30.vancuong7975

25/11/15
30.vancuong7975
  • Link docx

    Link pdf

    không ai trông thấy y cả. Thế là Rizzo thế chỗ Lorenzo, trở thành một trong những tên cho vay nặng lãi lớn nhất vùng Lower East Side, gã mua và bán cocain(101), vũ khí và cổ phần giả mạo. Công việc thuận buồm xuôi gió. Gã có nhà đẹp ở phố và dinh thự ở vùng quê, gã đi xe mercedes lộng lẫy nhưng đứng tên một nhân viên của mình. Người ta đồn gã là triệu phú. Có lẽ đúng như vậy, Rizzo cho vay tiền với lãi 8% hàng tuần, như vậy lãi hàng năm vượt quá 400%.

    Thanh tra Coffey theo dõi Winnie Rizzo và nhanh chóng xác minh là hàng ngày gã “làm việc” ở quán bia “Jimmys Lounge”. Ở đó gã tiếp khách hàng, nhận tiền lãi và gọi điện liên tục, mỗi giờ hơn mười lần. Cảnh sát mật ghi nhận cả những lần gặp gỡ của gã với các nhân vật trọng yếu của mafia: bố già Joseph Colombo, Tommy Eboli, Carmine Persico biệt hiệu “Rắn” , Phil Tartaglia và Nicholas Frustachi. Các quan hệ của Rizzo với tổ chức tội ác ở cấp cao nhất càng làm cho thanh tra Coffey tin rằng anh đang lần theo một đầu mối nóng bỏng.

    Quán bia “Jimmys” Lounge” nằm trên đại lộ A. Ở vùng Peter Cooper Village gần đây người ta đang xây cất nhà cửa, trên quảng trường Tompkins thường xuyên có những người làm vườn làm việc. giờ nghỉ trưa một số công nhân đến “Jimmys’ Lounge” uống bia. Điều này giúp Coffey tiếp cận đối phương. Anh đội mũ có chữ Axxon, mặc quần Jean đã sờn rách, đút cờ lê mỏ lết vào túi quần, ngang lưng đeo túi da đồ nghề và đi đến quán bia, ngồi gần điện thoại. Ngày đầu tiên, những khách hàng quen thuộc Rizzo xoi mói quan sát anh, ngày hôm sau, họ chỉ nhìn một cái gọi là và vài ngày sau chẳng ai còn để ý đến anh nữa. Coffey lúc nào cũng tỉnh táo và lắng nghe. Anh nghe được vài đoạn đàm thoại, tuy không rõ ý nghĩa nhưng cũng làm anh tin rằng Rizzo là một tên mafia rất hoạt bát, có quan hệ làm ăn rộng và được các bố già tin tưởng. Cần phải thu được bằng chứng.

    Coffey quyết định đề nghị sếp cho phép nghe lén điện thoại ở quán Jimmy Lounge. Chánh án Haroid Birns đọc báo cáo và chuẩn y đề nghị. Thế là một xe Camion chở bàn ghế giường tủ và các hòm đen đựng máy móc nghe lén đến một kho gần đó. Trưa 8 tháng 2, các kỹ thuật viên bắt đầu ghi âm các cú đàm thoại của Rizzo.

    Cocain, bạch phiến, marihuana(102), bạc giả, cổ phiếu đen, hăm dọa con nợ và hàng đống những tên quen thuộc, Isadore, Marion có ở Las Vegas một hiệu tóc sang trọng nhất. Theo các đàm thoại với Rizzo thì tên này tham dự các phi vụ mờ ám của mafia. Theo lệnh mafia của đường dây điện thoại, Marion đòi tiền các con nợ ở các casino Las Veagas. Ai không thể hay không muốn trả đều bị đe dọa, có trường hợp con nợ bị trừng phạt tới mức kết thúc cuộc đời trên bàn cấp cứu. Nhiều cú đàm thoại khác lật tẩy các mối quan hệ làm ăn giữa các gia đình mafia và khắng định nghi vấn. Song ba ngày sau khi chiến dịch mở màn, 11 tháng 2, các chuyên gia có thể hài lòng với mẻ lưới nặng cân nhất. Rizzo quay số điện thoại đại diện hãng hàng không Tây Đức Lufthansa ở New York.

    - Tôi muốn đặt trước vé bay đến Muenchen.

    - Khi nào, thưa ngài?

    - Sau hai tuần.

    - Tức ngày 26. Đúng thế không, thưa ngài?

    - Đúng.

    - Ngài gặp may đấy, chúng tôi còn chỗ trống. Tuyến bay 409 khởi hành từ sân bay Kennedy vào 17 giờ 45 phút. Được chứ, thưa ngài?

