31.03 - LQL (type done)

28/8/15
31.03 - LQL (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-aWVDVUdqT3lYNDQ/view?pli=1



    gì mà đã chuốc điều hối tiếc rồi sau nghĩ lại mới thấy kiến-thức của bậc lão thành thật là không thể theo kịp

    Ban-Siêu (1) nói với Nhâm-Thượng rằng: “Tính của ông nghiêm-khắc nóng-nảy, nước trong thì không có cá (2), cho nên xem xét việc chính không dung-hòa với kẻ dưới. Phải rộng-rãi thênh-thang giản-dị khoan-dung những điều nhỏ-nhặt, chỉ gồm giữ đại-cương mà thôi”.

    Nhâm-Thượng lui về nói với người ta rằng: “Tôi mới đầu cho là Ban-quân (Ban-Siêu) phải có mưu sách lạ kỳ, nay lời của ông ta nói chỉ tầm thường mà thôi”.

    Nhâm-Thượng về sau sở dĩ thất bại, lỗi chính vì thế.

    Công-hiệu nhân sự việc mà nhận thấy chớ không nên có ý dự định trước.

    Quân Hung-Nô phá hại việc thông khoản và dâng cống của Tây-vực. Tuy có kế sách lạ kỳ cũng không làm sao thi-hành được.

    Ở trong thì mất lòng người Di thì còn mưu đồ việc ngoại trị nữa hay sao ?

    Ban-Siêu tuy tầm thường không có mưu kỳ nhưng mà về sau lập được kỳ công.

    Còn Nhâm-Thượng trước đã chuộng [9a] lạ cho nên rốt cuộc không thể lập nên công lạ.



    [​IMG]

    (1) Ban-Siêu, người ở đất An-lăng đời Đông-Hán, con của Ban-Bưu, lúc trẻ viết thuê nuôi mẹ, rồi ném bút theo đuổi việc quân, trong thời vua Minh-đế, đánh phá Tây-vực khiến hơn 50 nước ở Tây-vực đều nạp cống nội-thuộc, được làm Tây-vực đô-hộ, phong Định-viễn-hầu, ở Tây-vực 31 năm, lúc tuổi già mới trở về mà mất.

    (2) Thủy thanh vô ngư, nước trong thì không có cá, vì cá không thể dung thân. Người trên xem xét quá nghiêm-khắc thì không dung được kẻ dưới.


    Những ai có chí về công danh lại có thể không xem gương ấy hay sao ?

    Bính-Cát (1) gởi thơ cho Ngụy-Tướng (2) nói rằng: “Triều-đình đã biết sâu xa đức hạnh cai-trị của Nhược-ông tiên-sinh (Ngụy-Tướng tự là Nhược-ông), sẽ dùng tiên-sinh làm chức to, mong tiên-sinh bớt cẩn-thận công việc và tự trọng, hãy cất giấu đồ dùng trong thân mình, đợi thời mà hoạt-động” (3).

    Ngụy-Tướng trong lòng cho là phải và dứt tính uy-nghiêm.

    Quản-Ninh (4) nói với Bính-Nguyên (5) rằng: “Con rồng

    [​IMG]

    (1) Bính-Cát, người ở nước Lỗ đời Hán, tự là Thiếu-Khanh, làm chức giữ ngục ở nước Lỗ rồi thăng đến chức đinh-úy, khi vua Tuyên-đế lên ngôi, được ban tước Quan nội hầu, thay Ngụy-Tướng làm Thừa-tướng, được phong Bác dương hầu, có tính che giấu điều lỗi của người và nêu điều hay của người, được người đời gọi là quan Tể-tướng hiền tài.

    (2) Ngụy-Tướng, người ở đất Định-đào đời Hán, tự là Nhược-ông, lúc trẻ học Dịch, đầu tiên ra làm chức lịnh ở Mậu-lăng được khen là đại trị, được đổi làm Thái-thú ở Hà-nam, về sau được làm Thừa-tướng, cùng phụ-chính với Bính-Cát, được người đời khen ngợi.

