31.02 - stickman (type done)

17/9/15
31.02 - stickman (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-ZmVpUnlZNEc1TTQ/view?pli=1


    Chính-trị nhân-đức của thánh-hiền như không-khí êm hòa, như gió xuân mát-mẻ, lòng dạ của thánh-hiền như thanh thiên bạch nhật.

    Thánh-hiền đặt pháp-luật ở nơi nầy mà nhân-dân biết sợ ở chốn kia.

    Tuy miệng họ bàn-tán sôi nổi mà họ vẫn lấm-lét vâng theo như việc trách phạt sắp đến sau lưng vậy. Đó là phong-hóa đã khiến đến như thế. Cho nên không quá một năm mà tất cả đều ca tụng.

    Người đời sau, đạo-đức và danh-vọng chưa đáng tin, tác dụng chưa được khéo, nếu không riêng mối lợi cho [4a] mình thì cũng dồn mối lợi cho nước, nếu không lấy hình-phạt nghiêm khắc để trị dân thì cũng bày kế để dụ dân, thì cả nước đều chê-bai cũng là đáng lắm, dẫu trải qua năm dài thì há có ai ca-tụng?

    Cho nên người làm việc chính nghe nhân-dân chê-bai thì phải trách mình chớ không nên lấy việc thánh-hiền còn bị chê-bai mà tự giải thích.

    Căng dây cung lên mãi mà không mở dây cung ra thì vua Văn vua Vũ nhà Chu không làm (1).

    Cho nên khi mọi công việc đồng ánh đã xong xuôi thì tế trá (2) để mọi người trong nước vui chơi như điên cuồng.

    Mở dây cung ra mãi mà không căng dây cung lên, vua Văn vua Vũ nhà Chu cũng không làm.


    (1) Đoạn nầy lấy ở thiên Tạp-ký trong kinh Lễ, xin dịch ra như sau: Căng dây cung lên mãi mà không mở dây cung ra, vua Văn vua Vũ nhà Chu không làm. Mở dây cung ra mãi mà không căng dây cung lên, vua Văn vua Vũ nhà Chu cũng không làm. Một lần căng dây cung lên thì một lần mở dây cung ra, ấy là cái đạo trị dân của vua Văn vua Vũ. – Ý nói trị dân có gấp có hoãn, có làm có nghỉ.

    (2) Trá, lễ cúng tế vạn vật vào tháng chạp.

    Cho nên sau khi yến ẩm vui chơi thì lo cắt cỏ tranh mà lợp nhà.

    Phải thấu đạt nhân tình mới có thể nói đến việc chính-trị.

    Thầy Tử-Sản nói: « Định yên nước nhà tất nhiên trước hết phải được lòng những đại gia-tộc ».

    Mạnh-Tử nói: « Làm chính-trị không khó, đừng gây oán hận với những đại gia-tộc là được » (1).

    Hai lời nói trên đều cùng một ý.

    Chu-Tử nói: « Nếu như không có việc lợi hại lớn thì không cần phải bàn nghị sửa đổi (2). [4b]. Còn những đại gia-tộc thì nên khoan-dung (3) cho họ ».

    Sách Lễ-ký chép: Việc công không được bàn nghị riêng. Ở tại quan thì nói việc quan, ở tại phủ thì nói việc phủ, ở tại kho thì nói việc kho, ở tại triều thì nói việc triều, rất là cẩn-thận, chẳng những giữ chức-vụ của mình trong phạm-vi không được phiếm lạm ra ngoài, cũng để khỏi tiết lậu việc bí-mật và tránh cái tệ gian-xảo.

    Khổng-Tử nói: « Làm chức lại vận-dụng pháp-chế chỉ có một đường lối mà thôi, lo làm điều nhân từ khoan thứ




    (1) Ở thiên Ly-lâu thượng, trong sách Mạnh-tử, trọn lời nói của Mạnh-tử như sau: « Vi chinh bất nan, bất đắc tội ư cụ thất. Cự thất chi sở mộ, nhất quốc mộ chi. Nhất quốc chi sở mộ, thiên hạ mộ chi. Cổ phái nhiên đức giáo, dật hồ tứ hải, nghĩa là = Làm chính-trị không khó, đừng gây oán hận với những đại gia-tộc (những gia tộc lớn-lao đời đời làm quan). Những đại gia tộc mà mến phục thì cả nước mến phục theo. Cả nước mến phục thì cả thiên hạ mến phục theo. Cho nên đức-giáo thi hành rất rộng lớn, tràn đầy cả bốn biển.