    - Tôi nghĩ rằng được.

    - Ngài có muốn vé khứ hồi không? Như vậy sẽ rẻ hơn.

    - Vâng, cả vé khứ hồi. Tôi sẽ lưu lại khoảng một tuần. Vâng, khứ hồi sau một tuần. Khoảng 4 tháng 3.

    - Xong rồi, thưa ngài. Ngày bay về trên tuyến 408, ngày 4 tháng 3, vào lúc 18 giờ.

    - Rất tốt.

    - Còn gì nữa không, thưa ngài, ngài muốn bay dạng du lịch hay hạng một?

    - Du lịch. Tí nữa tôi quên mất, cô có thế đặt phòng khách sạn trước cho tôi không?

    - Dĩ nhiên, thưa ngài. Vé đi và khứ hồi với một tuần ở khách sạn Palace.

    - Khách sạn ấy thế nào?- Rizzo hỏi.

    - Mới hoàn toàn. Bên cạnh khu đại hội Olimpic sắp bắt đầu ở Muenchen mùa hè năm nay.

    - Bao nhiêu?

    - Hai trăm hai mươi đôla. Ngài đồng ý chứ?

    - Tất nhiên. Tên: Rizzo. Vincent Rizzo.

    Thanh tra Coffey tin chắc rằng Rizzo bay đến

    châu Âu không phải để hóng mát. Gã đặt phòng cho cả tuần, như vậy chắc là gã sẽ đàm phán một phi vụ phức tạp đây. Không dễ gì, thuyết phục cấp trên về sự cần thiết phải theo dõi Rizzo cả ở Muenchen, song cuối cùng thì thanh tra Coffey cũng lên máy bay đến Muenchen trước Rizzo hai ngày. Anh có thể liên hệ với cảnh sát Muenchen và yêu cầu các bạn đồng nghiệp giúp đỡ.

    Sau này thanh tra, Coffey thú nhận rằng cả anh, cả các sếp không hề có khái niệm Rizzo đang mưu đồ gì. Họ đoán rằng đây là vụ buôn bán vũ khí phi pháp lớn, đại diện mafia Hoa Kỳ sẽ gặp một lái súng nào đó của hãng sản xuất vũ khí Krupp. Song tất cả phát triển theo hướng khác. Vụ án đã trở thành nguyên nhân nhiều sự bất đồng, đề tài tranh luận trong quốc hội về luật cho nghe lén điện thoại công dân Mỹ. Các nghị sĩ khẳng định rằng cả cảnh sát, cả FBI đều không làm ăn được nếu không được phép nghe lén.

    Về nguyên tắc họ nói đúng. Diễn biến tiếp theo của “chiến dịch Gretchen” xác nhận điều đó. Thanh tra Coffey bay đến sân bay Muenchen sáng 25 tháng 2. Trước đó ủy viên công tố đã thông báo vụ việc cho các đồng nghiệp ở Muenchen biết, cho nên Coffey được thanh tra Klaudenaus Peter đến đón tại sân bay và chở thẳng đến khách sạn Palace. Ở đó, trong phòng 354, cảnh sát Tây Đức tiến hành lắp ráp hệ thống nghe lén.

    Điều này không dễ. Ở Cộng hòa liên bang Đức, nghe lén điện thoại chưa phải là công việc này. Trong khi các đồng nghiệp Đức lúng túng thì thanh tra Coffey nảy ra sáng kiến cầu cứu chi nhánh CIA ở Muenchen. Các điệp viên Cục tình báo trung ương có đầy đủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại và chỉ sau một thời gian ngắn, căn phòng đặt trước cho Vincant Rizzo được bố trí hệ thống nghe lén tinh vi, đảm bảo không để lọt một lời nào. Trong chiến dịch quan trọng này, chỉ nghe lén điện thoại thôi thì chưa đủ. Cần phải ghi lại tất cả những gì được nói ra trong địa điểm mấu chốt này. Cho nên các chuyên viên hình sự phải đặt khắp nơi những micrô với máy phát cực nhỏ, trong tiếng lóng chuyên môn được gọi là “bọ chó”. Những con “bọ chó” này được cài vào đèn bàn, đèn chùm, được đính lên khung ảnh, đặt trong nhà vệ sinh, buồng tắm, chúng nhỏ như cái cúc và hoạt động rất mạnh, chỉ có nhược điểm là làm việc không tới 24 tiếng, bởi vi mạch đóng điện liên tục và pin chỉ có tuổi thọ hạn chế.