    (3) Tành khí ư thân. Phần Hệ-từ hạ truyện trong kinh Dịch có câu: Tử viết: “Chuẩn giả cầm dã, cung thỉ giả khí dã, xạ chi giả nhân dã. Quân tử tàng khí ư thân, đãi thì nhi động, hà bất lợi chi hữu? Nghĩa là = Khổng-Tử nói: Diều-hâu là loài chim, cung tên là đồ dùng, kẻ bắn diều-hâu là người ta. Người quân-tử giấu cất đồ dùng ở trong mình, đợi thời mà hoạt-động thì sao lại có việc bất lợi được?

    (4) Quản-Ninh, người ở Chu-khư nước Ngụy đời Tam-quốc, tự là Ấu-an, dốc chí học tập. Cuối đời Hán, giặc Hoàng-cân làm loạn, Quản-Ninh ẩn tránh ở Liêu-đông, người đi theo rất nhiều, trong mười ngày lập thành ấp, Quản-Ninh giảng giải kinh Thi kinh Thư, giặc yên, trở về kinh-đô, được triều-đình lắm lần triệu ra làm quan, nhưng ông từ chối.

    (5) Bính-Nguyên, người ở Chu-khư đời Đông-Hán, tự là Căn-củ, lúc trẻ có tiết-tháo, tránh loạn Hoàng-cân, cư-ngụ ở Liêu-đông, giặc yên trở về quê, về sau thờ Tào-Tháo.

    ở dưới vực sâu nhờ không hiện lên mà thành đức tốt. Nói không phải lúc đều là đường lối chuốc lấy tai họa”.

    Bính-Nguyên nghe theo, rốt cuộc thành danh tiếng tốt.

    Đó chẳng phải là bằng hữu có ích hay sao?

    Chức-vị của Khước-Chi (1) ở dưới bảy người mà muốn khuất lấp người trên.

    Triệu-Do làm chức thú thì khinh dễ chức úy, khi làm chức úy, thì lấn lướt chức thú.

    Gia-cát-Khác (2), ý thì muốn lấn người trên, khi thì muốn trùm kẻ dưới.

    Những vị nầy đều bị người hiểu biết [9b] chê cười mà rốt cuộc đều bị đổ vỡ thất-bại, thật là đúng.

    Tiêu-Vọng-Chi (3) là người quân-tử trì-trọng (4) làm á-tướng (phó tể-tướng) thường tâu nói: “Âm dương không đúng thời tiết, lỗi tại kẻ hạ thần”.

    Ông tâu như thế chẳng qua hơi có ý lấy việc điều hòa âm dương (5) làm trách-nhiệm của mình.

    [​IMG]

    (1) Khước-Chí, người nước Tấn đời Xuân-thu, trong thời Cảnh-công, làm Ôn đại-phu. Trong thời Lê-công, nước Tấn nước Sở đánh nhau ở Yên-lăng, Khước-Chí bày mưu đánh bại được quân Sở. Về sau ông bị giết.

    (2) Gia-cát-Khác, người nước Ngô đời Tam-quốc, con của Gia-cát-Cẩn, tự là Nguyên-tốn, trong đầu niên-hiệu Kiến-hưng được phong Dương-đô hầu, bị Tôn-Tuấn giết.

    (3) Tiêu-Vọng-Chí, người ở đất Lan-lăng đời Hán, dời về ở Đỗ-lăng, ham học nghe nhiều, trong thời vua Tuyên-đế, làm quan đến chức Thái-tử Thái-phó, khi vua bịnh nguy kịch, nhận di chiếu phò ấu chúa (Nguyên-đế), về sau bị bọn Thạch-Hiền hãm hại, phải uống thuốc độc mà chết.

    (4) Trì-trọng, giữ lấy đạo nghĩa không dời đổi khí tiết.

    (5) Tiếp lý [ ], điều hòa âm dương.

    Nhà vua lại cho là Tiêu-Vọng-Chí có ý khinh quan Tể-tướng, bèn bãi việc chính của ông, đổi làm tướng-quân, rốt cuộc không cho giữ việc cơ yếu nữa.

    Thế thì một lời nói, quan khanh đại-phu có thể không kính cẩn được sao?

