tù nhân đều được may bằng một loại vải. Hơn nữa, chưa chắc nạn nhân đã là tù nhân. Hung thủ có thể đã dùng bộ đồ tù để đánh lạc hướng điều tra.

    Một giả thiết mới xuất hiện. Án mạng xảy ra trong khi chuyên chở tù nhân. Một kẻ nào đó đã giết người tù xấu số để đội lốt nạn nhân chịu một án nhẹ, thay cho án chung thân mà có lẽ hung thủ đã lãnh. Trong tất cả các nhà tù đều có phiếu nhận dạng có ảnh. Đồng bọn của hung thủ làm việc trong nhà tù lo việc thay ảnh trên phiếu nhận dạng.

    Henry Kimbell kiên trì lần lượt khắp các nhà tù, nghiên cứu hồ sơ tất cả các tù nhân trước đó khoảng nửa năm bị chuyển chỗ giam. Ông tin rằng sẽ tìm ra hung thủ. Các ký giả theo dõi và tường thuật từng bước đi của nhà thám tử, luôn giữ độc giả trong trạng thái căng thẳng hồi hộp, uỷ viên công tố không phiền lòng nếu như họ có cường điệu chút ít, bởi vì dư luận cũng là một bộ phận chiến thuật của ông. Ông chờ người tù giả lo sợ và phạm sai lầm.

    Con thú đã bị đánh động. Ngày 22.6.1962, ở nhà tù Atlanta, bang Georgia xảy ra sự kiện đáng chú ý. Trước tám giờ sáng, tù nhân sếp hàng trên sân nhà tù để kiểm tra. Một tù phạm tóc xám, vẻ điềm đạm nghiêm chỉnh, bỗng rút trong túi ra một ống sắt, nhảy bổ đến tù nhân Syduev Potter và chỉ với vài cú đánh, đã giết chết người này. Hung thủ tên là Elmer Cheasty. Y bình tĩnh cho giải đến phòng giám đốc nhà tù, ngồi một cách nặng nhọc xuống ghế và xin thuốc hút.

    - Tôi không biết cái gì đã xảy ra với mình. Bỗng nhiên tôi lên cơn và tôi phải giết một người nào đó.

    Hung thủ bị điên? Chỉ huy trung tâm hình sự không tin điều đó. Kimbell cũng không. Quả là có tù nhân bị điên trong thời gian ở tù, nhưng tên này không có vẻ như vậy. Nếu như y không điên thì tại sao y lại giết người? Y bị kết án một năm tù vì tội trộm cửa hàng và chỉ còn vài tuần nữa là được ra tù. Người ta chuyển y từ Albana tới Atlanta, ở Albana thiếu chỗ giam.

    Thậm chí hung thủ Cheasty và nạn nhân Potter còn ở chung xà lim từ ngày hôm trước, Làm thế nào mà Potter lại được chuyển đến xà lim Cheasty, khi mà Potter đã ngồi tù được 18 tháng? Potter yêu cầu giám ngục cho ở cùng với Cheasty vì theo y nói, họ từng là bạn chiến đấu với nhau trong quân đội, họ sẽ có chuyện để quên đi, những ngày dài trong tù.

    Ủy viên công tố hồi hộp khi cầm trong tay hai phiếu nhận dạng của hung thủ và nạn nhân. Ông cảm thấy chúng khác nhau. Một phiếu dường như dày hơn và có bề mặt thô hơn. Các phiếu nhận dạng lập tức được gửi đến phòng thí nghiệm FBI, và người ta xác minh phiếu của Cheasty là giả. Cũng giống như giấy bạc, séc và các giấy giá trị khác, các phiếu nhận dạng tù nhân có những ký hiệu đặc biệt của nhà in Quốc gia. Phiếu của Cheasty không có những ký hiệu đó. Người ta xem xét hồ sơ tù nhân. Dấu tay và ảnh không đúng với tù nhân mang tên Cheasty. Từ đó dễ dàng suy ra rằng, xác chết trong mộ gần xa lộ là tù phạm Elmer Cheasty, còn kẻ giết Sydney Potter không phải Elmer Chaesty mà là tù nhân khác. Vậy kẻ đội lốt Elmer Cheasty thực tế là ai?

