29.vancuong7975(xong)WIKI

25/11/15
29.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    Meyer Lansky cười thầm. Cái quán này y quen thuộc như lòng bàn tay. Thế giới ngầm New York tụ họp ở đây và không ít hành động làm phẫn nộ dư luận đã ra đời ở trong quán bar này. Trước kia. Frank Costello Bugry Siegel sếp Murder Inc, Joe Adonis và cả bố già của các bố già Lucky Luciano cũng thường đến đây, kẻ thì chỉ để giải trí, người thì chờ cơ hội làm ăn. Arasi phải nắm vững tình hình mafia, khi y chọn chính dạ quán này làm địa điểm gặp gỡ Meyer Lansky còn chưa biết rằng tình báo Israel đã đặt tổ chức thu mua bí mật của mình ở ngay trong khách sạn Fourteen.

    - Có việc gì vậy?- Lansky hỏi, khi họ ngồi xuống chiếc bàn nhỏ được chiếu sáng bởi ngọn đèn bàn đỏ.

    - Về việc giao hàng Mỹ,- Albert Miller, tức Arazi, trả lời.

    - Tôi không có gì liên quan đến vấn đề này.

    - Tôi không nói về hàng cho Israel mà về vũ khí Hoa Kỳ bán cho Ai Cập. Quân đội chúng ta tuy ít người nhưng đang anh dũng chiến đấu ở vùng Gary và trên bán đảo Sinaj, chống lại người Ai Cập, vũ khí của họ được mua tại Mỹ và chở đi từ cảng New York.

    - Theo tôi biết thì việc vận chuyển vũ khí đến vùng Cận đông bị cấm - Lansky phản đối.

    - Thì bởi. Nhưng quân đội Ai Cập nhận được mọi thứ. Họ đưa được tất cả qua biên giới.

    - Được rồi, nhưng thưa ngài Miller, tôi thì có liên quan gì đến việc này? Chắc ônng biết rõ rằng tôi không quan tâm đến các buôn bán kiểu này. Tôi cũng không hiểu chúng nữa.

    - Nếu ông muốn giúp chúng tôi và theo một người bạn của tôi nói thì ông muốn, tôi sẽ cho ông địa chỉ một người Mỹ. Người này sống ở Pittsburgh và cung cấp cho người Ả Rập một số lượng lớn vũ khí.

    - Để làm gì? - Lansky hỏi.

    - Tôi không biết cụ thể phải làm gì, nhưng tôi biết mafia không kiểm soát vùng cảng New York. Tôi cũng được thông tin chút ít về sự hợp tác của mafia với tình báo hải quân Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Tôi biết các ông đã làm gì để góp phần tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. Nhưng tôi cần các ông giúp cả chúng tôi. Chắc chắn các ông sẽ không khó khăn gì trong việc xác minh lô hàng nào trong kho ở Manhattan là của Ai Cập có lên tàu khác đi đến Haifa chứ không phải Alecxandrie(96).Ông có thể giúp chúng tôi việc này không, thưa ông Lansky? Chính phủ Israel sẽ không quên ông.

    Lansky đi gặp Adonis, Anastasia và thế là nhiều côngtennơ hàng thay đổi người nhận. Vũ khí và đạn dược được chở đến cảng Haifa ngày một nhiều, công nhân cảng New York đã ưu tiên sếp lên tàu các hòm vũ khí do các điệp viên Israel mua trong các cửa hàng ở Mỹ, Meyer Lansky có công lớn đổi vớichính phủ Israel và y tin chắc rằng sẽ được đền đáp xứng đáng.

    Vài năm trước đây, Joseph Stacher cũng có những vấn đề tương tự như Lansky. Trước nguy cơ bị kết án tù nhiềụ năm vì tội trốn thuế. Stacher nộp thuế, hối lộ những khoản đáng kể và được phép đến ở Israel. Y mua biệt thự ở thành phố nghỉ mát Casesarea, thuê dài hạn apariment trong khách sạn Sheraton ở Tel Aviv, y có thừa tiền để xài sang và bây giờ y có cả ảnh hưởng đáng kể. Các nhà báo viết rằng mafia Hoa Kỳ chuyển đến Israel, rằng chi nhánh mafia Israel được thành lập tại Tel Aviv. Theo tên gọi Sicilie “Cose Nostra”(97), xuất hiện cái tên “Kosher Nostra”(98).