    (2) Canh trương, sửa đổi. Tiếng đàn không điều hòa thì căng dây đàn mà sửa đổi lại.

    (3) Giả-tá, khoan-dung.


    thì trồng được cây đức, làm điều nghiêm khắc bạo ngược thì trồng được cây oán.

    Này, muốn trồng cây đức há đâu là tha kẻ có tội và làm ơn cho kẻ gian dối?

    Họ mắc vào vòng pháp-luật mà ta không có lòng bao dung hay sao? Ta nên chậm chậm suy-cứu, tinh tế xem xét tìm lối sống cho họ, nếu không được sau mới căn-cứ theo pháp-luật mà luận tội họ. Tình thương xót trắc ẩn đối với họ tràn lộ ra ở lời nói khiến họ thẹn-thùng hối cải [5a] cảm phục mà không oán viên chức giữ pháp-luật.

    Việc nghị án hoãn tử hình trong kinh Dịch, việc đã được xét thực tình thì thương xót họ và chớ lấy làm mừng mà Tăng-Tử đã nói cũng đều là ý vậy.

    Việc xử án của Tử-Cao (1): Tội bị án chặt chân quan-sát ý-tứ và nhan-sắc của Tử-Cao mà cảm kích sau khi nghe luận án, về sau đã cứu Tử-Cao để báo đáp lúc Tử-Cao bị tai ách.

    Nếu Tử-Cao không phải là người khoan hậu vốn đáng tin thì sao lại làm được như thế?

    Cho nên Tử-Cao được thánh-nhân (Khổng-Tử) khen ngợi.

    Quá cứng thì gãy, quá mềm thì hỏng. Chỉ có vừa cứng vừa mềm cho thích-hợp đều ứng-dụng mới nên.

    Khoan-dung thì dân lờn dễ, mãnh-liệt thì dân tàn khổ. Chỉ có vừa khoan-dung vừa mãnh-liệt mà thi-hành mới giỏi.


    (1) Tử-Cao, người nước Tề đời Xuân-thu, hoặc nói là người nước Vệ, họ Cao, tên Sài, tự là Tử-Cao hay Quý-Cao, học-trò của Khổng-Tử, tính người nhân hiếu.

    không nói, việc vô đạo thì không làm, nói khắp thiên-hạ mà miệng không lầm lỡ, làm khắp thiên-hạ mà không có điều oán ghét, được như thế rồi sau mới giữ-gìn được tông-miếu.

    Kẻ sĩ lấy hiếu thờ vua, lấy kính [5b] thờ người tôn trưởng, trung-thành hòa-thuận không lỗi lầm để thờ người trên trước, được như thế rồi sau mới có thể bảo-vệ lấy bổng lộc và tước vị mà giữ-gìn việc cúng tế.

    Thưởng thức hai chữ thủ (là giữ-gin) và bảo (là bảo-vệ) thì có thể nhận thấy thánh-nhân đời trước dạy người ta vui đạo để lấy thói thường mà không nói người ta làm lành để mong được phúc.

    Y-phục (áo-quần) là phần rạng-rỡ của thân-thể.

    Khổng-Tử nói: « Người quân-tử phải tề-chỉnh áo mão ».

    Án-Tử cũng nói: « Mặc y-phục không đúng lễ-nghi thì không dám vào triều ».

    Quản-Tử nói: « Tình ý trong lành thành thật đáng tin thì danh-dự được đẹp-đẽ. Tu-hành kính-cẩn thì sự tôn-trọng hiển vinh được phụ vào mình.

    Tình ý trong lòng không thành thật thì thanh-danh xấu-xa. Tu-hành mà lờn dễ thì điều ô-nhục phát-sinh ».