    Kẻ bí hiểm này tên thức là Joseph Valachi và sau này trở thành ngôi sao tivi của mafia. Ông bầu và đạo diễn buổi hỏi cung công khai trước các ống kính tivi là Bộ trưởng tư pháp, thượng nghị sĩ Robert Kennedy. Việc chuẩn bị kéo dài cả năm, song đã được đền bù xứng đáng 120 triệu khán giả tivi và hàng trăm triệu khán giả xinê trên khắp thế giới hồi hộp theo dõi cuộc đời sóng gió của con người lần đầu tiên trong lịch sử, quyết định vi phạm luật sắt im lặng của mafia và tiết lộ các bí mật của hiệp hội tội ác. Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự phản bội mafia là các “bố già” đã âm mưu giết Valachi ở ngay trong tù. Nghe đâu Sydney Porter là kẻ giết thuê được vào tận xà lim, nhưng Valachi đã nhanh tay hơn.

    Valachi tuyên bố rằng y không biết gì đến cái tên Elimer Cheasty cũng như xác chết trong ngôi mộ. Còn việc hồ sơ thực, giả, đấy không phải trách nhiệm của y. Sydney Potter cũng không tồn tại. Valachi đã giết nhầm một người tên khác và không liên quan gì đến mafia. Y bị buộc tội giết người và uỷ viên công tố đề nghị hình phạt cao nhất: tử hình. Để cứu mạng, Valachi quyết định “hợp tác với chính phủ liên bang” phản bội mafia. Thế là bí mật xác chết trong mộ bị lãng quên bên cạnh sự kiện giật gân số một này. Chương trình tự thú của Valachi trên tivi quả là một sự kiện có một không hai và không có gì đáng ngạc nhiên cả, khi toàn bộ gia đình, từ cháu đến ông cả ngày ôm tivi để theo dõi lịch sử “chính phủ vô hình Hoa Kỳ” mafia.

    Câu chuyện thực của Joseph Valachi, biệt hiệu Joe Cago, không chỉ là một bằng chứng vô giá, mà còn là tấm gương phản chiếu xã hội Hoa Kỳ. Nó có một vị trí quan trọng trong lịch sử chống tổ chức tội ác, Joe Valachi là kẻ giết thuê từ thời Al Capone, y có khả năng nhớ tên ngày và sự kiện cực kỳ chính xác. Hơn nữa, y sẵn sàng khai tố và khán giả tivi không để ý rằng, y chỉ nói về những tội ác đã được pháp luật khóa sổ(1).

    Joseph Valachi sinh ngày 22-9-1904, ở khu phố Harlem thuộc New York, trong một gia đình, như y thường nói pha chút cường điệu “nghèo nhất thế giới”. Mẹ của y, một phụ nữ Ý to lớn, tên là Maria
    Casale, còn bố y tên là Domenico, một con sâu rượu với bộ râu xồm vĩ đại. Domenico đi làm thuê, kiếm được xu nào thì uống hết xu ấy, luôn thượng cẳng tay hạ cẳng chân với vợ con. Anh cả của Valachi là Anthony, chết trong nhà thương điên, trong nhà tù Dannernore, bang New York. Em út Johny là tay du đãng, một buổi sáng cảnh sát thấy nằm chết trên phố. Ba chị em gái của y sống bình thường, mới trưởng thành, họ đã lấy chồng và chuyển đi nơi khác.

    Cũng như tất cả những tên găngxtơ khác, Valachi lớn lên trên đường phố, trở thành thành viên của băng thanh niên du đãng, bị đưa vào trại cải tạo, họa hoằn mới cắp sách đến trường. Lên 18 tuổi, y cầm đầu một nhóm trộm cướp đáng gờm được các nhà báo đặt tên là “Miniuteman găng” Băng một phút. Chúng chuyên về các vụ cướp nhỏ, không kéo dài quá một phút. Chúng đập tủ kính, vơ vội vàng áo lông hay đồ vàng bạc. Sau một phút biến mất.

    Trong các vụ cướp sau này, Joe Cago có tiếng là một tài xế nhanh nhẹn và kinh nghiệm. Y len lách tài tình trên đường phố, chở đồng bọn và hàng ăn cướp đến nơi an toàn. Chúng hoành hành vô sự ba năm trời trên đường phố New York cho đến khi bị đại uý cảnh sát hình sự Stetter lần ra dấu vết. Theo hồ sơ FBI số 544, Joeph Valachi bị kết án ba năm tù và y ngồi tù trong nhà giam quốc gia Sing-Sing ở Ossining, bang New York, từ 9-4-1925 đến 15-6-1928. Ngày 14-3-1929, y lại bị cảnh sát New York bắt giữ, song được thả ngay ngày hôm sau.