    Buổi đầu, mafia ở Israel được đánh dấu bởi một vụ bê bối. Đó là thời gian Joseph Stacher may mắn thoát khỏi vòng cương tỏa của pháp luật Hoa Kỳ và bắt đầu nghĩ đến việc xin nhập quốc tịch Israel. Những người Do Thái bình thường đến Israel được tự động công nhận quốc tịch Israel và chỉ sau vài tháng là có giấy tờ. Nhưng Stacher là găngxtơ. Mọi người đều biết điều đó, các nhà báo chộp mọi cơ hội để viết về y. Cho nên Stacher cần một người lo chạy giải quyết đơn xin nhập quốc tịch của y.

    Người được Stacher chọn mặt gửi vàng tên là Menachem Rorush, là người thuộc nhóm Do Thái chính thống, dân biểu đảng cực hữu Agudat Israel. Họ làm quen với nhau năm 1966, khi bạn bè của ca sĩ Frank Sinatra yêu cầu Porush giúp đỡ. Porush với bộ râu rậm trông giống như thầy bói thời trung cổ, nhưng lão rất thành thạo công việc của mình và bất chấp các quan điểm của tập quán bảo thủ, lão biết cách xoay xở làm ăn. Năm nào lão cũng đi khắp Hoa Kỳ quyên tiền các nhà giàu Do Thái để ủng hộ Israel. Frank Sinatra là một trong những người đóng góp đều đặn. Bởi vậy, Porush không nghĩ ngợi gì lâu và hứa giúp Stacher.

    Nhưng cả ở Israel, hay có lẽ chính tại đó, không có gì mà không phải bỏ tiền ra cả Dân biểu Porush dẫn bố già mafia đến vùng ngoại ô nghèo Mea Shearin. Ở đó những người Do Thái chính thống sống trong các túp lều. những người này tâng bốc bố già mafia lên chín tầng mây, khi y mua tặng họ vài tủ lạnh, ti vi và radio. Đây không phải một hành động từ thiện vô tư. Porush và Stacher biết rõ việc họ làm, cơ quan quyết định việc nhập quốc tịch là bộ nội vụ nằm hoàn toàn trong tay những người Do Thái cực bảo thủ này.

    Chưa đủ, Porush gợi ý Stacher góp tiền xây dựng nhà ở cho các gia đình Do Thái chính thông mới và “bố già” mafia phải ngậm đắng nuốt cay xì ra

    100.000 đô la. Song Porush không chỉ là một người Do Thái sùng đạo và dân biểu quốc hội, lão còn là một tay kinh doanh thành công. Thế là lão lấy số tiền hối lộ đó
    đầu tư xây dựng khách sạn Merkaz ở Jeruzalem. Chứng từ 100.000 đôla được xác lập ở Lichtenstein, nơi dân biểu Porush ở hữu hãng Nachalat. Israel Trust. Chính chi tiết này đã gây phương hại cho lão.

    Joseph Stacher đạt được điều y muốn, được nhập quốc tịch Israel, nhận hộ chiếu đi lại. Từ lúc đó, y làm như không biết dân biểu Porush. Y đòi Porush trả lại tiền, buộc tội lão không trả lãi, vụ việc xé to đến mức phải ra tòa và các nhà báo có thêm một vụ giật gân cho độc giả của mình. Hai bạn hàng khi xưa, nay đả kích nhau. Thật là nhục nhã, Joe Stacher thắng kiện và Porush phải trả lại số tiền hối lộ. Vụ án đã lật tẩy thực chất mafia Israel và luật sư bào chữa của Porush hoàn toàn đúng khi ông ta khẳng định rằng Stacher là một tội phạm nguy hiểm. Ở Israel, Stacher vẫn là thành viên mafia.

    Stacher có hai tình nhân, một là sinh viên khoa luật Dolly Gurevit và người thứ hai là thư ký Helena Cole. Cả hai đều tôn thờ y và được y chăm lo chu đáo. Sau này Helena Cole kể lại rằng Joe là người bạn đường tốt, lúc nào cũng vui vẻ không thể cưỡng lại được

    - Khi Frank Sinatra đến Israel. - Helena Cole nói tôi cùng Joe đi xem anh ta biểu diễn ở Jeruzalem. Sau đó chúng tôi và anh ta đi ăn tối với nhau. Thoáng nhìn cũng đủ biết Joe và Sinatra là bạn cố tri. Joe nói với tôi rằng Frank cũng như thể anh trai của ảnh vậy.