    Hữu-Tử (1) nói: « Sự tin cậy gần với đạo nghĩa, nói có thể phục hồi được. Sự cung kính gần với lễ-nghi, khiến mình tránh xa điều sỉ-nhục.

    Đại ý những câu nầy [6b] phù hợp nhau.

    Người quân-tử ở nước nầy, không chê bai quan đại-phu nước ấy, đó là lễ.






    (1) Hữu-Tử, tức Hữu-Nhược, học-trò của Khổng-Tử __ Nhiêm-Cầu, học-trò của Khổng-Tử cũng xưng là Hữu-Tử.

    Làm quan ở chức đài-gián (1) hẳn là không nên lấy lẽ ấy mà thối-thác việc đàn hặc chê trách quan lại. Nhưng phải trái tự nhiên đã có công-luận, thì cũng không nên chê trách càn bậy lẫn nhau.

    Nếu như không có trách-nhiệm được nói, mà trong lúc ở yên nói riêng với nhau, vui miệng khui bới những lỗi lầm của người, nói năng những điều tư riêng bí-mật của người, thì há là chỉ chuốc oán chiêu hờn mà còn là không phải cái đạo trung-hậu nữa.

    Người hiền đời xưa giữ-gìn và hành-động rất chu-đáo.

    Chương 4 thiên Tiểu-minh thuộc phần Tiểu-nhã trong kinh Thi như sau:


    [] [] [] []

    [] [] [] []

    [] [] [] []

    [] [] [] []

    [] [] [] []

    1) Ta nhĩ quân-tử!

    2) Vô hằng an xử.

    3) Tịnh cung nhĩ vị

    4) Chính trực thị dữ

    5) (Thần chi thính chi

    6) Thức cốc dĩ nhữ).




    (1) Đài-gián, quan ngự-sử chuyên việc can-gián vua và phê-bình các quan.

    (2) Nguyên bổn chỉ chép có 4 câu, chúng tôi xin chép thêm 2 câu cuối cho trọn một chương.

    Dịch nghĩa

    1) Than ôi những bậc quân tử như các bạn!

    2) Chớ nên yên ổn mãi mãi.

    3) Hãy lặng-lẽ giữ chức vụ mình.

    4) Các bạn chĩ giúp đỡ những người chính-trực mà thôi.

    5) (Thì thần thánh sẽ nghe cho,

    6) Sẽ đem phúc lộc cho các bạn).

    Dịch thơ

    Bậc làm quân-tử bạn ôi!

    Chớ nên sống mãi yên vui tốt lành.

    Lặng mà giữ chức vị mình,

    Giúp người chính trực trung-thành mà thôi.

    (Thánh thần nghe thấu được lời

    Sẽ đem phúc lộc vun bồi thưởng cho).


    Lòng mong-mỏi đối với bạn hữu thâm thiết làm sao! Sách Tả-truyện, năm thứ 7 đời Chiêu-công, có bài thơi như sau:

    [] [] [] []

    [] [] [] []

    [] [] [] []

    [] [] [] []

    1) Nhất mệnh nhi lũ

    2) Tái mệnh nhi ủ

    3) Tam mệnh nhi phủ

    4) Tuần tường nhi tẩu.


    Dịch nghĩa

    1) Lần đầu nhận mệnh-lệnh vua bổ quan thì cúi mình


    2) Lần thứ nhì thì khum lưng.


    3) Lần thứ ba thì cúi rạp xuống,


    4) Rồi noi theo tường mà chạy đi.



    Dịch thơ

    Cúi mình nhận lệnh lần đầu,

    Khum lưng nhận mệnh lần sau trung thành.

    Lần ba cúi rạp thân mình,

    Noi theo tường chạy cho nhanh kịp thời.


    Cách đối xử với mình cẩn-thận là dường nào!

    Lấy điều lành mà răn bảo nhau thì sao lại còn có [6b] lòng khuynh loát nhau hay sao?

    Được vua yêu chuộng thì như là sợ hãi, thì sao lại còn có thái-độ ham tranh đua hay sao?