    Cảnh sát bám sát đối tượng mà vẫn chưa có gì xảy ra. Vincent Rizzo quả có điện thoại mấy lần, nhưng không có gì đáng chú ý cả. Song gã vẫn kiên trì trụ trong phòng như thể đang chờ tín hiệu liên lạc. Lần đầu tiên các kỹ thuật viên lọt được vào phòng để thay pin là khi Rizzo đi ăn tối. Sau đó, khi gã đi ăn trưa, người ta xuống thay pin lần thứ hai. Nhưng khi một chuyên viên hình sự Tây Đức đến gần cửa phòng Rizzo thì người phục vụ xuất hiện và mở cửa phòng vào dọn dẹp. Thời gian trôi nhanh và Rizzo có thể sẽ về bất cứ lúc nào. Cần phải làm sao cho người phục vụ ra ngoài một lát Thanh tra Coffey thông minh cầm cốc thủy tinh ném xuống sàn nhà. Mảnh văng tung tóe. Anh chạy ra hành lang gọi người phục vụ đến dọn mảnh vỡ. Trong khi đó chuyên viên kỹ thuật kịp thay pin.

    Công việc vừa xong thì Vincent Rizzo trở về cùng hai người Đức. Cả Alffred Barg, cả Winfried Ense đều không mảy may hay biết rằng thanh tra Coffey và các đồng nghiệp Tây Đức đang ghi âm từng lời của họ. Qua đó, cảnh sát biết rằng, trước đây Vincent Rizzo và người của gã cho hai người Đức này vay cổ phiếu Hoa Kỳ ăn cắp mà đến nay họ vẫn chưa trả. Rizzo đòi 350.000 đôla, nhưng họ không trả nổi, vì họ không có tiền Rizzo hăm dọa và các con nợ nài nỉ. Trong cuộc đối thoại xuất hiện nhiều cái tên quen thuộc, và thanhtra Coffey hiểu rằng đây là vụ áp phe lớn các cổ phiếu giả và ăn cắp, rằng mafia Hoa Kỳ chuyên về ngành kinh doanh mới này với các khoản tiền khổng lồ. Anh báo cáo về New York cho sếp và yêu cầu chi viện. Frank Hogan lập tức cử điệp viên kinh nghiệm FBI Dick fammar lên đường. Hỏi cung hai người Đức nọ, Tammar và Coffey được biết về mạng lưới nhiều tầng những tên găngxtơ và các hạng lừa đảo, những người có địa vị cao, chủ nhà băng và chính trị gia. Họ thu được hàng triệu nhờ buôn bán cổ phiếu giả và ăn cắp. Trong bối cảnh này, lần đầu tiên xuất hiện từ “Vatican”

    Công việc tuy thú vị nhưng đòi hỏi kiên trì. Điều tra kéo dài hàng tháng, có hàng chục chuyên gia chống mafia của uỷ viên công tố Hogan tham gia, thám tử nhiều nước truy nã những kẻ tình nghi ở một số quốc gia và cuối cùng đưa được nhiều bị cáo vào tù. Từ các băng ghi âm, hồ sơ cảnh sát, tài liệu công bố, chúng ta thử dựng lại vụ áp phe nối tiếng của mafia Hoa Kỳ với các quan chức cao cấp của nhà nước Vatican.

    Những cái tên đầu tiên, Ricky Jacobs và Leopold Ledt, mà thanh tra Coffey nghe được đều xa lạ với anh. Sau khi điện về Trung tâm cảnh sát hỏi, anh được biết mình có hân hạnh đối địch với ai. Khó có thể nói ai trong số hai tên lừa đảo đang làm ăn với Rizzo này lưu manh hơn ai. Ricky Jacobs, một trong những tên lừa đảo lớn nhất trong những năm 70, chuyên buôn ma túy, giấy bạc giả và cổ phiếu ăn cắp. Y sinh năm 1920 ở Filadelfia và có vẻ ngoài chất phác. Với bạn hàng y đối xử lịch sự niềm nở và bằng cách xử sự lịch lãm, chiếm được cảm tình của bất cứ ai. Khi còn là thanh niên, Jacobs kiếm sống trên đường phố và tận dụng mọi cơ hội kiếm tiền dễ dàng và nhanh. Y sớm làm quen với thức ăn thiu thối trong tù vì các vụ cắp vặt và trấn lột vài trăm đôla. Song những việc này chỉ là trò cò con, thu nhập không đáng kể. Thế là y chuyển đến California, giữa các triệu phú, y sống dễ chịu hơn. Ở đây, nhiều người giàu lên rất nhanh và không biết làm gì với những đồng đô la tự nhiên rơi vào lòng họ. Ngu dốt, vô học và cả tin, họ là những con mồi béo bở cho đủ các loại lừa đảo. Con buôn Ricky Jacobs bắt đầu săn mồi giữa những người này,