    Dolly Gurevitz cũng rất yêu ông chủ già, thích cùng y đi hội hè. Đây là cuộc sống nguy hiểm và cũng lộ liễu nữa. Joe lúc nào cũng gây chú ý bất lợi bằng các áp phe tài chính và làm cho dư luận Israel tin rằng Kosherr Nosher Nostra không phải là huyền thoại mà là sự thật.

    Meyer Lansky đến Israel trong tình hình như vậy. Y tin tưởng vào sự giúp đỡ của ông bạn già. Nhưng y đã chọn nhầm, ở Bộ Nội vụ người ta đang vò đầu bứt tai vì lỡ duyệt đơn xin nhập quốc tịch của Stacher thì Lansky đến nộp đơn và thế là họ có trên bàn trường hợp thứ hai tương tự. Mọi người lắc đầu và chờ.

    Trong khi đó, New York buộc tội Lansky trốn thuế các sòng bạc ở Las Vegas, tổng cộng 32 triệu đôla. Ngày 18-5-1971. Lansky nhận được thư của sứ quán Mỹ ở Tel Aviv thông báo hộ chiếu của y đã hết hạn và sẽ không được gia hạn. Meyer Lansky có các quen biết thế lực và thế là vài ngày sau bộ trưởng Bộ Nội vụ Israel, Josel Burg, bay đến Washington để nói giúp Lansky.

    Nhưng phía Mỹ hoàn toàn không muốn đàm phán Bộ trưởng Burg được cung cấp các tài liệu đủ để biết Meyer Lansky là người như thế nào. Trước hết là sự hợp tác cực kỳ bí mật giữa Tibor Tosenbaum và Lansky bị tiết lộ, và điều này làm ngài bộ trưởng giật mình. Sự liên minh này có thể làm mất uy tín ban lãnh đạo Israel, bởi vì Tiber Rosenbaum giữ vai trò quan trọng trong việc mua vũ khí phi pháp trong khi y là đại diện cho Bộ Quốc phòng Israel ở Geneve. Trước đây Rosenbaum giữ chức giám đốc chi nhánh Geneve về dân di cư đến Israel, thậm chí cả hộ chiếu ngoại giao. Sau khi thôi chức, y được Tổng thống Liberia cử làm lãnh sự tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở Geneve. Thế là Tibor Rosenbaum có thể tiếp tục phục vụ mafia Hoa Kỳ và Meyer Lansky nói riêng.

    Nhưng sự hợp tác êm thấm không kéo dài được lâu. Năm 1967, các nhà báo phát hiện các trò biển lận tài chính. Chi tiết cụ thể được tạp chí Life (Đời sống) đăng tải. Dư luận được biết về sự hợp tác của các quan chức Israel với mafia Hoa Kỳ. Khi Meyer Lansky đệ đơn xin nhập quốc tịch Israel, những vụ việc trên có ảnh hưởng không lợi cho y.

    Cả những món quà bằng tiền đáng kể cũng không giúp được Lansky. Y đóng góp một khoản tiền lớn xây dựng trường đại học tổng hợp Brandeis. 300.000 đồng bảng Israel cho tổ chức Ilan của trẻ chậm phát triển góp phần xây dựng nhà thờ ở Jeruzalem và bệnh viện Tel Hashomerr. Y đã vứt tiền qua cửa sổ. Bộ trưởng tư pháp Jakow Shimshon Shapira phản đổi việc công nhận quốc tịch cho Lansky, còn nữ Thủ tướng Golda Meir nhường quyền quyết định cho tòa án. Vụ việc được nói tới nhiều và bị đưa cả lên báo chí quốc tế. Mọi người người chờ xem chính phủ Israel xử sự thế nào. Nó sẽ vâng lời hay dám bỏ ngoài tai lời khuyên của ông bạn lớn

    USA? Từ các chương trước, chúng ta đã biết kết cục việc này. Song cũng cần tìm hiểu các phương pháp phương tiện và cả những nhân vật thế lực mà bố già mafia huy động xung trận.

