28.vancuong7975(xong)WIKI

25/11/15
28.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    còn 91.500. Vài ngày sau tình cờ gặp Stopelli, Valachi hỏi:

    - Thế nào, mày nhận tiền chưa?

    - Tiền gì?

    - Cái gì, mày không nhận được đồng nào à? Mày cũng có phần cơ mà.

    - Thôi xin lỗi, mày nghe ai nói vậy?

    Lúc này Valachi đã rõ là y bị Tony Bender hớt tay trên. Sau này trong tù. Valachi cũng gặp Paddy Moccio. Cả tên này cũng không nghe nói gì đến tiền lời trong vụ áp phe bạch phiến. Vito Genovese và Tony Bender đã lừa Valachi lấy món tiền lời, chúng yêu cầu thuộc hạ phải hành động quân tử, nhưng chính chúng lại không thèm để ý đến nguyên tắc làm ăn bình đẳng.

    Trong danh mục tội lỗi, Joseph Michael Valachi đã bị tình nghi buôn lậu ma túy từ lâu. Chỉ trong tháng 11.1959, y bị bắt và hỏi cung ở nhiều nơi: Ở tổng hành dinh của văn phòng ma túy, ở Brooklyn, ở văn phòng ma túy Washington, ở New Haven, bang Connecticut và ở nhà tù Atlanta, ở Altanta y bị kết án 15 năm tù và mang số tù 82.811.

    Tháng 5.1959, vợ của bạn hàng ma túy John Freeman gọi điện nói khẽ:

    - Tôi không thể gặp anh tối nay. Người ta đã thu hết xe chúng tôi.

    Báo động! Báo động ở thời điểm cuối cùng. Valachi để ý rằng đã mấy tuần y bị theo dõi, y thận trọng, song y tin vào sức mạnh mafia và sự tháo vát của các trạng sư, cho đến lúc ấy bao giờ cũng giúp y thoát khỏi lưới pháp luật. Nhưng lần này nghiêm trọng hơn và y biết điều đó. Bởi vậy, đã nhanh chóng bàn giao việc quản lý các tủ nhạc tự động cho một người tên là Sally. Y gói ghém một số đồ dùng cần thiết nhất và trong đêm tối, dừng xe ở mãi tận Wingdalen, biên giới bang Connecticut. Y và tình nhân ở đó cả tháng trời. Sau đó y mua thêm rơ moóc và đi sang Connecticut, cắm trại ở Thompsonvilla. Không ai biết y cả. Thậm chí cả cô tình nhân cũng tin rằng y tên là Charles Charbano, như y khai ở khách sạn. Một thời gian, y sống bình yên, làm quen với những người tử tế và tổ chức vài buổi dạ tiệc thác loạn. Cuộc sống ở Thompsonville đang vui vẻ thì y biết lại có bàn tay của Vito Genovese trong vụ này. Song, đấy chưa phải sự bất ngờ lớn nhất.

    Sally là người được Valachi tin tưởng giao điều hành mạng lưới tủ nhạc tự động. Gã không những phải báo cáo đều đặn tình hình làm ăn mà còn phải nộp tiền thu được cho Valachi, mỗi tuần khoảng 500 đô la. Cuối tháng 11, khi đến gặp Valachi để thanh toán, gã báo tin:

    - Ralph muốn nói chuyện với anh, Joe.

    - Sao, Rapph Wagner? Hắn cũng dính vào vụ này mà.

    - Ừ, có lẽ chính vì thế

    - Thôi được, Sally, nhưng nó muốn gì?

    - Không biết. Tôi không tò mò công chuyện người khác.

    - Anh bảo nó gọi điện cho tôi.

    - Đến đâu? Đến cái xe thồ này của anh à?

    - Tôi sẽ đưa cho anh số buồng máy điện thoại. Nó ở không xa nơi cắm trại. Nói nó gọi cho tôi vào thứ sáu, mười một giờ đêm. Nhưng phải đúng giờ đấy. Tôi sẽ chờ gần đó.

    Valachi chờ, thậm chí y còn đến sớm hơn một chút. trời tối đen như mực, xung quanh không một bóng người. Gió tuyết lạnh buốt. Y thu người trong áo bành tô, sốt ruột chờ tiếng chuông điện thoại. Bỗng y giật bắn người. Từ trong bóng tối, mấy người đàn ông cầm súng bước ra và một người nói:

    - Anh đã bị bắt, Joe Valachi. Từ giờ phút này, mọi hành vi và lời nói phản kháng đều không có lợi cho anh. Anh hãy yên lặng đi theo chúng tôi, đừng gây ồn ào vô ích.