    Buôn bán cổ phiếu giả hoặc ăn cắp là ngành mới rất lời lãi của mafia Hoa Kỳ. Theo báo cáo của sở giám sát thị trường chứng khoán, có thể khẳng định rằng doanh thu của chúng trong lĩnh vực này lên tới 50 tỉ đô la hàng năm. cổ phiếu mất cắp được thông báo trong sổ đen các nhà băng thế giới, mặc dù vậy người ta vẫn buôn bán chúng. Con buôn mua những cổ phiếu này với giá rẻ, sau đó bán lại cho những tên triệu phú hoặc nhà kinh doanh thiếu thông tin để họ gửi vào nhà băng như là vật đảm bảo các khoản vay. Một số hãng và cả nhà băng nữa lâm vào khó khăn tài chính, đã dùng cổ phiếu giả để cân bằng cán cân thu chi. Mỗi tập phiếu đều kèm theo phiếu đề số và tổng giá trị. Với vai trò lừa đảo này thì cổ phiếu giả thích hợp hơn vì cổ phiếu ăn cắp dễ bị phát hiện.

    Mafia Hoa Kỳ có thợ in hạng một, trang bị cho các xưởng in của mình máy móc tối tân nhất, Ricky Jacobs và đồng bọn có khả năng cung cấp cổ phiếu giả hầu như không thể phân biệt được với cổ phiếu thật.

    Leopold Ledl là người thủ đô Viên, nước Áo. Y sinh năm 1935, trong một gia đình nghèo, sau vài năm phấn đấu trở thành tên bịp bợm cỡ quốc tế. Thời thơ ấu, cậu bé Ledl đã phải trải qua những ngày đói rách tủi nhục dưới ách đô hộ của phát xít Đức, những năm tháng chiến tranh, rồi tới sự cai quản của Đồng minh. Tốt nghiệp phổ thông, cậu đi học nghề đồ tể. Từ nhỏ cậu đã có thân hình hộ pháp, nặng tới một tạ. Song chẳng bao lâu, Ledl bỏ nghề bán thịt vì bị những vùng đất xa lạ hấp dẫn. Y kiếm chân bồi bàn trên tàu và đi đến những vùng biển phía nam. Y quan sát các ông to bà lớn trong cabin sang trọng, xem cung cách họ xử sự, ăn mặc, và y bắt chước họ. Ledl có biệt tài bán chác bất cứ thứ gì cho bất cứ ai. Y ăn nói có duyên và cả những con buôn sói già cũng thường mắc bẫy y. Leopoltd Ledl có khả năng chiếm lòng tin người khác.

    Thương gia có tiếng gốc Hung Karoly Kasco sống trong biệt thự ở Aarao, Thụy Sĩ. Người ta không xác minh được hai người quen biết nhau như thế nào, cũng không rõ Ledl phát minh ra bàn chải xoa bóp như thế nào và ở đâu. Có điều chắc chắn là Ledl bán phát minh của mình khéo đến nỗi triệu phú Kasco mời y đến biệt thự bàn chuyện hợp tác và trong bữa ăn đã hứa giúp đỡ tài chính. Đây là bước đi đầu tiên của Ledl trong giới tài chính. Những bước sau tất phải nhanh hơn.

    Từ bao đời này, Thụy Sĩ là nơi trú ngụ của những ông vua thoái vị, những tổng thống bị lật đổ. Cố vương Burundi(103) có thể là Mambutse IV, hoặc Ntare V, cũng sống bên hồ Lac Leman ở Geneve, Leld làm quen với ông hoàng thoái vị và chịu khó ngồi hàng giờ nghe ông ta than vãn. Họ kết bạn với nhau, liên minh với nhau vì cùng quan tâm đến một chuyện. Cố vương túng quẫn cần tiền và Leopold Ledl cũng cùng cảnh ngộ. Cố vương đến từ châu Phi và không sành các quan hệ ở châu Âu, trong khi đó trình độ của Ledi thì đạt mức vô địch thế giới. Cố vương Burundi phong Ledl làm tổng lãnh sự danh dự, có quyền cấp hộ chiếu ngoại giao và bằng lái xe Burundi. Cậu học nghề đồ tể thành Viên khi xưa này trở thành cố vấn tài chính cho ông hoàng thoái vị.