    Phạm-Vũ-Tử (1) là quan đại-phu hiền tài nhất của nước Tấn, được Triệu-Văn-Tử (2) khen ngợi là người không quên vua không sót bạn.

    Quan Lịnh-doãn nước Sở hỏi đức hạnh của Phạm-Vũ-Tử. Văn-Tử cũng đáp rằng: “Việc nhà của phu-tử rất yên trị, tin-tưởng vào quỷ thần, lời thù-tiếp không có gì phải thẹn”.

    Xem sách Quốc-ngữ thấy chép: Phạm-Văn-Tử (con của Phạm-Vũ-Tử) ở triều về [10a] muộn. Phạm-Vũ-Tử hỏi:

    - Sao về trễ thế ?

    Phạm-Văn-Tử thưa:

    - Có khách nước Tần ra câu hỏi khó (3) ở triều-đình, các qua đại-phu giải đáp không được. Con biết được ba câu.

    Vũ-Tử nổi giận la rằng:

    - Các quan đại-phu không phải không giải đáp được, họ nhường cho các phụ-huynh đấy thôi. Ngươi là con nít biết gì mà dám che lấp người ba lần ở triều-đình ?

    [​IMG]

    (1) Phạm-Vũ-Tử, quan đại-phu nước Tấn ở đời Xuân-thu.

    (2) Triệu-Văn-Tử, tức Triệu-Mạnh, tên thụy là Văn-Tử, làm quan đại-phu nước Tấn đời Xuân-thu, trong thời vua Binh-công, làm quan chính khanh, tiến dụng hiền thần, người nước Tấn khen ông là biết người.

    (3) Ở chỗ này nguyên văn chép không rõ, chúng tôi đọc không ra, tra tự-điển không thấy, chúng tôi hiểu đại ý câu chuyện mà dịch như thế này cho hợp lý.

    Ta mà không còn thì nước Tấn mất không biết ngày nào.

    Do đó cái nết cung kính lễ độ khiêm nhường của Phạm-Vũ-Tử có thể thấy được.

    Trong chiến-dịch ở Yên-lăng, quân nước Kinh đàn-áp quân nước Tấn, các chức lại trong quan lo ngại sắp bàn mưu với nhau. Phạm-Cái (con của Phạm-Văn-Tử) từ công-tộc đi ngang qua nói: “Dẹp bếp lấp giếng chẳng phải là rút lui thì còn gì nữa?”.

    Phạm-Văn-Tử cầm cây giáo đuổi theo Phạm-Cái la rằng: “Con nít mà biết gì? Chưa hiểu tới mà nói là đứa gian. Tao phải giết ngươi”.

    Như thế hà rằng Phạm-Văn-Tử không chịu sự giáo-dục trong gia-đình của Phạm-Vũ-Tử hay sao?

    Viên-An (1) đời nhà Hán chưa từng tra khảo ai về tội tham-lam lấy trộm. Quan sử-thị khen Viên-An có lòng nhân, đủ để cho con [10b] cháu nối kế được lâu dài.

    Hàn-Ức (2) đời nhà Tống không thích lượm lặt những

    [​IMG]

    (1) Viên-An, người ở đất Nhữ-dương đời Đông-Hán, tự là Thiệu-công, là người nghiêm-nghị thận-trọng có uy-tín, lúc chưa làm quan, ở Lạc-dương xuống tuyết to, người ta phần nhiều đi xin ăn, chỉ có một mình Viên-An nằm mãi không đi cam chịu đói. Quan lịnh ở Lạc-dương thấy thế cho là người hiền, bèn tiến cử làm hiếu-liêm. Trong niên-hiệu Vĩnh-binh, Viên-An được trao chức Sở-quận Thái-thú. Lúc ấy gặp Sở-vương Anh mưu phản, liên lụy đến hàng ngàn người bị bắt. Viên-An đến quận tra xét việc hình á, trả tự do cho hơn 400 nhà. Ông được thăng những chức Thái-bộc, Tư-đồ. Trong thời vua Hòa-đế, họ Đậu chuyên quyền, Viên-An không a-dua, đàn hặc hài tội không sợ uy-quyền, vua và các đại-thần đều nhờ dựa vào ông.