    Bốn biển rộng, triệu dân đông, trời lập ra một người để thống-trị. Để giúp đỡ vị vua ấy, Trời đặt ra bầy tôi các bậc công, khanh, đại-phu, bách chấp sự. Tuy chức-vị do vua đặt, nhưng đều là do trời tuyển cả.

    Nầy, trí-thức người cao kẻ thấp, tài-năng người lanh kẻ chậm là ở phú bẩm.

    Phẩm-hạnh và tâm-thuật thật không thể không gia công xem xét.

    Công-phu chất chứa từ ổ mối đùn mà thành núi gò.

    Ở trong nhà kín mà thấy rõ từ trong triều-đình ra ngoài thôn-dã.

    Kẻ dưới thì xem xét nghe theo, người trên thì trông xuống, còn có thể lơi bỏ mảy-may hay sao?

    Lấy đoan thuần làm cội gốc, lấy cẩn-thân khoan-thứ mà giữ-gìn, lấy cung kính thận-trọng mà thi-hành, lấy công-bình mà đối xử, trong sạch mà thông suốt, ngay thẳng mà thuận hòa, siêng cần mà giản-dị yên lặng cho được thông-thường trường cửu thì tất nhiên được [7a] lòng người.

    Đã được lòng người thì hợp với ý trời, thì lòng vua tự nhiên tin cậy.

    Danh vọng và thực-tế đều về mình, phúc lành đã tụ đến thì quyền chính quốc-gia sẽ vào tay ai nữa?

    Nếu không như thế, lại chỉ lo dùng xảo trá thế lực, thích ý vỡi những cơ mưa hiểm độc để cầu sủng ái lợi lộc, thì chẳng những đã không được như chí nguyện mà nào không có hậu hoạn hay sao?

    Ở đời hẳn nhiên chưa có ai bị chê trách ở người, mắc tội đối với trời mà có thể kết niềm tri ngộ với vua để trở thành hiển quý được.

    Ba chữ thanh (trong sạch) thận (cẩn-thận) cần (siêng năng) không phải ở gốc ở bài Quan-châm của ông Lữ-Cư-Nhân đời nhà Tống, mà gốc ở ông Tư-Mã-Chiêu (1).

    Xét theo sách Tấn-thư của Vương-Ẩn (2) chép rằng: Lý-Bỉnh ngồi hầu tiên-đế, có ba vị Trưởng-sử cùng đến yết-kiến, lúc ba vị từ biệt, tiên-đế bảo: « Làm quan trưởng phải trong sạch (thanh), phải cẩn-thận (thận), phải siêng-năng (cần). Giữ được ba điều ấy lo gì mà không trị yên ».



    (1) Tư-Mã-Chiêu, người đời Tam-quốc, con thứ của Tư-Mã-Ý, tự là Tử-thượng, lúc Tào-Mao ở ngôi. đã nối theo anh là Tư-Mã-Sư làm Đại-tướng quân chuyên quốc chính, tự làm tướng quốc, được phong Tấn-công, được ban cửu tích mà giả vờ không nhận. Về sau thí vua Ngụy Tào-Mao. lập Nguyên-đế Hoán và con của Nguyên-đế là Viêm, soán ngôi nhà Ngụy Tào, tự tôn làm Văn-đế.

    (2) Vương-Ẩn, người đời Tấn, tự là Xử-thức, học rộng nghe nhiều, đầu niên-hiệu Thái-hưng được triệu làm Trứ-tác-lang, soạn sách Tấn-sử. Về sau bị gièm pha mà mất chức.

    [7b] Tiên-đế quay lại hỏi Lý-Bỉnh: « Trong ba điều ấy nếu bất đắc dĩ phải bỏ phải bỏ điều gì trước? »

    Lý-Bỉnh tâu: « Ba điều trong sạch (thanh), siêng năng (cần) và cẩn-thận (thận) nhờ lẫn nhau mà thành, nếu bất đắc dĩ thì nên bỏ cẩn-thận hơn hết, bởi vì đã trong sạch thì bất tất phải cẩn-thận, đã cẩn-thận thì bất tất phải trong sạch ».

