31.04 - LQL (type done)

28/8/15
31.04 - LQL (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-dG9GMkZ5RC1yeGc/view?pli=1



    Sử truyện đã ghi chép rõ-ràng để làm gương không phải chỉ có một truyện. Xin lược cử vài việc sau đây:

    - Sư-Đan (1) sai viên lại viết tờ tấu. Viên lại chép riêng bản thảo truyền xuống, con em nghe được sai người tố-cáo tội của ông. Vì thế ông bị miễn chức Tể-tướng.

    - Trương-Thương-Anh (2), về những việc gì phải làm đều trước hết đọc lên ở công-đường. Những người bị trở ngại đều được tham-dự mưu tính. Cuối cùng Trương-Thương-A b vì bị gièm siễm mà bị đuổi.

    Đó còn là những chuyện phù-phiếm nhỏ-nhặt. Lại nói bậc đại-thần bàn luận việc lớn-lao, quan hệ rất nặng-nề mà không cẩn-mật:

    - [13a] Kinh-Phòng (3) thường nói: “Thấy Thạch-Hiển (4) sau mỗi lần ra ngoài liền kể những lời vua nói cho cha vợ là Trương-Truyện nghe”.

    [​IMG]

    (1) Sư-Đan, người ở đất Đông-vũ đời nhà Hán, tự là Trọng-công, chuyên kinh Thi, thi đỗ Hiếu-liêm làm chức lang, làm quan đến chức Đại-tư-không, được phong Cao-lạc-hầu, vì can-gián nghịch với vua Ai-đế mà bị miễn chức, khi vua Binh-đế lên ngôi, được khen là trung-thanh, được phong Nghĩa-dương-hầu.

    (2) Trương-Thương-Anh, người đời Tống, em của Trương-Đườg-Anh, tự là Thiên-giác, hiệu là Vô-tận cư-sĩ, trong niên-hiệu Đại-quan, làm chức Thượng-thư Hữu bộc-xạ.

    (3) Kinh-phòng, người ở Đốn-khâu đời Hán, tự là Quân-minh, vốn họ lý, suy luật tự định họ Kinh, biết âm-nhạc, chuyên kinh Dịch, thuyết của ông giỏi về tai-biến, học với Tiêu-Diên-Thọ, về sau đỗ hiếu-liêm làm chức lang, ra làm Ngụy-thái-thú, bị Thạch-Hiển gièm pha mà bị giết. Ông có viết sách Kinh thị Dịch truyện.

    (4) Thạch-Hiển, người ở đất Tế-nam đời Hán, tự là Quân-phòng, mắc tội bị cung-hình, làm chức Trung hoàng môn, trong đời vua Nguyên-đế, thay Hoằng-Cung làm Trung-thư lịnh. Vua đau, bao nhiêu việc chính lớn nhỏ đều do Thạch-Hiển quyết định, khi vua Thành-đế lên ngôi, ông đổi làm Trường-tín trung thái bộc, mất quyền bị các quan tố-cáo những tội ác xưa, bị mất chức trở về quê, không ăn uống, dọc đường bị bịnh mà mất.

    Thạch-Hiển biết việc ấy. Họ cùng bị mắc tội.

    - Tề-Hoãn (1) đời Đường nói: “Vương-Mao-Trọng (2) ắt có điều gian”.

    Vua Huyền-tông khen phải và nghe theo.

    Tề-Hoãn tiễn quan Đại-lý thừa là Ma-sát có kể những lời can-gián của mình đối với vua. Ma-Sát liền kể tội ấy tâu lên.

    Vua giận trách Tề-Hoãn không cẩn-mật.

    Tề-Hoãn và Ma-Sát đều bị biếm chức đưa ra Lĩnh-nam.

    - Lý Thiếu-Lương (3) nói Nguyên-Tải (4) ăn hối lộ.

    Vua Đại-tông để tờ cáo-trạng ở nhà Khách-sảnh.

    Lý-Thiếu-Lương đem những lời của vua nói cho người bạn là Đương-Tụng nghe.

    [​IMG]

    (1) Tề-Hoãn, người ở đất Nghĩa-phong đời Đường, tự là Tầy-tâm, có tài giúp vua, đỗ tiến-sĩ, làm ngự-sử, trong niên-hiệu Khai-nguyên thăng chức Trung-thư xá-nhân, những việc lớn-lao ở triều-đình đều phải hỏi ông, cho nên ông được gọi là Giải-sự xá-nhân, ông mất ở chức Bình-dương Thái-thú.