    Đầu tiên “lãnh sự” Leopold Ledl cho in ba trăm bằng công nhận lãnh sự danh dự có vương triện Burundi, rồi đem bán cho những kẻ trưởng giả háo danh, mỗi tấm 10.000 đôla. Y có khách hàng ở Áo, Ý và tận cả Hy Lạp. Tiền lời y ăn chia với cố vương Burundi. Với sự ủng hộ của Kasco, có thế cả về tài chính, Ledl lập hãng Caravelle Service Commpany. Hãng này quảng cáo sản xuất và cung cấp loại bàn chải xoa bóp kỳ diệu, chưa ai nhìn thấy bao giờ, song thực ra nó quan tâm đến các loại kinh doanh mờ ám. “Lãnh sự” Ledl cấp hộ chiếu ngoại giao và bán biển xe ngoại giao. Khi đã vào nghề, bản thân Ledl cũng cần phải trang điểm. Y mua từ một tay lừa đảo khác bằng tiến sĩ danh dự của trường đại học tổng hợp quốc gia ở Toronto, Canada. Thế là y nghiễm nhiên trở thành “lãnh sự, tiến sĩ Leopold Ledl”.

    @@@@@@@@
    Ledi buôn bán học vị và “viện” của y cung cấp, với giá kha khá, bằng thạc sĩ triết học, thần học, luật học của trường tổng hợp Rome, trường tổng hợp Vatican, trường đại học thánh Tomas Leteran, hai trường tổng hợp Vatican, trường đại học thánh Tomas Leteran, hai trường tổng hợp ở London và một số trường khác. Hãng làm ăn phát đạt, vì càng ngày càng nhiều những kẻ háo danh thích học vị hàn lâm hơn chiếc nhẫn lớn mặt đá kim cương bacara.

    Ngoài Carávelle Service Company, Ledl còn có nhiều bằng ma khác. Những hãng này không có gì cả ngoài cái tên gọi rất kêu và giấy tờ thư tín với tiêu đê bằng chữ vàng. Đó là Wesiropa Construction Company of Wienna, Intercontinental Rami Etablissement và Etablissement Proco, có trụ sở ở Lichtenstein, nơi không phải trả thuế. Hãng hàng không Interterra của y có trụ sơ ở Monrovie và không sở hữu một máy bay nào cả. Mặc dù vậy các hãng này cũng thu lời đáng kể. Các hãng của Ledl nhận cung cấp các bảng phân tích kinh tế, hướng dẫn tài chính, buôn bán trong Lĩnh vực khách sạn và du lịch ở Kẹnia, Nigeria và Ghana(104). Ledl tung tin trong giới kinh doanh thành viên rằng chính tỉ phú nhiều lần Aristoles Onassias(105) quan tâm việc bán bàn chải xoa bóp ở Hy Lạp. Mặc dù đây chỉ là tin vịt, tiếng tăm của Ledl một nhà kinh doanh kinh nghiệm, nhò đó mà càng tăng lên.

    Những người trong cuộc nói rằng Leopold Ledl sống bằng tiếng tăm của y một cách khéo léo, rằng các hãng kinh doanh của y chỉ là cái vỏ che đậy những kinh doanh của y chỉ là cái vỏ che đậy những kinh daonh thực sự, rằng phần lớn thu nhập của y là nhò buôn bán vũ khí, và cộng sự đằng sau hậu trường của y là một tướng Mỹ, một trong các sĩ quan cao cấp khối NATO. Sau đó có tín tiết lộ rằng Ledl và các hãng ma của y chuyên buôn bán tiền giả và cổ phiếu giả hoặc ăn cắp. Lần này thì không phải tin vịt hay nói xấu nữa.

    Maria Ansbach là dinh thự vùng quê, công viên rộng lớn, biệt thự sang trọng kiểu Barốíc, bể bơi, đài phun nước, gara cho nhiều xe, nhà cho người ở và nhà nhỏ cho người làm vườn. Nghe đâu Leld trả một triệu đôla cho bất động sản. Ledl chuyển chỗ ở. Ở Viện, y chỉ để lại căn hộ năm phòng làm chỗ tạm trú. Y đi xe mercedes, nhưng y cũng có xe thể thao jaguar, vợ y lái xe lincoln màu ngà voi, các con gái y thì có xe minicôper. Y tổ chức lễ tiệc ngoài vườn, khiêu vũ trong nhà. Y mời giới quý tộc từ khắp thế giới đến dự dạ tiệc, sâm panh chảy như suối, song chính y lại chỉ uống có sữa. Bất kỳ lúc nào và ở khắp mọi nơi, y luôn tỏ ra lịch sự niềm nở. Học vị và chức vụ của y ngày càng nhiều thêm: y được bổ nhiệm làm cố vấn chính thức của giáo chủ ở Alecxandrie, cố vấn của tổng giám mục vùng Trung Phi. Tóm lại, Ledl là tên lừa đảo loại thượng thặng, vì thế, y vô cùng nguy hiểm.