    Người đầu tiên ủng hộ Lansky là triệu phú nhiều lần, Sam Rothberg. Lão phất lên nhờ nấu rượu Whisky trong thời gian cấm rượu, là người của mafia, hay ít ra cũng hợp tác với mafia. Lão có ảnh hưởng lớn, bởi vì nhiều hàng công nghiệp Israel phụ thuộc vào sự tham gia tài chính của lão. Lão năn nỉ, dọa dẫm, nhưng cũng không có chuyển biến gì. Ở Tel Aviv, người ta không muốn dư luận biết về sự tồn tại của mafia Israel và sự tham dự của nó trong thương mại Israel. Cái ô rất mạnh thứ hai của Lansky là Louis H.Boyar, một thương gia ở San Francisco. Ông ta có cơ sở đặc biệt để có thể thành công: Boyar là bạn cố tri của thủ tướng Golda Meir.

    Boyar là cổ động lớn nhất của hãng Israel Investors Corporation, là phó chủ tịch hội “những người bạn Mỹ của trường tổng hợp Hebrej” và là uỷ viên hội đồng nhà trường, đóng góp nửa triệu đôla xây dựng phòng thí nghiệm nhà trường. Ông ta còn là chủ tịch uỷ ban giám sát của tổ chức lớn và thế lực “Israel Bond Organisation”, và một trường trung học ở Jeruzalem. Mac Boyar High School, mang tên người vợ quá cố của ông ta. Nhận được điện của bạn hàng Rothberg yêu cầu giúp Lansky. Boyar lập tức lên máy bay đến Tel Aviv.

    Ở Jeruzalem, trong khu phố Bet Hakerem có một nhà hàng nhỏ nhưng nổi tiếng “Goulash”. Không phải ai cũng có thể vào đây. Thực khách phải được đích thân giám đốc nhà hàng mời. Louis Boyar ngồi chờ trong vườn nhỏ, núp dưới bóng các cây ô liu cổ thụ. Sau đó, chiếc xe Limousine của Thủ tướng Golda Meir dừng trước nhà hàng. Các nhân viên an ninh kiểm soát từng xó xỉnh nhà hàng, đứng gác Xung quanh rào và sau đó vệ sĩ của Meir nhận lệnh hộ tống Thủ tướng đi vào.

    Họ ngồi đơn độc bên chiếc bàn nhỏ. Họ ăn uống và ôn lại những kỷ niệm cũ. Họ nói chuyện thoải mái, tình bạn cũ làm họ xích lại gần nhau, cả hai trước đây vài năm đều bắt đầu từ hai bàn tay trắng. Boyar ở lại Hoa Kỳ, theo đuổi kinh doanh và trở nên giàu có. Golda Meir về Israel và trở thành một trong số ít phụ nữ được cả thế giới nhắc đến, hoặc khâm phục hoặc lên án, Boyar thường xuyên đến Tel Aviv và không khi nào quên viếng thăm người bạn gái thời trai trẻ. Bà Thủ tướng trăm công ngàn việc lúc nào cũng dành thời gian, dù chỉ rất ngắn, để gặp bạn xưa Lou. Trong một lần gặp nhau, sau khi vợ Boyar chết, ông ta có ướm lời cầu hôn Golda Meir. Meir rất cảm động và kiêu hãnh với đề nghị đó, song bà ta từ chối. Bà ta đã một lần có chồng, khi mới 19 xuân, và đã quyết định đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng.

    - Bồ phải biết cuộc sông lúc bấy giờ thế nào chứ, Golda,- Boyar cố gắng thuyết phục bà bạn Thủ tướng - Ở Mỹ có cả đống dân Do Thái nghèo và tất cả đều muốn sống. Tôi biết, Meyer Lansky không phải thần thánh gì, nhưng tôi tin ông ta không bao giờ chủ tâm làm hại Israel đâu.

    Boyar năn nỉ, thuyết phục, hứa hẹn nhưng thảy đều vô ích. Tình bạn cũ không giúp được gì. Golda Meir giải thích rằng những kỷ niệm xao xuyến cũ không có ý nghĩa gì, đây là vấn đề chính trị cần được quyết định trên bình diện chính trị. Mọi sự thiên vị đều không đúng chỗ. Tòa án sẽ quyết định việc công nhận quốc tịch. Các nhà báo einsenberg, Dan và Landa trong tiểu sử Lansky đã nhận xét rằng cuộc đối thoại không phải hoàn toàn vô ích, Meyer Lansky không phải ngay lập tức rời Israel, ít ra y có thể chờ kết quả tòa án và cũng có thể tác động đến nó. Lou Boyar không quen rút lui. Khi không thuyết phục được Golda Meir, ông ta đến gặp bộ trưởng nội vụ Burg và thuyết phục ông ta thay đổi quan điểm. Ở đây Boyar cũng không thành công.