    Y lại trở về với nghề cũ, dành tiền mua chiếc Packard cũ từ năm 1921, để có thế nhanh chóng biến khỏi hiện trường. Nhưng số y đen đủi. Trong một vụ cướp cửa hàng đồ lông có sự trục trặc, y phải ở lại hiện trường hơi lâu, nhân viên bảo vệ xuất hiện và lập tức nổ súng. Valachi trúng đạn vào đầu và đồng bọn tưởng y đã chết. Chúng liền bắn lên trời để đánh lạc hướng cảnh sát rồi biến mất.

    Khoảng sau một giờ, đồng bọn quay lại hiện trường, thấy Valachi còn nằm thoi thóp thở trên vỉa hè. Valachi được đồng bọn chở đến bác sĩ và sau hai tháng, y mới có thể đi lại được. Sau khi bình phục, y làm quen với Dominick Petrilli, nổi tiếng với biệt hiệu “The Gap”. Petrilli trở thành thầy học và nỗi bất hạnh của y, Petrilli không dạy gì hay cho y, không mang lại gì tốt đẹp cho y. Con đường của Petrilli lại dẫn y đến nhà đá.

    Cả hai vạch kế hoạch cướp kho vải. Một cú làm ăn lớn với hàng nghìn đôla. Chiếc xe Packard của Valachi không đủ chỗ để chở hết đồ ăn cắp, thế là chúng kéo theo cả Chủ xe hơi Joseph Cagliano, biệt hiệu “Pip” và một vài tên khác. Tất cả tiến hành theo đúng kế hoạch, chúng lặng lẽ chất từng súc vải lên xe, lòng khấp khởi như nắm từng xấp đôla trong tay. Bỗng bảo vệ kho xuất hiện và thông báo xe cảnh sát đang đến. Lũ trộm vội vàng chạy trốn. Nhưng “con ngựa già” Packard của Valachi không chịu nổ máy. Chúng phải bỏ nó lại trên phố và tẩu thoát bằng xe của Cagliano. cảnh sát xác minh ra chủ chiếc xe packard và Valachi một lần nữa phải vào Sing-Sing.

    Y vào tù như thể về nhà, ở đấy y có nhiều người quen, phần lớn là dân Ý, và y ngạc nhiên rằng không ai trách y đã làm ăn với băng Alien. Găngxtơ Ý coi đó là sự phản bội.

    - Thế là tôi lại vào Sing-Sing, Valachi kể trên tivi-Tất cả vẫn như trước. Tôi đọc báo và để ý đến tin một người của băng chúng tôi là Frank La Pluma bị giết chết. La Pluma bị bắn chết khi đang ngồi trước nhà. Quả là khó hiểu. Tôi không biết tại sao người ta lại thủ tiêu nó. Sau đó, chưa hết ngạc nhiên vì cái chết vô lý của “Pluma, thì chiến hữu của tôị. Hogey khăn gói vào tù. Lão bị 20 năm tù. Các ngài thấy đấy, cái gì có thể xảy ra khi người ta nhắm mắt bắn loạn xạ. Lão thịt một cớm và chính mình cũng trúng đạn. Tôi vào nhà thương tù nhân thăm lão và trò chuyện khá lâu.

    Joe Valachi được biết rằng băng cũ của mình đã gạch tên y là Frank La Pluma. La Pluma đã bị bắn chết. Lần này đến lượt Valachi. Hogey còn tiết lộ, chính Ciro Terraanova được cử thi hành bản án và dặn y phải cẩn thận.

    - Không lâu sau đó, một hôm tôi cùng Dolly Dimpels lau sàn nhà,- Valachi kể tiếp,- Dolly chạy đâu đó ra ngoài và Angelo, người giúp chúng tôi quét dọn, vừa mới ra nhà cầu. Có tiếng gõ cửa, Pete La Tempa bước vào, hắn nói là để tìm gì đó dưới giường.
  • Chia sẻ trang này