    Họ quay lại chỗ Valachi đậu xe, khám xét kỹ lưỡng mọi nơi, sau đó lên xe đi về Hartford. Valachi hiểu ra, đồng nghiệp đã phản bội y. Ralph Wagner bị bắt giam đã vài tuần và cảnh sát hứa sẽ giảm án hoặc thậm chí tha bổng nêu hắn thành thực khai báo. Wagner là cá nhỏ làm mồi để bắt cá lớn.

    Bị hỏi cung. Valachi chối phăng tất cả. Vì chưa đủ bằng chừng, y được tạm tha với tiền bảo đảm là 25.000 đôla. Như vậy, Valachi có thừa thời gian để chuẩn bị hầu tòa. Nhưng y lại lên tàu đi Butfalo, giam mình trong khách sạn và chờ mafia bố trí cho y vượt biên giới trái phép sang Canada. Y qua biên giới bình yên. Một người của của mafia là Agueci đã chờ sẵn, đưa y về Toronto. Ở đây, hàng ngày Valachi dạo chơi, đi chợ và nấu ăn, vì đấy là sở thích của y, tối tối, y đi xem phim hoặc chui vào bar nào đó giải trí.

    Tối đó, y ở lại trong phố lâu hơn mọi khi và mãi sau nửa đêm mới đi tắc xi về nhà. Agueci sốt ruột chờ y, vì cả chiều người ta gọi điện từ New York.

    - Tony, Joe đây. Có chuyện gì vậy?

    - Anh có thể trở về.

    - Về là thế nào?

    - Chúng tôi thu sếp ổn thỏa rồi. Anh chỉ bị 5 năm tù thôi. Anh ra tòa, nhận án và sau vài tháng đã ở nhà rồi.

    - Khi nào phải ra tòa?

    - Qua rồi. Hôm nay. Nếu anh đến được thì chúng ta xong mọi chuyện rồi.

    - Nhưng, tôi không biết, nữa, Tony, 5 năm cũng không phải là ít. Tôi còn phải suy nghĩ đã.

    Tony Bender có quyền lớn trong mafia, nhưng Joe Valachi biết hắn là kẻ lật lọng khó tin. Hắn chỉ biết có mình và lừa gạt bất cứ ai hắn gặp. Bởi vậy, Valachi không suy nghĩ lâu và nói thẳng với Agueci rằng, y không quay về Mỹ. Agueci đi ra ngoài và mang về tin buồn. Các thám tử của Văn phòng ma túy đã lần ra dấu vết Valachi, y phải lập tức lên máy bay về New York.

    Cả tháng trời lẩn trốn, cuối cùng Valachi cũng phải ra tòa. Nếu như lần trước, y hối lộ 5000 đôla thì chỉ bị nhiều nhất 5 năm tù. Lần đó y từ chối đề nghị để bây giờ lĩnh án 15 năm tù và khăn gói vào nhà đá Atlanta. Ở đấy, y gặp nhiều người quen cũ. Vào thời gian này có khoảng 80 tên mafia, đứng đầu là Vito Genovese, ngồi tù ở Atlanta. Năm 1959. “bố già” Vito cũng bị kết án 30 năm tù vì tội buôn lậu ma túy.

    Các nhà tù Mỹ không thể so sánh được với các trại cải tạo châu Âu. Chúng ta biết rằng, nhiều “bố già” vẫn tiếp tục điều hành công việc từ xà lim được trang bị tiện nghi đầy đủ, thậm chí chúng có thể sau chấn song nhà giam, ký án tử hình những kẻ vô lễ. Trong nhà tù quốc gia Atlanta, bang Georgia, Vito Genovese là ông vua con, địa vị này của lão không chỉ được tù phạm mafia công nhận mà các giám ngục cũng vậy. Công việc sẽ dễ dàng hơn đối với họ, nếu bố già một mình cầm cương được 80 tên tội phạm nguy hiểm.

    Trong khi đó, bên ngoài, Ralph Wagner bị giết và cái chết của Wagner làm Valachi cực kỳ lo sợ. Wagner cũng bị xử trong cùng phiên tòa, bị tình nghi hợp tác hợp tác với cảnh sát, sau đó y được ân xá. Tháng 10. 1964 y ra tù đi về nhà. Hai tuần sau y biến mất. Từ đó không ai nhìn thấy y nữa. cảnh sát xác minh được rằng ngày 19 tháng 10, vào lúc 4 giờ sáng, y còn ngồi uống rượu với mấy người lạ mặt trong một quận ở Manhattan. Sau đó, người ta tìm thấy chiếc xe của y ở góc phố Broadway và phố 72. Trong xe không có ai cả.