    Tiên-đế nói: « Phải đấy. Hãy kể ra những người cẩn-thận trong đời gần đây? »

    Lý-Bỉnh kể ra mấy người.

    Tiên-đế nói: « Mấy người nầy ôn-hòa cung kính sớm tối lo giữ công việc mình một cách kín cẩn, cũng là cẩn-thận đấy. Nhưng người cẩn-thận nhất trong thiên hạ có phải là Tự-Tông (1) chăng? Ông ta chỉ nói đến những việc huyền-diệu xa-xôi, chưa từng bình-luận thời sự, khen chê các nhân-vật ».

    Lý-Bỉnh nhân đó thuật câu chuyện ấy để làm điều răn dạy trong gia-đình và nói rằng: « Phàm người làm việc, tuổi trẻ lập thân không thể nào không cẩn-thận, chớ khinh suất bình-luận ai, chớ khinh suất nói việc gì, thì sự hối tiếc sẽ không do đâu mà sinh ra được ».

    Khuất-Bình (2) vâng lịnh vua làm hiến lịnh, bản sơ cảo (bản nháp) chưa xong thì thượng quan đại-phu thấy được và muốn đoạt lấy.

    [8a] Khuất-Bình không cho, Thượng quan đại-phu gièm pha với vua rằng:



    (1) Tự-Tông tức là Nguyễn-Tịch đời Tam-quốc, tự là Tự-Tông, làm một trong Trúc-lâm thất hiền (đã chú ở trước).

    (2) Khuất-Bình tức là Khuất-Nguyên, đã chú ở trước.

    _ Mỗi lần vua ra lịnh sai làm, Khuất-Bình liền tự khoe công mình, bảo rằng: «Không có ta thì không ai làm được ».

    Nhà vua do đó xa ghét Bình. Thái-độ hay khuynh hãm người của kẻ tiểu-nhân hẳn là không đáng bàn đến.

    Nhưng phải làm sao để mưu tính cho Khuất-Bình?

    Cái lỗi của Khuất-Bình là cho người ta thấy bản sơ cảo.

    Phần Hệ-từ thượng trong kinh Dịch chép: Quân tử thận mật nhi bất xuất [] [] [] [] [] [] []. Nghĩa là: Người quân-tử thận-trọng cẩn-mật mà không để lậu ra ngoài (1).

    Khi suy định pháp lịnh phải sáng ý để tâm, thẩm xét tường tận đôi ba lần, hễ đã làm xong thì tiến dâng lên, sao lại đem bản sơ cảo cho người ta thấy trước, khiến cho họ sinh lòng? Họ đã thấy mà muốn đoạt lấy thì thật có điều khó xử: Nếu không cho họ thì sinh ra hiềm oán. Còn cho họ thì lấy gì mà tâu báo lên vua? Nếu mời họ cùng làm với mình rồi đem dâng lên vua thì còn có thể được, nhưng cũng phải là cái đạo đứng đắn.

    Người lão thành giữ lòng thường bình dị, biện-luận thường nông cạn, nhưng [8b] đạo-lý thật không thể hơn thế được.

    Người thiếu-niên đầy hào khí thường thích những việc đầy khó-khăn sâu hiểm mà đặt hy-vọng sâu xa, chưa có vì ích lợi


    (1) Nguyên câu trong phần Hệ-từ thượng trong kinh Dịch là: Tử viết: « Loạn chi sở xinh dã tắc ngôn ngữ dĩ vi giai. Quân bất mật tắc thất thần Thần bất mật tắc thất thân. Cơ sự bất mật tắc hại thành. Thị dĩ quân tử thận mật nhi bất xuất dã » == Khổng-Tử nói: « Loạn sở dĩ sinh ra chỉ do lời nói đưa đến. Vua mà không cẩn-mật thì mất bề tôi. Bề tôi không cẩn-mật thì mất tấm thân. Cơ sự không cẩn-mật thì thành tai hại. Cho nên người quân-tử thận-trọng cẩn-mật mà không để lậu ra ngoài ».
  • Đang tải...