    (2) Hàn-Ức, người ở Ung-khâu đời Tống, tự là Tống-ngụy, đỗ tiến-sĩ làm quan có tiếng về thành-tích cai-trị, trong thời vua Nhâm-tông, làm đến chức Thượng-thư Tả-thừa, làm chức Thái-tử Thiếu-phó thì về hưu. Tính của ông đứng-đắng trang-trọng, gìn-giữ gia-đình rất nghiêm, thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Ông có 8 người con đều quý hiền.

    lỗi lầm nhỏ mọn của người. Người quân-tử biết rằng dòng dõi về sau tất sẽ lớn-lao.

    Con cháu của Viên-An bốn đời làm năm tước công.

    Tám người con của Hàn-Ức có ba người lên đến chức công-phụ (1). Các cháu của ông đều thi đỗ làm đến chức thị-tụng.

    Đức hạnh cao dầy thì được báo đáp như thế.

    Sách Thế-thuyết chép: Lưu-Đàm (2) đời Tấn đi với Vương-Mông (3), cùng đói giữa đường. Có người dân mọn cho ăn. Lưu-Đàm từ-khước không ăn. Vương-Mông hỏi tại sao? Lưu-Đàm đáp: “Không thể gây duyên hệ với người dân mọn được”.

    Việc nầy đủ thấy người hiền đời Tấn cẩn-thận ở việc thù-tiếp.

    Sách Thái-ngôn của người nhà Đường nói về cách xử thế của người làm kẻ sĩ:

    I. – Nghe nhiều thấy ít, hình tích thì lặng mà tâm lòng thì động, cúi đầu, mắt ngó thẳng mà trong bụng không có điều uất giận.

    II. – Dáng mạo cẩn trọng, tính khí hòa hoãn, thấy mặt thì ít, nghe tiếng thì nhiều. Có sáu điều đáng [11a] kiêng kỵ nhất:

    [​IMG]

    (1) Công-phụ, tức là chức tam-công và tứ-phụ. Tam-công là những chức Thái-sư, Thái-phó và Thái- bảo. Tứ-phụ là những chức Tiền-nghi, Hậu-thừa, Tả-phụ và Hữu-bật.

    (2) Lưu-Đàm, người đời Tấn, tự là Chân-trường, trong thời vua Giản-văn đế, làm chức lịnh ở Đan-dương.

    (3) Vương-Mông, người ở Tấn-dương đời Tấn, tự là Trọng-tổ, cha của Ai-tĩnh Hoàng-hậu, lúc trẻ phóng túng, lúc già sống khắc-khổ, làm quan đến chức Tư-đồ, Tả trưởng sử.

    (1) Đến nhà học-trò mình hay bạn thi đỗ cùng một năm với mình để cầu xin cho người nhà thi đỗ.

    (2) Cầu xin nhà sư tiến cử.

    (3) Khoe-khoang với người ta rằng họ hàng bên nội bên ngoại của mình làm quan to.

    (4) Khoe-khoang đã làm khách đi xa.

    (5) Thích người ta dâng biếu đồ ăn đồ uống.

    (6) Là người không dùng vào việc gì được cả.

    Phạm-Tổ-Vũ (1) nói: “Ngày trước con em đi làm quan, có người xin thơ giới-thiệu của Phạm-Thục-Công. Phạm-Thục-Công không cho mà nói rằng: “Trong đường làm quan, không nên rộng cầu người ta biết. Chịu ơn nhiều thì đứng trong triều thật khó”.

    Lưu-Đại-Hạ (2) đời nhà Minh nói: “Trong đường làm quan chớ nên giao-thiệp rộng-rãi. Người quen biết chỉ vài ba bằng hữu đắc-lực thì cũng đủ một đời rồi”.

    Ý lời nầy rất sâu-xa.

    Sách Tạp-chí của Trương-Lỗi đời Tống chép: Tiền-Văn-Mục thường nói: “Ba đời làm quan mới biết mặc áo ăn cơm”.