    Tháng 9-1972, tòa án tối cao Tel Aviv quyết định bác bỏ đơn xin nhập quốc tịch của Lansky. Lansky đã cố gắng giải thích cho các ký giả nỗi oan ức của mình, rằng trong quá khứ, y cống hiến bao nhiêu cho đất nước Israel mà nay người ta trả ơn như thế đó. Vô ích. Trên bàn cân không phải chỉ có quyền lợi của mafia.

    Tháng 7-1967, bất chấp sự phản đối của dư luận và chính khách tên tuổi, trong đó có Tổng thống
    Pháp de Gaulle, quân đội Israel đã tấn công các nước Á Rập láng giềng và chiếm đoạt một vùng đất rộng gấp ba lãnh thổ Israel. Sự xâm lược này đã gây nên làn sóng phẫn nộ trên toàn thế giới và dẫn Tổng thống Pháp đến quyết định ngừng bán hàng quân sự của Israel 50 máy bay phản lực chiến đấu kiểu Mirage sản xuất theo đơn đặt hàng của Israel nằm lại Pháp và quân đội Israel chỉ còn trông chờ vào các máy bay “Con ma” của Mỹ. Chính phủ Israel không thể làm mếch lòng Hoa Kỳ, vì vậy Tel Aviv phải nghe lời Washington và trục xuất Meyer Lansky.

    Bố già bay khỏi, song mafia ở lại. Nó tồn tại ở Israel đến ngày nay và ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn. Meyer Lansky phải ra trước tòa án Mỹ nhưng được trắng án vì thiếu bằng chứng. Và thế là mafia lại một lần nữa qua mặt công lý.

    “BỐ GIÀ” MAFIA VÀ CÁC CHỦ NHÀ BĂNG VATICĂNG
    Họ xả hơi đến hai giờ khuya. Sau đó họ quay về apartment đợi ở khách sạn Palace. Họ đang vui vẻ nên tài xế tắc xi được một khoản puôc-boa quá mức tưởng tượng và bác thường trực được họ mời một chiếc bánh kem loại một, không dưới năm đôla.

    Họ cởi áo vét, tháo cravat, cởi giày. Người cao lớn trẻ và gầy hơn đổ rượu Whisky Chivas Regal ra tay.

    - Có phải bia đâu? - người nhiều tuổi hơn mỉm cười ngạc nhiên hỏi:

    - Whisky là thứ nước đa năng. Đặc biệt loại Chivas Regal cất cách đây 5 năm. Thứ này bác sĩ cho phép xài cả vào những ngày ăn chay.

    Một cú áp phe, mà có lẽ ngay cả đại bố già mafia cũng chỉ gặp một lần trong đời, đang chờ hòm Lucky Luciano không dám mơ tới một cơ hội như vậy, còn Vito Genovese thì không thể tưởng tượng ra một mánh siêu đến thế. Người kế vị chúng là Matteo di Lorenzo, biệt hiệu “bác Matty”, đang có cơ hội trong tầm tay. Y uống cạn cốc, nhấm nháp miệng và bằng một cử chỉ điệu bộ đặt cốc xuống bàn.

    - Những một tỉ đôla. Winnie! - Y sung sướng như thể đang cầm các xấp bạc trong tay.

    - Không đúng, bác Matty. Bác đừng có phóng đại. Chính xác là 950 triệu.

    - Thôi mà. Winnie!- bố già đi Lorenzo cười.-Cũng dư đi 50 triệu chứ.

    Y cúi xuống rót rượu và châm thuốc, sau đó nhìn lên trần nhà và như thể đọc những tên gọi trong ánh lấp lánh của chiếc đèn chùm phalê, y chậm rãi nói:

    - Occidental Petroleum Corporation, Pan American World Airways, American Telephone and Telegraph Company...