    Tony Bender tên thực là Anthony Strollo. Ngày 8.4.1962, y khoác áo vét mỏng đi ra ngoài và dặn vợ là sẽ về ngay, Y không bao giờ về nhà nữa. cảnh sát tìm thấy xác chết của y trên hè phố. Cũng như mọi khi thủ phạm không để lại dấu vết gì. Đó là những tin tức xấu Vito Genovese thủ tiêu các nhân chứng nguy hiểm và tiếp tục trị vì đế chế của mình từ nhà tù.

    Joe Valachi lo sợ. Một tù nhân nói với y rằng bây giờ đến lượt y lên đoạn đầu đài, bởi vì có tin đồn y phản phé, chạy sang phía Văn phòng ma túy. Valachi không hiểu tại sao lại có sự nghi vấn này. Có người cho rằng chính các thám tử Văn phòng ma túy tung tin này trong các tù nhân để dồn Valachi vào đường cùng, phải tiết lộ các đường dây đưa bạch phiến vào Hoa Kỳ. Khả năng thứ hai là một đồng bọn của Valachi trong khi bị hỏi cung đã tiết lộ bí mật để được án nhẹ hơn và chính y lại phải gánh chịu hậu quả. Dù là nguyên nhân gì đi nữa, các sự kiện sau đây sẽ minh họa quan hệ giữa các thành viên mafia ở trong nhà tù Hoa Kỳ.

    Trong năm 1962 đã xảy ra ba lần mưu sát Valachi. Một chiều, Joseph Di Palermo, biệt hiệu Joseph Beck, đưa cho Valachi một bánh mì nhồi thịt thơm phức. Beck nói rằng hắn thó từ nhà bếp và dành biếu anh hai Valachi như thể hắn qúy Valachi lắm. Trước đó chưa bao giờ hắn thèm nói một lời Valachi. Valachi vứt bánh mì vào sọt rác và từ đó, y không ăn thức ăn nhà tù. Y mua đồ hộp ở căng tin, dù sao loại này cũng khó bị tẩm thuốc độc.

    Các buồng tắm trong tù cũng là nơi nguy hiểm, cho nên Valachi không dám đi tắm nữa. Một lần Johnny Dio người phân phát đồ lót sạch cho tù nhân, vừa bí ẩn nhìn y vừa hỏi tại sao y bỏ hai lần tắm. Valachi coi đó là bằng chứng việc đao phủ chờ sẵn y ở buồng tắm. Càng ngày Valachi càng lo sợ hơn và y đã nghĩ đến việc yêu cầu giám đốc nhà tù bảo vệ. Trong khi đó tù nhân cố tình khiêu khích ẩu đả để có cơ hội “làm thịt” Valachi. Bao giờ y cũng may mắn chạy thoát.

    Sau đó, Vito Genovese thu xếp với quản trị nhà tù chuyển Valachi sang xà lim của lão. Một đêm bố già kể câu chuyện về quả táo thối trong sọt táo. Nếu không loại bỏ kịp thời, nó sẽ làm hư những quả táo khác. Valachi hiểu lời cảnh báo. Sau đó không lâu, Vito Genovese thân thiện ôm hôn Valachi, như lão nói, họ là những người quen biết cũ, lão chẳng đã làm nhân chứng trong hôn lễ của Valachi đó sao. Valachi biết rằng Vito Genovese kết án tử hình y. Trong những thời xa xưa của mafia, những cái hôn như vậy được gọi là cái hôn thần chết. Theo nguyên tắc cũ, người sắp bị giết được đối xử tử tế. Bởi vậy, Valachi quyết định tự vệ bằng mọi giá: Ngày 16 tháng 6 y yêu cầu giám ngục nhốt riêng.

    - Người ta muốn giết tôi. - y nói.

    Valachi được giam riêng một mình. Y viết hai bức thư, một cho vợ và một cho phó giám đốc văn phòng ma túy George Gaffney rằng y sẵn sàng cung khai. Cả hai thư đều không ra khỏi nhà tù. Giám mục M.J.Clliot sau này thú nhận rằng ông ta trả lại Valachi bứa thư để y viết lại rõ ràng hơn. Trong xà lim độc thân, y không thể mua đồ hộp ở căng tin và hầu như không ăn uống gì. Y mệt mỏi, mất ngủ, suy nhược thần kinh. Y hành động trong trạng thái như vậy.