    [​IMG]

    (1) Phạm-Tổ-Vũ, người đời nhà Tống, tự là Thuần-phu, đỗ tiến-sĩ, theo Tư-mã-Quang soạn sách Tư trị thông giám. Khi sách nầy viết xong dâng lên, ông được trao chức Bí-thư chính tự, khi vua Tiết-tông lên ngôi, được thang chức Cấp-sự trung. Bình sinh ông không kể lỗi của người. Ông có viết sách Thái-sử tập.

    (2) Lưu-Đại-Hạ, người đời nhà Minh, con của Lưu-Nhân-Trạch, tự là Thì-ung, trong niên-hiệu Thiên-thuận đỗ tiến-sĩ làm quan chức Phương-lang trung, thông hiểu việc binh, vì bịnh mà trở về, dựng ngôi nhà lá ở dưới núi Đông-sơn để đọc sách, người đời gọi là Đông-sơn tiên-sinh, về sau triều-đình tiến-cử làm Binh-bộ Thượng-thư được vua Hiếu-tông tín nhiệm, khi vua Vũ-tông lên ngôi, xin về hưu.

    [11b] Tô Thị-lang nói: “Mỗi khi thấy sách phủ (1) mời khách, xem việc phân biệt các hạng người thì đủ thấy chính sự”.

    Trao chức quan ở triều-đình, tạ ơn ở tư-gia, tuy vốn mình không có lòng cầu cạnh mà Dương-Thúc-Tử đã chê, huống chi vừa đợi bổ làm quan mà trước đã đến bái yết thì oen-ố danh-tiết là dường nào?

    Như Trương-Sư-Đức (2) hai lần đến nhà Vương-Đán (3) bị Vương-Đán khinh bạc.

    Tôi thường lấy làm ngờ về chuyện nầy: Chức vị Tể-tướng là để tiến-cử người hiền tài, há có thể ngày thường không tiếp kẻ hậu tiếp để hỏi-han học-thuật và công-nghiệp của họ, xem xét ngôn-ngữ và hành-động của họ?

    Ông Chu-công (4) đã nhả cơm nắm tóc (5) để tiếp

    [​IMG]

    (1) Sách phủ, chỗ chứa sách.

    (2) Trương-Sư-Đức, người đời Tống, con của Trương-Khứ-Hoa, tự là Thượng-hiền, đỗ tiến-sĩ, làm quan Tả gián nghị đại phu, có viết Văn-tập.

    (3) Vương-Đán, người đời Tống, con của Vương-Hựu, tự là Tử-minh, trong niên-hiệu Thái-bình hưng-quốc đỗ tiến-sĩ, trong thời vua Chân-tông, được cất nhắc làm Tri khu mật viện, thăng Thái bảo, tiến dẫn triều sĩ mà không cho ai biết. Ông rất tiếc cho Trương-Sư-Đức, người có sĩ hạnh, con nhà danh gia, vì bôn cạnh đã hai lần đến nhà ông mà không được tiến-cử. Khi mất, ông được phong Ngụy-quốc-công.

    (4) Chu-công, họ Cơ, tên Đán, em của Chu Vũ-vương, chú của Chu Thành-vương. Khi Vũ-vương băng, Thành-vương còn bé, Chu-công nhiếp chính. Bị ba người em nghi-kỵ, bày lời đồn-đãi không hay, Chu-công lánh ở phía đông làm bài Si-hiếu tặng cho Thành-vương. Thành-vương tỉnh ngộ rước Chu-công trở về triều. Ba người em sợ hãi xúi Vũ-Canh, dòng-dõi nhà Ân làm phản. Thành-vương sai Chu-công đem binh đánh dẹp, giết Vũ-Canh và ba người em. Về sau Chu-công dựng Lạc-ấp làm Đông-đô.

    (5) Nhả cơm nắm tóc, chữ là thổ bộ ác phát. Sách Hàn thi ngoại truyện chép lời của Chu-công nói với Bá-Cầm (con của Chu-công được phong ở nước Lỗ):… “Ta một lần đi tắm thì ba lần cầm tóc, một lần ăn cơm thì ba lần nhả ra để gắp ra tiếp-kiến hiền-sĩ, thế mà còn sợ mất hiền-sĩ trong thiên-hạ”.

    không phải chỉ có một kẻ sĩ đến viếng ông.