    - Bác đừng quên general Electric Corporation. National Aviation. Unishops, California Computer Corporation, Coca- cola Bottling, tóm lại là tất cả những gì tên tuổi, những gì đó có giá. Nhưng, thưa bác Matty ai đã đưa quả này cho bác? Winnie

    Gã trẻ hơn đứng dậy, nhảy lên xiêu vẹo sau mười cốc rượu trắng bavor và hai ly Whisky, gã vỗ ngực kêu to như kẻ truyền đạo.

    - Nếu bác không biết, bác Matty, thì hãy nghe đây Winnie là cả kho báu. Winnie kiếm cho bác bạch phiến, súng lục, bazôka và thuốc nổ đủ loại, xe tăng ca nông và con ma, tên lửa điều khiển, tất cả đều do một tay Winnie lo liệu, và đô la giả, cổ phần giả, giấy quý giả, bác muốn bao nhiêu cũng có. Đây, chỉ để bác biết, bác đã chọn một người đồng sự như thế nào thưa sếp.

    Winnie trẻ hơn, khoảng 48 tuổi, có tên Ý là Wincent Rizzo và gã cũng có điệu bộ như dân Ý. Rinno mặc đồ mốt mới nhất, may ở nhà may mốt nhất, gã chỉ đeo có một chiếc nhẫn duy nhất, cố gắng nhũn nhặn như một viên chức bình thường. Mới thấy gã không ai nghĩ đây là một găngxtơ ranh ma quỷ quyệt, từ nhỏ đã là thành viên mafia New York, thuộc hạ của bố già di Lorenxo. Gã lớn lên trên đường phố Lower East Side ở New York và thành thục nghề găngxtơ vào loại số một.

    Bây giờ gã ngồi trên xa lông đệm trong apartment sang nhất của khách sạn Palace ở Muenchen(99), vươn vai dạng cẳng trước sếp và nghĩ rằng trên đời không ai hơn gã. Rizzo không mảy may biết rằng ở phòng bên cạnh, vài cảnh sát Muenchen và hai thám tử từ New York đang nghe và ghi âm từng lời ba hoa của gã, bởi vì các phương tiện nghe lén đã được cài đặt giữa các lá pha lê lấp lánh của chiếc đèn chùm Tiệp từ hôm trước, cảnh sát Muenchen được thanh tra cảnh sát Joe Coffey từ New York thông báo về hai tên mafia ranh ma đangchuẩn bị một cú hattrik(100)trong đời. Khác với các đồng nghiệp Đức, Coffey đã theo dõi hai thầy tớ mafia từ lâu và biết rõ địch thủ của mình. Giờ đây Coffey đang chăm chú nghe trong tư thế nửa ngồi nửa nằm, còn hai tên mafia thì chắc chắn rằng không ai biết chúng đang mưu đồ gì.

    Mafia thay đổi và các bố già cũng thay đổi. Trong những năm 70 và 80, nó không còn là “Hội những kẻ giết người chuyên nghiệp” mà là một hiệp hội quốc tế tổ chức cao với doanh thu hàng năm 120 tỉ đôla và có lĩnh vực kinh doanh rộng lớn. Các trò chơi sát phạt trong các casino trên toàn thế giới, buôn bán ma túy ngày một phát triển, mua bán các cổ phiếu giả và ăn trộm, đó là các lĩnh vực kinh doanh chính của tổ chức tội ác, có trụ sở ở khắp nơi trên thế giới. Các siêu mônôpôn thế giới, các ngân hàng quốc tế, các con xóc tư bản, các hiệp hội công nghiệp chiến tranh, cả thẩy đều thay đổi chiến thuật và cả phương tiện. Để thu được lợi nhuận cao nhất, các chủ tịch những hiệp hội thế giới này không từ bất kỳ thủ đoạn nào. Mafia có thể thích ứng dễ dàng với luật chơi mới. Các con bạc ở đây ăn thua những món tiền khổng lồ và nhiều khi cả tính mạng đối phương hay kẻ cạnh tranh.