    Tính mạng bị đe dọa, song Valachi không chịu đầu hàng số phận. Y quyết định tấn công và đổi mạng với kẻ thù. Một trong những kẻ y chọn thí mạng là Joseph Di Palermo, người được Vito Genovese nhắm làm kế vị. Bi kịch xảy ra ngày 22 tháng 6. Sau này Valachi kể lại.

    “Lúc đó tôi ở phía dưới sân, không xa sân bóng. Tôi để ý thấy ba người đang rình ở sau khán đài cách tôi khoảng 50 mét. Sau đó họ đi lại chỗ tôi. Tôi ngồi xuống giả vờ nhặt cỏ và thủ sẵn ống sắt. Một đứa đến gần tôi và nói: “Chào, Joe!” Đằng sau trông nó giống như Joe Beck. Tôi thầm nghĩ ít nhất cũng đổi mạng với thằng này. Tôi phang một cú trời giáng vào đầu và nó nằm quay lơ ngay. Sau đó, tôi đuổi theo hai thằng kia. Một thằng có dao. Nhưng khi tôi chạy được khoảng 10 mét thì chúng bỏ chạy. Tôi quay lại chỗ thằng nằm trên cỏ và còn nện cho nó vài lần nữa. Tôi không nhận ra nó là ai. Người hắn toàn máu”.

    Giám ngục dẫn Valachi lên văn phòng. Y vẫn còn lăm lăm ống sắt trong tay. Ở đây Valachi được biết y đã giết nhầm. Nạn nhân tên là John Joseph Saup bị tù vì tội cướp bưu điện, nhưng người này không liên quan gì với mafia. Ngày hôm sau, Saup tắt thở. Valachi bị buộc tội giết người và chánh án đề nghị án tử hình.

    Valachi quyết định đi nước cờ cuối cùng. Một người trung gian giấu tên thông báo với Bộ tư pháp rằng Valachi “sẵn sàng hợp tác với chính phủ liên bang”. Sau đó, ngày 13 tháng 7, uỷ viên công tố khu vực Nam New York, Robert Morgenthau, nhận được báo cáo chi tiết. Trong phiên tòa ngày 17 tháng 7, Valachi được hai trạng sư giỏi nhất New York bào chữa và chánh án tuyên án: chung thân.

    Ủy viên văn phòng ma túy là Frank Selvagi một thời gian làm vệ sĩ cho Valachi. Ông ta cùng bay với y đến nhà tù quốc gia ở Westchester cách New York vài cây số về phía bắc. Valachi được giao cho giám ngục dưới cái tên Joseph De Marco, cả một tầng của bệnh viện nhà tù được dành riêng cho Valachi và một tiểu đội đặc biệt tinh thuê được lệnh bảo vệ người tù quan trọng.

    Tám tháng liền. Valachi bị Flynn, một trọng những thám tử tài ba nhất FBI, hỏi cung. Tám tháng liền, Valachi kể lại cuộc đời mafia của mình.

    “Mafia xử tệ nên y muốn trả thù", - Sau này Flynn viết. Một phần đây cũng là sự tính toán: y muốn sống, nên phải tố giác mafia. Không thế coi y là một tội phạm thành thực ăn năn hối lỗ. Đây là tên giết người không từ một thủ đoạn nào. Y khó tính và chống lại mọi kẻ thế lực. Y sống trong thế giới sợ hãi và nghi ngờ. Đặc biệt sự sợ hãi đã ghi dấu ấn nặng nề trong y”.

    Văn phòng ma túy trao Valachi cho FBI vào tháng 9 và từ thời gian đó, Flynn hỏi cung y mỗi tuần bốn ngày cho đến tháng giêng. Sau đó Joe Cago chuyển chỗ ở đến Fort Monmouth, một căn cứ quân sự được canh gác nghiêm ngặt ở bang New Jersey. Một đội gác tù tinh nhuệ được huy động đến bảo vệ Valachi, trước hết để tránh sự trả thù của mafia. Thám tử Elynn cũng chuyển đến Fort Monmouth. Ban đầu ông ta định ở căn cứ quân sự ba tuần, nhưng cuộc hỏi cung kéo dài đến tận mùa xuân. Từng giọt, từng giọt. Valachi tiết lộ các quan hệ bí mật của mafia.