    Ledl đi làm ăn khi thì bằng xe, khi thì bằng máy bay. Ở Roma, y làm quen với một người cùng hội cùng thuyền. Mario Foligni, bá tước từ San Francisco, là người Ý điển hình với mũi nhọn và tóc quần. Y tự giới thiệu là tiến sĩ thần học và văn bằng của y cũng cùng một lò với học vị của Ledl. Foligni xử sự như một bá tước thật sự, có thẻ còn tốt hơn, mặc dù y kinh qua không ít vụ đảo điên. Tuy nhiên, y rất táo tợn và có thần kinh vững như thép. Một lần, Foligni bị tình nghi buôn bán cổ phiếu ăn cắp, cảnh sát đến khám nhà và tìm thấy séc bị mất trọng vụ cướp nhà băng.

    - Ông có thể giải thích điều này không? - thanh tra hỏi.

    - Không, thưa các ngài - Foligni tỏ vẻ ngạc nhiên. - Tôi không biết những tờ séc này lọt vào đây bằng cách nào. Tôi không biết thực mà.

    Cảnh sát không có bằng chứng nên không thể đưa Foligni ra tòa, mặc dù rõ ràng là y tham gia tổ chức quốc tế buôn bán cổ phiếu ăn cắp. Trong lần tình nghi khác, khi cảnh sát mở hộp an toàn, nơi y giấu các tập séc ăn cắp từ nhà băng, thì ngay lập tức, xuất hiện thư đảm bảo của Đức Giáo hoàng Paul VII. Thế là việc điều tra bị đình lại. Trong khi đó cảnh sát .biết rằng Foligni quan hệ với tên lừa đảo nổi tiếng Tomas Amato và kẻ mới lái hàng giả trên thị trường quốc tế Remigie Begni. Foligi cũng làm việc cho Carlo Pesenti, chủ nhân các hãng bảo hiểm và buôn xi măng với quy mô lớn, y làm trung gian các áp phe béo bở và ăn chia với Pesenti. Khách hàng thế lực thứ hai là đồng chủ nhân khách sạn Leonardo de Vinci, tỉ phú Alfio Marchini.

    Maria Foligni còn có quen biết thế lực hơn. Ở Neapoli có hội từ thiện Maddaloni với đại diện là Salvatore d’Angelo. Vì các lý do thương mại, người này thường ở lại Vatican vài ngày mỗi tuần. D’Angelo là bạn thân của thư ký quốc gia, tổng giám mục và sau này là hồng y giáo chủ Gionanni Benelli. Thế là con đường dẫn Foligni đến các giáo chức cao cấp nhất của Nhà nước Vatican đã mở rộng.

    Ledl và Foligni có nhiều điểm giống nha. Ledl có các hãng ma, còn Foligni thì là sếp hãng bảo hiểm Nuova Sừce có trụ sở ở Roma, chi nhánh ở Muenchen. Ở Roma. Foligni còn có hãng đầu tư Intercommerce. Group. Chủ tịch cả hai hãng là thương gia Mỹ quen thuộc chủ nhân các khách sạn Joseph Vetrano, sông ở Bristol, bang Connecticut. Người này là bạn của giám mục Chicago Paul Marcinkus và trở thành một trong những vai quan trọng trong màn kịch mà mafia Hoa Kỳ và các nhà băng Vatican dàn dựng.

    Paul Marcinkus, cao 190, là một giáo chức với thân hình đô vật. Năm 1970, trên sân bay Manila (thủ đô Philpin) chỉ bằng tay không, Marcinkus đã đánh gục tên khủng bố định ám sát giáo hoàng Paul VI. Lập tức ông ta được đưa lên trang đầu báo chí thế giới và được giới ký giả tặng danh hiệu “Minsignorre Gorillo” (ngài vệ sĩ). Paul Marcinkus là một giám mục khác đời. Ông ta trở thành vệ sĩ của giáo hoàng, mỗi ngày hút hai bao Marlborro, thích uống Whisky và chơi golf, ăn mặc và xử sự giống dân chơi sành sỏi hơn là con chiên ngoan đạo.