    Bộ máy cảnh sát Hoa Kỳ, những binh đoàn đặc biệt chống mafia và các thám tử FBI chiến đấu trên các mặt trận chống “chính phủ vô hình USA”. Hơn 150 thám tử tinh nhuệ chui được vào các tổ chức tội phạm, nhiều người khác theo dõi các đường dây bí mật buôn lậu ma túy, hàng năm thanh tra cảnh sát truy nã các găngxtơ tình nghi và cố gắng bắt quả tang chúng. Trong nhiều trường hợp họ thành công, những kẻ phạm tội phải ra tòa và vào tù. Song nhiều dấu vết biến mất trong cát bụi, cảnh sát bất lực vì không có đủ các bằng chứng thuyết phục. Có khi cảnh sát chỉ tóm được những con cá nhỏ chưa từng nhìn thấy chỉ huy của mình ở trong thâm cung. Và cứ thế, các ngài ăn mặc bảnh bao như Rizzo hay di Lorenzo, tổ chức các chiến dịch phi pháp lớn của chúng, hôm nay ở Muenchern hay los Angeles, ngày mai ở Vine, London, Rome hay Buenos Aires. Thật không dễ gì theo dõi các chuyến “công vụ” của chúng qua các thủ đô trên thế giới, để bắt quả tang chúng phạm pháp.

    “Chiến dịch Grelchen” bắt đầu trong ngày lễ Noel ở New York, cùng một lúc trong dinh tổng uỷ viên công tố và trong tổng hành dinh của binh đoàn đặc biệt chống tổ chức tội ác ở phố Leonard Street vùng Manhattan.

    Chỉ huy chiến dịch là Ủy viên công tố Frank Hogan, các phó sếp là Gerard Hinckley, William Aronwald và Paul Vitrano sếp binh đoàn đặc biệt, song người đóng vai chính trong chiến dịch lại là chàng thanh tra trẻ và tài ba Joseph Coffey, biệt hiệu Joe.

    Coffey làm việc ở đây đã bốn năm và thuộc vào loại thám tử có năng lực nhất. Anh có trí nhớ tuyệt vời và khả năng phối hợp của kiện tướng cờ quốc tế, việc gì đã bắt tay vào anh kiên gan làm đến cùng mới thôi Coffey cao 193 cm, có khuôn mặt giống người Alien và thân hình vận động viên điền kinh. Trẻ tuổi nhưng anh đã có kinh nghiệm phong phú. Anh nổi tiếng trong các đợt truy nã những tên khủng bố Cuba chống Castro những tên giết thuê mafia và các con buôn ma túy. Hơn nữa, anh thuộc loại người không bao giờ ăn hối lộ.

    New York. trời mưa dầm dề từ sáng sớm. Thanh tra Coffey cùng Anthony Saranierr đi tuần tra trong chiếc Cigm ở phố 12 có dạ quán Columbia Civie League Club, cảnh sát biết rằng trên vùng đất trung lập này, các bố già của năm gia đình Mogiliep New York thường gặp nhau để giải quyết bất đồng hay phối hợp kế hoạch. Các chiến dịch sắp tới của mafia Hoa Kỳ được thảo luận trong các bữa ăn tối ở đây.

    Coffey dừng xe phía bên kia phố và quan sát cửa ra vào. Trên vỉa hè xuất hiện một người đàn ông mặc áo măng tô màu be cổ đứng. Coffey huých khẽ cùi tay vào đồng nghiệp.

    - Rizzo- anh nói khẽ.

    Vincent Joseph Rizzo là con cá lớn. Thanh tra Coffey biết rằng gã đến Columbi Avivic Legaue Club không phải vì ở nhà gã không còn gì ăn. Họ chờ và theo dõi gã. Gã đi thêm một phố, bước vào một hiệu tạp hóa và đi đến buồng điện thoại. Coffey liền cho đồng nghiệp Saranier đi theo Rizzo và khi Rizzo bắt đầu quay số thì Saranier cũng đã ở trong buồng điện thoại bên cạnh, cảnh sát được luyện tập nghe đoán số điện thoại. Sau này họ xác định rằng Rizzo gọi đến quán cà phê ở đại lộ A, số 201, quán này là của gã và gã sống ở đó, trên tầng hai. Đấy là dấu vết mà cảnh sát có thể lần theo. Con cá lớn mafia đặt dưới sự giám sát của cảnh sát.

    Thanh tra Coffey lớn lên ở New York, anh biết quá rõ sân chơi, nơi đã từ lâu diễn ra trận đấu giữa những người bảo vệ pháp luật và những tên tội phạm. Anh nhập vào cách suy nghĩ của chúng, biết rằng những thói quen, ưu điểm cũng như yếu điểm của chúng, bởi vì chính bố anh, chỉ thiếu chút nữa là trở thành một người trong bọn chúng.