    Từ đầu cuộc hỏi cung, người ta lưỡng lự không biết có nên công bố các điều bí mật được phát giác hay không. Một sự ngẫu nhiên đã quyết định thay cho các cơ quan trách nhiệm. Một phóng viên được ban làm việc ở Văn phòng ma túy thông báo về vụ Valachi. Anh ta liền đăng một phóng sự giật gân và bí mật không còn là bí mật nữa.

    Ngày 9-9-1963, Valachi mặc đồng phục cảnh sát quân sự giống như những người bảo vệ y. Tất cả lên trực thăng quân sự bay đến trụ sở tòa án bang

    Columbia Ở Washington. Ở đó, uỷ ban điều tra hạ viện, đứng đầu là thượng nghị sĩ John Mc Clellan, của bang Arkensa đang chờ hỏi cung Valachi. Đồng phục đẹp mắt, đoàn cảnh sát hộ tống và được thượng nghị sĩ tiếp đón, tất cả những thứ này đã tác động mạnh Valachi. Y có cảm giác được bước vào thế giới mới. Nhưng Valachi thất vọng khi chủ tịch uỷ ban điều tra yêu cầu y đừng đả động đến các tội ác liên quan đến thành phố Hot Spirings ở Aransas, vì đại diện cho bang nay ở thượng nghị viện là Mc Clellan.

    Báo chí Mỹ coi việc Valachi ra trước ống kính tivi là tiết mục giải trí hấp dẫn. Chương trình truyền trực tiếp, nặng nề quảng cáo đã làm cho lời khai mất trọng lượng và độ tin cây. Hơn nữa, nhân vật chính của chương trình rốì trí, nhầm lẫnsố liệu, ngày tháng, nói lắp và đính chính liên tục, còn các thượng nghị sĩ thì chộp lấy cơ hội để quang cáo cho bản thân. Nhân chứng Valachi trở thành một phần của chiến dịch tranh cử của họ.

    Mafia treo giá đầu kẻ phản bội 100.000 đôla, nhưng Valachi may mắn thoát khỏi sự trả thù. Y sống những năm cuối cuộc đời ở nhà tù “La Tuma Federal Penitentiary” ở bang Texas. Đây là ngôi nhà nhỏ, ẩm ướt, tù nhân phần lớn là người da đỏ và dân Mexico. Giám ngục cũng là người Mexico. Nhà tù ở gần cùng bình nguyên màu mõ, quanh năm nắng gắt, nhưng Valachi suy sụp, mất cả hy vọng cuối cùng, lúc nào cũng cảm thấy lạnh. Y sống trong xà lim lớn sát ngay bệnh viện, có buồng tắm riêng, tivi, thảm trải nhà và lò sưởi điện. Trong tù, Valachi kết bạn với một kẻ cùng cảnh ngộ là Vincent Teresa. Tên này cũng trở thành chỉ điểm của FBI, và tiết lộ các bí mật khác của mafia. Joe Valachi, biệt hiệu Joe Cago, chết ngày 3-4-1971.

    Xếp của Valachi, bố già Vito Genovese đã chết trước độ hai năm, ngày 14-2-1969, trong nhà tù Springfield bang Missouri, thọ 71 tuổi, sau một cơn đau tim nặng. Nhưng mafia Hoa Kỳ vẫn tiếp tục hoành hành, trở thành vấn đề xã hội đau đầu ở Mỹ, còn nguy hiểm hơn thời Genovese và Valachi.

    MAFIA Ở TEL AVIV
    Y sống ở Miami Beach, bang Florida, trong ngôi nhà Apartiment Honse Seasons South ở đại lộ Collins. Trong căn hộ rộng lớn đầy đủ tiện nghi có rất nhiều tranh và đồ cổ giá trị. Bố già Lansky sưu tầm đồ thủy tinh cổ và rất tự hào về bộ sưu tập cốc ly lịch sử của mình. Thoạt nhìn, người ta tưởng đây là cuộc sống dễ chịu.

    Nhưng mỗi bước đi của y đều bị theo dõi. Trước ngôi nhà, ngày cũng như đêm, luôn có hai thám tử FBI túc trực trong xe. Họ nghe radio, đọc báo. Khi Lansky dắt chó đi ra, một người ngồi lại sau vô lăng bên máy đàm thoại, người kia ra khỏi xe theo sát y. Họ nghe lén điện thoại của y, đọc thư từ của y. Họ cố tìm lý do, dù là nhỏ nhất nhất để đưa y ra tòa. Một hôm y bỗng biến mất.