    Marcinkus sinh ở Cicero, gần Chicago, bang Illinois. Người cha sống bằng nghề rửa chén bát thuê và người con quyết tâm bằng mọi giá leo lên bậc thang danh vọng. Không có điều kiện học hành, Marcinkus chọn con đường duy nhất là nhập đạo thiên chúa. Ông ta học lóp bồi dưỡng ở Mundelein, bang Illinois, trở thành cố đạo, sau đó được phong chức cha xứ. Nhưng Marcinkus còn tham vọng lớn hơn. Ông ta nhanh chóng được người đại diện tối cao của Chúa ở Mỹ là Hồng y giáo chủ Samuel Strich và những người kế tục là Meyer và Cody chú ý. Năm 1950, người ta gửi ông ta đến Vatican học luật. Sau khi tốt nghiệp, Marcinkus ở lại cơ quan ngoại giao của chính phủ Vatican, trở thành vệ sĩ của giáo hoàng. Năm 1968, Mareinkus được bổ nhiệm chức bí thư nhà băng Vatican: instituto perleopre di religione- Viện các vấn đề tôn giáo. Năm 1971, ông ta giữ chức giám đốc viện tiền tệ này. Đây là chức vụ cao, giám mục Marcinkus nắm trong tay phương tiện tài chính khổng lồ của đạo thiên chúa, và vị giám đốc chỉ chịu trách nhiệm trực tiếp với giáo hoàng. Marcinkus cũng có quyền lực lớn.

    Giám mục Marcinkus có một người bạn ngoại đạo. Chủ nhà băng, nhà công nghiệp và tài chính Michele Sindonna, được đánh giá như một thiên tài tài chính đi trước thời đại. Sindonna làm cố vấn cho Marcinkus trong việc chuẩn y hay bác bỏ các khoản vay mượn, đầu cơ trên thị trường chứng khoán và táo tợn sử dụng cả tiền không phải của mình. Năm 1974, Sindonna phải vào tù ở Mỹ vì tội biển lận.

    Michele Sindonna không có tiếng tốt. Trong giới tài chính châu Âu người ta nói rằng y không từ thủ đoạn nào. Y cứng rắn và tàn nhẫn, mới quan tâm duy nhất của y là lợi nhuận, các quan hệ của y cũng rất đáng ngờ, bởi vì y hợp tác với mafia Hoa Kỳ.

    Sau này, “lãnh sự tiến sĩ” Leopodl còn quan hệ với nhà báo Alberto Barbieri của tờ Edizione Paolini ở Vatican. Cũng là cha cô, nhưng nhà báo này là cha cố ăn chơi,. Barbieri đặt may áo choàng ở hiệu may mốt nhất, đi trong những xe hơi lớn và đắt tiền, thích đàn bà và thường xuyên đến các nhà hàng sang trọng hay hộp đêm đắt tiền ở Roma. Với bộ tóc quấn trắng. Barbierri, có cùng một mới quan tâm: tiền trong túi người khác.

    Năm 1969, ở Roma nổ ra vụ áp phe hai tiếng. Khối Thị trường chung châu Âu gửi 60 tấn bơ giúp trẻ em thiếu dinh dưỡng và những người hưu trí nghèo Ý, thông qua một tổ chức từ thiện Vatican, Barbierri và đồng bọn bán hàng viện trợ và chia nhau tiền. Quả là Barbieri' có mang tiếng nhục nhã cướp miếng ăn của trẻ em, nhưng y không bị trừng phạt gì hơn. Dần dần người ta cũng quên đi vụ bê bối đó của Barbieri.

    Không rõ Leopold Ledl làm quen với Ricky Jacobs và Barbieri như thế nào. Tất nhiên là Barbieri muốn Ledl về phe mình, cho nên y chủ định phô trương các quen biết thế lực của mình. Y đưa Ledl đi dự lễ tiệc, làm quen với giám đốc kinh tế, hồng y giáo chủ Vagnozzi và hồng y giáo chủ Cocoganani, bí thư chính phủ già nhất (90 tuổi) và được trọng vọng nhất. Tên đại bịp Ledl còn thiết lập các quan hệ hứa hẹn với hồng y giáo chủ Tisserannt, một cộng sự thân cận nhất của Giáo hoàng Paul Valachi.

    Tại sao Ledl lại xuất hiện ở Roma và ra mắt các giáo chức cao cấp Vatican? Tại sao chính nhà báo Barbieri lại nhiệt tình săn sóc đón khách “quý” và cố gắng chiếm cảm tình của y? Tài chính Vatican lâm vào tình hình khó khăn mà người có lỗi chính là giám mục Paul C.Marcinkus, và “lãnh sự tiến sĩ” Ledl được chọn giúp nhà băng chúa trời ra khỏi hoạn nạn.