    Há rằng những người đến yết-kiến ta đều có điều cầu cạnh ở ta đâu?

    Đến khi xem bài Bút-lục của Vương-Tăng (1) thấy chép như sau:

    Vương-Đán ở tòa Trung-thư thường nhân lúc tâu việc có nói đến tên họ một vị quan lang ở sảnh. Vương-Đán tâu:

    - Hạnh-kiểm lý-lịch tài-cán của người ấy đều có thể chọn lấy. Người ấy hiện nay vừa nắm giữ chức vụ ở quận. Nên [12a] tạo thành và cất nhắc cho người ấy.

    Ông (Vương-Đán) và các quan đồng liệt vốn đã hiểu biết người ấy là người như thế nào rồi, cho nên nhân đó cùng tiến-cử người ấy.

    Từ đó khen thưởng người ấy luôn, lại ghi chép thành-tích cho người ấy nữa, để ngày người ấy trở về kinh liền khiến quan chuyển-vận sứ (2) thong-thả đề nghị riêng để thăng chuyển.

    Thế rồi khi người ấy trở về đến cửa khuyết, lại xét ghi cho người ấy trước nhất.

    Gặp lúc bấy giờ đang lo tính các khuyết quan ở ngoài, Vương-Đán liền cùng các quan đồng liệt suy xét và quyết-

    [​IMG]

    (1) Vương-Tăng, người ở đất Ích-đô đời Tống, tự là Hiếu-tiên, trong niên-hiệu Hàm-bình, ở bậc Hương-cống ứng đình thí, đỗ hạng nhất, trong thời vua Nhân-tông, làm quan Trung-thư thị lang, Đồng trung thư môn hạ bình-chương sự, được phong Nghi quốc công, làm phán quan ở Vận-châu.

    (2) Chuyển-vận sứ, chức quan do nhà Đường đặt ra, rồi nhà Tống noi theo, lúc đầu giữ việc chuyển-vận quân-nhu lương-hướng theo đường thủy đường bộ, chẳng qua là trách-nhiệm của tào-thần, cho nên cũng gọi là tào-ty, về sau giữ luôn việc biên phòng, trộm cướp, thưa kiện, tiền gạo.

    định tên họ quan chức để bổ-khuyết, cùng hẹn với nhau ngày hôm sau sẽ tâu bổ cho người ấy.

    Chiều đến khi Vương-Đán trở về nhà riêng, người ấy đến đưa danh-thiếp xin yết-kiến. Ông vừa đề-nghị, liền từ-chối không cho gặp.

    Khi đến triều-đình vào chầu vua, Vương-Đán kể hết đầu đuôi câu chuyện cho vua nghe và xin trao chức chuyển-tào (1) cho người ấy.

    Vua im lặng và không cho.

    Vương-Đán lui về than thở và sợ hãi luôn mấy ngày, mới nói rằng: “Chiều ngày qua khi người ấy đến xin yết-kiến, tuy ta không có gặp, nhưng đã cho người mật thám dò xét”.

    Thế rồi người ấy đến thời vua Chân-tông vẫn không được trọng dụng.

    Ông không muốn chỉ rõ tên họ của người ấy [12b] và thường răn dạy các quan đồng liệt rằng: “Nỗi hiềm-nghi về việc yết-kiến riêng phải cẩn-thận mà kiêng tránh ngõ hầu khỏi phải hối tiếc.”

    Triều nhà Tống xem xét rất tinh-tế cẩn-mật hành-tung của các quan sĩ đại-phu, một hành-động rất quan-hệ đến danh-dự tiết tháo khi lập thân, mà người cầm quyền tiến-cử nhân-tài phải làm tan mất hết hình-tích để tránh xa việc hiềm-nghi.

    “Bề tôi không cẩn-mật thì mất thân mình”, đó là lời răn dạy sâu xa của Khổng-Tử (2)

    [​IMG]

    (1) Chuyển-tào, chuyển-vận quân-nhu lương-hướng theo đường thủy đường bộ.

    (2) Khổng-Tử nói: “Vua không cẩn-mật thì mất kẻ bề tôi. Bề tôi không cẩn-mật thì mất thân mình”.