    Acapulco, thành phố của triệu phú và mặt trời quanh năm, mọc lên quanh vịnh được coi là đẹp nhất thế giới. Ngày 15-2-1970, Meyer Lansky ngụ tại khách sạn Hilton, phòng 993. Các phóng viên đã đánh hơi thấy y, mặc dù y lánh họ. Lansky bay đến đó một mình, cố vấn luật của y là Moses Polakoff ở phòng kế bên, trong khách sạn. Sau đó ở Hilton liên tiếp xuất hiện các du khách từ Mỹ và cả từ Canada. Vừa mới đến, họ lập tức gặp Lansky và cố vấn luật của y. Người ta xì xầm với nhau rằng mafia Hoa Kỳ tiến hành đại hội ở Acapulco thuộc Mexico. Không có bằng chứng xác nhận điều đó. Tôi đi tìm nhân chứng ở Acapulco, nhưng không một nhân viên khách sạn Hilton nào nhớ gì cả.

    - Không, senor(95), họ là du khách như những người khác thôi. Khi thì họ hóng mát trên gác thượng, lúc thì uống, bia ở bar. Họ nghỉ ngơi giải trí. Một lần họ cùng nhau bơi thuyền. Ồ, ở đây bất cứ ai cũng nghỉ ngơi như vậy cả mà.

    Bức tường im lặng. Mãi sau này, người ta mới phát hiện ra các mối quan hệ. Meyer Lansky ở phòng 993, từ ngày 15 đến 28 tháng 2. Hàng ngày, một tài xế mặc đồng phục sang trọng đánh chiếc xe hơi mốt mới nhất đón y đến biệt thự gần đó. Ngôi biệt thự này do công dân Canada Leo Berkovitch mua cách đây không lâu và bây giờ được dùng làm nơi hội họp của Meyer Lansky và khách của y. Họ bàn chuyện làm ăn liên quan tới các sòng bạc ở Las Vegas, trên quần đảo Bahama và cả ở London, Monte Carlo hay San Remo. Trong những năm này, thu nhập của hiệp hội tội ác lên tới 40 tỷ đô la hàng năm, vượtcả những tổ hợp công nghiệp khổng lồ. Meyer Lansky điều hành tài chính và là cổ đông chính của hiệp hội.

    Phải công nhận Lansky có năng khiếu kinh doanh. Khi phải đau đớn từ bỏ cơ ngơi ở Cuba, y chuyển sang quần đào Bahamas, một thuộc địa của Anh ở gần Florida và cũng không xa Cuba. Ở đây, dưới thời thống đốc Stafford Sands, người ta mua bán tất cả mọi thứ, kể cả các quan chức chính phủ cao cấp. Meyer Lansky là một nhà chiến lược thận trọng và lúc nào cũng ngấm ngầm đứng sau hậu trường. Y cử sứ giả là Wallace Grovese đến quần đảo Bahamas mua các khu đất rộng lớn với giá nực cười, mười héc ta chưa đến một đôla và bằng hối lộ, mua cả giấy phép mở casino. Thế là người ta thành lập và đăng ký hãng kinh doanh Amusements Bahamas Ltd, và thống đốc Starford Sands trở thành cố vấn luật pháp của hãng. Lansky thưởng cho ông ta ngay một lúc hai triệu đôla. Một viên chức cao cấp khác là Ronald Simons cũng nhận lương của hãng này.

    Lansky không hào phóng viển vông. Trên quần đảo Bahamas, y kiếm được hàng chục triệu đôla. Các con bạc từ Mỹ, châu Âu, châu Úc bay đến đây, như khi xưa họ đến Cuba. Thủ phủ quần đảo Bahamas là Nassau trở thành nơi ăn chơi của giới thượng lưu trên toàn thế giới.

    Mọi người chơi và thua, chỉ có Meyer Lansky thắng tuyệt đối. Y kiếm bạc triệu và tìm cách làm cho tiền lại đẻ ra tiền. Hình như không tin tưởng các nhà băng địa phương cũng như các két sắt ở Mỹ. Người của y chở đôla đến Genevo đều đặn và gửi tiền vào tài khoản mã số trong nhà băng International Credit trên đại lộ Tổng hợp. Tài khoản có mật hiệu “Bear”, vừa có nghĩa là con gấu, vừa có nghĩa là người đầu cơ chứng khoán. Giám đốc ngân hàng Tibor Rosenbaum là người của mafia Do Thái, một đại diện tin tưởng các quyền lợi của hiệp hội tội ác ở châu Âu.