    Nước Vatican với khoảng 1000 công dân là trung tâm tài chính của thế giới tư bản. Không có ngành công nghiệp hay thương nghiệp nào ở Ý mà Vatican không tham dự. Vatican sỏ hữu ít nhất một nửa cô phần các công ty ở Ý, buôn bán trên thị trường chứng khoán thế giới với vốn lưu động khoảng 5 triệu đôla. Ba phần tư hãng xây dựng lớn nhất Ý Societá Generale Immobiliare: thuộc về Vatican. Các nhà băng lớn nhất Ý, Banco di Roma và Gredito Gommerciale, các hãng mônôpôn Montedison, Finmare, Finsider Finmencanica hay SNIA-Viscosa cũng chịu sự điều khiển của Vatican. Tài sản của giáo hội Vatican rất lớn. Chỉ riêng phái Jêduyt đã sở hữu 640.000 héc ta đất canh tác ở Ý, 100.000 héc ta ở Anh quốc, 540.000 héc ta ở Pháp. 670.000 héc ta ở châu Mỹ la tinh, 250.000 héc ta ở Tây Đức.

    1.150.000 héc ta ở Mỹ và 6.000.000 hécta ở Tây Ban Nha và Bồ đào Nha.

    Tư bản Vatican có mặt trong nhiều ngành công thương nghiệp: dệt, cao su, thép, xi măng, thực phẩm, chất dẻo nhân tạo. Các cha cố còn buôn bán ở cả tên lửa và thuốc ngừa thai, loại thuốc bị giáo hội công khai lên án. Trên báo chí nhiều lần xuất hiện các bài báo vạch trần các thủ đoạn mờ ám của các chủ nhà băng Vạticăng: lừa đảo và trốn thuế, đầu cơ bất động sản và giá cả đất đai. Theo lời một nhà báo, các tôi chúa “ngoan đạo” này sẵn sàng buôn bán với cả quỷ sứ.

    Mặc dù giáo hội chính thống có tài sản đồ sộ và tài chính đáng kể, trong những năm 70, nhà băng Vatican lâm vào cảnh khó khăn. Mậu dịch châu Âu khônghứa hẹn điều gì tốt đẹp cả. Và Vatican đầu tư những khoản lớn vào các công ty ngoại quốc, nhất là ở Mỹ. Đấy không phải là quyết định chín chắn, sếp ngân hàng Vatican Paul Mareinku còn phạm sai lầm tai hại: nữa là giao phó việc đầu tư cho Michele Sindonnu.

    Sindonna xuất thân từ Sicilie, và từ hai bàn tay không, leo lên đĩnh cao của thế giới tài chính. Năm 1972, tài sản động của y ở Ý và Mỹ được ước đoán hơn 25 tỉ đôla. Năm 1974. Sindonna thất bại lớn, mất hơn 25 tỉ đôla và nhà băng Vatican bị vạ lây mất khoảng 250 triệu đôla. Thế là các chủ nhà băng khoác áo thầy tu tìm cách cân bằng cán cân thu chi.

    Leopold Ledl đánh hơi thấy cơ hội làm ăn và mò đến Vatican. Ngược lại, các giáo chức quyền thế Vatican coi như vị cứu tinh và muốn y sửa chữa lỗi lầm mà giám mục Marinkus phạm phải. Thế là trên điện thờ chúa trời, xuất hiện mafia Hoa Kỳ.

    Theo lời khai của Ledl thì các giáo chức Vatican chờ y giúp đỡ. Khi thấy y im lặng, Mario Foligni đến hỏi thẳng:

    - Quả thực ông không có biện pháp gì gỡ giùm chúng tôi?

    - Cần phải có vật đảm bảo đủ lớn.- Ledl nói.

    - Chúng tôi cũng biết như vậy. Chúng tôi biết rằng cần phải kiếm được giấy quý, trị giá khoảng...

    - Ông nói tới thứ giấy quý nào? - Ledl hỏi.

    - Loại một. Tốt nhất trên thị trường. Của các hãng Mỹ là hay nhất.

    - Cái này không dễ đâu. cổ phiếu loại này không phải lúc nào cũng có, - Ledl hiểu Foligni hướng tới đâu chờ nên y gợi ý.

    - Thế còn loại giả?- Foligni không úp mở nữa.

    - Khoảng bao nhiêu?- Ledl hỏi.

    - Gần một tỉ đôla. Chính xác là 950 triệu. Một nửa cho Mareinkus và nhà băng của ông ta, nửa kia cho ngân hàng Ý. Ở đấy cũng bị hụt cán cân thanh toán nhau, vì ông cũng biết đấy, mọi thứ đều liên quan với nhau, cả hai viện này cần một “liều trợ lực”.

    - Ông chắc biết, thưa ngài Foligni, - Ledl hạ giọng,- rằng một số lượng lớn bạc giả như thế này thì chỉ có duy nhất...
  • Chia sẻ trang này