    Joe Coffey bố lớn lên trên bãi rác tội ác, trong khu phố ổ chuột Lower East Side ở New York, người bạn nối khố của ông là Eddie Mc Grath sau này trở thành sếp băng Alien. Ông quen biết với Meyer Lansky và cả với Lucky Luciano. Trong thời kỳ cấm rượu, ông lái xe chở rượu lậu cho Dutch Schultz. Năm 1938, khi con trai ông là Joseph ra đời, ông là thành viên Teamster Union và có thể được trả lương hậu dưới trướng tên giết người khét tiếng John “Cockey” Dunn, sau này bị xử tử trên ghế điện. Ông từ chối, Mafia cho người bắn ông. Nhưng ông gặp may vì tay bắn thuê bắn trượt. Tuy nhiên ông bị thương mù mắt và sau này ông nói tránh là do cửa thủy tinh bật phải. Người bố ở lại bên phía luật pháp, con trai được dạy dỗ trong tu viện, làm thợ sửa chữa trong hãng Western Electric, hoàn thành nghĩa vụ quân sự, cưới mối tình đầu Patricie Fynn, sau đó đi thi và được nhận vào cơ quan cảnh sát. Anh trở thành thành viên của đơn vị tinh nhuệ Tactical Patrol Force (Lực lượng tác chiến chiến thuật), hoạt động trong khu phố bất an ninh nhất New York, Bedford-Stuyvesant ở Harlem. Sau đó người ta chuyển anh đến đơn vị uỷ viên công tố nổi tiếng và đáng gờm Frank Hogan.

    Bedford - Stuyvesant là địa phận của thanh tra Coffey và cả của tên mafia Vincent Rizzo, và thế là hai đối thủ hoặc sớm hoặc muộn gặp nhau trên đấu trường.

    Rizzo cùng bố mẹ không xu dính túi, chuyển đến Lower East Side, gã ra đời và hiểu rằng ở Mỹ, tiền là tất cả. Vì không biết nghề gì, gã bắt đầu ăn trộm.

    Mặc dầu vậy, khác với những tên khác, ban đầu Rizzo cũng cố gắng sống bằng lao động. Gã bán báo, bán thịt, sửa xe, sau đó tình nguyện vào hải quân. Gã hy vọng được chiến đấu trong chiến tranh Triều
    Tiên, nhưng đơn vị gã lại bị chuyển đến Bắc California, và gã được phân làm giám ngục trong nhà tù quân đội Camp Le June, ở đây bắt đầu xuất hiện khuynh hướng tội lỗi của gã. Rizzo rất dã man đối với tù nhận, gã hành hạ họ, một người bị gã đánh gần chết. Thế là từ giám ngục, gã trở thành tù nhân và trong tù gã nói năng như người tâm thần. Gã bịa ra các chuyện kỳ quặc, khi thì tự coi là cha cố, lúc thì là thằng lừa đảo thậm chí có khi còn là nạn nhân của tình báo thù địch. Người ta đưa gã đến bệnh viện tâm thần, ở đó người ta tính hệ số trí tuệ của gã dưới trung bình (58) và phát hiện các dấu hiệu tâm thần. Tháng 9.1952, gã trở lại vỉa hè đại lộ A và bắt đầu bươn chải để có cuộc sống khá hơn bố mẹ xưa kia.

    Ban đầu là “lính tốt” của gia đình mafia di Lorenzo, sau đó thậm chí gã trở thành cộng sự và phó sếp cho di Lorenz. Nhà Lorenz có ba anh em: Matteo biệt hiệu “bác Matty”, Gerardo Lorenzo biệt hiệu “Jerry” và Anthony biệt hiệu “Hickey’ Chú út Anthony là sếp hãng Metrrpolitan Import Truckmens Asscociation, độc quyền cung cấp thực phẩm và nhiên liệu tại sân bay Kennedy ở New York, chú giữa Lorenzo là bạn thân và cộng sự của sếp Teamsters Union Kommy Hoffa. Năm 1971 Lorenzo không may bị bắt vì tội ăn cắp cổ phần hãng IBM trị giá một triệu đôla, y phải vào nhà giam, song ngồi tù chưa đến một năm. Khi người ta dẫn y đến phòng nha để trám răng, y bỏ chạy mất và từ đó
  • Chia sẻ trang này