    Cảnh sát cố gắng thu thập bằng chứng, cả trong thời gian Lansky ở Acapulco, nhưng không có kết quả.

    - “Một hôm, ba nhân viên cảnh sát đến tìm tôi"-Lansky nói. - Họ gõ cửa và nói họ điều tra một vụ ăn trộm tranh ở viện bảo tàng Mexico City. Có người tố giác tôi tham dự vụ này”.

    Họ xem xét các phòng ở, kiểm tra hành lý, chụp ảnh, song không tìm thấy một tài liệu phương hại nào. Meyer Lansky thừa khôn ngoan và kinh nghiệm để chỉ mang theo người các đồ dùng cá nhân. Mặc dù vậy, cảnh sát không chịu đầu hàng. Ngày 5 tháng 3 Lansky bay đến miami Beach. Trên sân bay International Airport hải quan kiểm tra tất cả các vali của y. Người ta tìm bạch phiến, nhưng chỉ thấy có thuốc Donatal mua theo giấy bác sĩ. Mặc dù vài ngày sau, Lansky có bị bắt và bị còng tay giải đến tòa, nhưng y lại được trả tự do vì thiếu bằng chứng.

    Từ những năm 50, các thám tử FBI đã cố gắng làm sáng tỏ cuộc sống bí ẩn và các tội trạng của bố già mafia, nhưng không kết quả. Thế là họ chuyển hướng điều tra. Họ tìm hiểu hoàn cảnh Lansky được công nhận quốc tịch Hoa Kỳ. Một chi tiết bị phát hiện. Trong đơn xin nhập quốc tịch Lansky đã ỉm năm lần y bị buộc tội vặt và bao giờ cũng được nhanh chóng trả lại tự do. Y tham gia chiến tranh các băng trên đường phố. Ngày 9-3-1928, y bị tố giác có mưu đồ giết người.

    John Barett tố cáo y hành hung trong một dạ tiệc Daniel Fransis Ahearn bị một tay súng lạ mặt bắn bị thương, còn Barrett thì được mời đi “dạo” rồi đưa thẳng đến nhà thương. Bạn hữu của Ahearn là Peter Bender khẳng định rằng chính Siegel và Lansky bắn. Vài ngày sau, Bender biến mất , không để lại dấu vết gì. Ngày 9 tháng 3. Lansky bị buộc tội mưu sát nhưng nhân chứng quan trọng John Barrett đã từ chối làm chứng. Người ta không tìm thấy xác Bender, vì thế phiên tòa xử Lansky phải bị bãi bỏ.

    Sau chiến tranh thế giới, Lansky lại ra tòa vì tội hành nghề cờ bạc trong câu lạc bộ: “La Bohéme”. Nhưng luật sư bào chữa đã chứng minh được rằng công ty này là của em Lansky, Jake Lansky. Meyer được thả, còn Jake bị phạt 1000 đôla, nhưng sau đó người ta cũng tha không phạt nữa. Năm 1952, Lansky chịu án tù nghiêm trọng nhất. Người ta buộc tội y cùng với Joe Stacher cũng vì chuyện cờ bạc ở quán Arrawhead Inn thuộc liên hiệp lọc dầu Saratogy. Stacher bị phạt 10 nghìn đôla và một năm tù treo, còn Lansky thì phải khăn gói vào tù. Ngày 21-7-1953, y ra tù và chuyển đến Florida.

    Từ năm 1950, các thanh tra thuế đã cố gắng lật tẩy sự trốn thuế của Lansky. Joseph D.Delfino kiểm tra tài khoản của Lansky trong nhà băng Manufactures Trust Bank ở New York và phát hiện các khoản nhập và phát rất lớn Meyer Lansky giải thích rằng đó là các khoản tiền thắng bạc hoặc tiền thưởng cho những người môi giới. Y không lưu lại chứng từ. Người ta tính thuế Lansky trả tiền và mọi chuyện lại đâu vào đấy.

    Nhiều biện pháp, thậm chí cả nghe lén điện thoại, được áp dụng để thu thập bằng chứng chống Lansky, song cuối cùng, người ta chỉ được biết rằng anh em Jerry và Gene Cateno có thu nhập cao nhất, tiếp đến là Meyer Lansky, 150.000 đôla mỗi tháng. Thực tế thu nhập của Lansky còn cao hơn nhiều. Tôi có dịp nghiên cứu một số tài liệu của FBI kể cả “Memoranda FBI Meyer Lansky” so uỷ viên chính phủ và trưởng phòng điều tra 18 trực thuộc Bộ tư pháp Robert J. Campbell lập nên, cả tập hồ sơ dày cộp này cũng không có gì nhiều hơn những điều chúng ta đã biết vế cuộc sống và hoạt động của bố già mafia. Rõ ràng là pháp luật bất lực hoặc là thế lực Lansky quá mạnh, y biết hối lộ đúng chỗ và kịp thời, cho nên ra tòa bao giờ, y cũng là người chiến thắng. Mặc dù vậy, y biết chắc rằng các thám tử FBI và Văn phòng ma túy sẽ không buông tha y, rằng các thanh tra thuế đang rình chờ cơ hội chộp y. Y quyết định rút lui. Lansky bay đến Israel.

    Tại sao lại đến Israel? Theo luật từ năm 1950, bất cứ ai có mẹ là người Do Thái đều được phép đến Israel và nhập quốc tịch ở đó. Nhưng năm 1962, có sự thay đổi các điều kiện nhập quốc tịch. Dr. Robert Soblen, một điệp viên đáng ngờ, quan tâm đến đôla hơn là hoạt động tình báo, bị kết án ở Mỹ, song chạy thoát được về Tel Aviv. Theo luật hiện hành, Soblen tự nhiên trở thành công dân Israel, bởi vì y là người Do Thái và sinh ra trong gia đình Do Thái. Nhưng bộ trưởng tư pháp hồi ấy là Robert Kennedy đã gửi công hàm cho Thủ tướng Israel, David Ben Guion, yêu cầu nộp ngay điệp viên đã bị xử án. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng trao cho đại sứ Israel ở Washington đề nghị của chính phủ Mỹ.

    Quan hệ Israel - Mỹ là quan hệ của chư hầu đối với chính quốc. Israel đang vũ trang, trang bị của quân đội Israel phụ thuộc vào sự cung cấp vũ khí của Mỹ, cho nên chính phủ Israel phải chịu khuất phục. Soblen ở lại Tel Aviv chỉ có ba ngày. Sau đó y được một điệp viên FBI hộ tống lên máy bay đến Hoa Kỳ. Khi các chiêu đãi viên phục vụ bữa tối và mọi người đang chăm chú ăn. Soblen lén giấu được dao ăn. Y quấn mình trong chăn giả vờ ngủ và cắt mạch máu ở cổ tay. Tuyến bay từ Tel Aviv đến New York có trạm dừng ở London, ở sân bay Heathrow, người ta khiêng Soblen lên xe cứu thương và chở đến bệnh viện, ở đó Soblen trút hơi thở cuối cùng. Dư luận Do Thái lên án hành động bất hợp pháp của chính phủ Israel và quốc hội quyết định sửa đổi luật nhập quốc tịch. Chỉ có người Do Thái trong sạch không tiền án mới được nhập quốc tịch Israel. Sự sửa đổi pháp luật này đã đảo lộn một cách tai hại ý đồ của Lansky.

    Lansky có thừa bạn bè và quen biết thế lực dọn đường cho y đến Israel. Ở Tel Aviv, trước hết phải kể đến Joe “Doc” Stacher, một găngxtơ không chỉ rất giàu mà còn có cả thế lực. Khi Lansky gọi điện cho y biết ý định của mình, Stacher nhiệt tình ủng hộ, Lansky cũng không đến với hai bàn tay trắng. Ngoài khoản tiền lớn đã chuyển sang nhà băng Israel, y còn có công lao với chính phủ Israel.

    Jehuda Arazi là điệp viên của cơ quan tình báo Israel Mosad. Năm 1948, Arazi đến New York với nhiệm vụ bí mật thúc đẩy việc vận chuyển hàng hóa quân sự và vũ khí cho quân đội Israel. Arazi có kinh nghiệm lâu năm trong nghề. Trước đây, Arazi đi khắp thế giới mua vũ khí cho các du kích quân chiến đấu chống lại ách đô hộ Anh ở Palestin. Đầu tháng 6 năm 1948 viên tình báo chuyển đến khách sạn Fourteen (Mười bốn) trên phố 60 dưới tên giả Albert Miller. Một hôm Arazi gọi điện cho Meyer Lansky.

    - Tôi muốn gặp ông càng sớm càng tốt Arazi
    nói.

    - Khi nào?

    - Hôm nay. Ở câu lạc bộ Copabana.
  • Chia sẻ trang này