    (2) Vương-Mao-Trọng, người Cao-ly đời Đường, thờ vua Huyền-tông lúc ở Đông-cung, có công được phong Phụ-quốc đại-tướng quân, đã đắc chí, lại xin làm Binh-bộ Thượng-thư, vua không cho, về sau vua xuống chiếu bảo phải thắt cổ tự sát.

    (3) Lý-Thiếu-Lương, người đời Đường, làm quan đến chức Điện trung Thị-ngự-sử, giận Nguyên-Tải làm điều phi-pháp, dâng sớ luận tội Nguyên-Tải, nhưng bị Nguyên-Tải mưu hại.

    (4) Nguyên-Tải, người ở đất Kỳ-sơn đời Đường, tự là Công-phụ, hiểu rõ văn của Trang-Tử, Lão-Tử và Liệt-Tử, đầu niên-hiệu Thiên-bảo làm chức Đồng trung thư môn hạ Bình-chương sự, khi vua Đại-tông lên ngôi, làm Trung-thư thị-lang, chuyên quyền, cho các con ăn hối-lộ, bài xích kẻ trung-lương, vua đã giới răn mà không hối-cải, vua ra lịnh phải tự sát.

    Quan Thị-ngự-sử là Lục-Đỉnh báo cho Nguyên-Tải biết và tâu lên vua.

    Vua cho là Lý-Thiếu-Lương, Đương-Tụng và Lục-Đỉnh gây xa lìa giữa vua và tôi. Họ đều bị đánh trượng mà chết.

    - Vua Chân-tông (998 – 1022) nhà Tống muốn lập Thái-tử cho coi việc nước. Khấu-Chuẩn (1) tán thành việc ấy, lại bảo Đinh-Vị (2) và Tiền-Duy-Diễn (3) là nịnh-thần không thể thiên chuyển cho giúp thiếu-chúa.

    Vua cho là phải.

    [​IMG]

    (1) Khấu-Chuẩn, người đời Tống, tự là Bình-Trọng, lúc trẻ thông-minh hơn người, học thông Xuân-thu tam truyện, trong thời vua Thái-tông đỗ tiến-sĩ, làm chức Khu-mật viện Trực-học-sĩ, thường tâu việc ở trong viện, lời nói không hợp ý vua, vua giận đứng lên, ông liền níu áo vua xin vua ngồi lại, giải-quyết xong công việc mới lui ra, trong thời vua Chân-tông, làm đến chức Đồng binh chương sự, Khi rợ Khiết-đan vào cướp, ông rước vua thân chinh, vua nghe theo, xa giá thân chinh đi đến Thiền-châu, bao nhiêu việc binh đều giao cho Khấu-Chuẩn. Khấu-Chuẩn hiệu-lịnh nghiêm-minh, quân-sĩ ưa thích hăng-hái, rồi bãi binh trở về. Khấu-Chuẩn tự khoe công-trạng, về sau bị Vương-Khâm-Nhược gièm pha mà bị bãi chức Tể-tướng. Trong niên-hiệu Thiên-hy, ông được phục chức Tể-tướng, được phong Lại-quốc-công, lại bị Đinh-Vị gièm siễm phải biếm ra Nhai-châu làm Tư-hộ Tham-quân.

    (2) Đinh-Vị, người ở đất Trường-châu đời Tống, tự là Công-ngôn, giảo hoạt hiểm độc hơn người, khéo nói đùa cho vui cười, thích làm thơ ; hội họa, âm luật, cờ bạc đều thông hiểu, trong niên-hiệu Thuần-hóa đỗ tiến-sĩ, dưới triều vua Chân-tông, Khấu-Chuẩn làm Tể-tướng, Đinh-Vị làm Tham-chính, được phong Tấn quốc công, thường mưu hại Khấu-Chuẩn, khiến Khấu-Chuẩn bị bãi chức. Khi vua Nhân-tông lên ngôi, Đinh-Vị bị biếm ra Nhai-châu và dời qua Đạo-châu.

    (3) Tiền-Duy-Diễn, người ở đất Lâm-an đời Tống, tự là Hy-thánh, bác học, văn-chương thanh tao đẹp-đẽ, theo cha là Ngô-Việt vương Xúc về với nhà Tống, mới đầu làm Hữu thần vũ tướng quân, dưới triều vua Chân-tông làm Hàn-lâm học-sĩ, thăng Công-bộ Thượng-thư, dưới triều vua Nhân-tông làm Khu-mật sứ, mới đầu phụ theo Đinh-Vị để hại Khấu-Chuẩn cho bị bãi chức, khi Đinh-Vị sắp bị tội thì bỏ Đinh-Vị để tự giải cứu, mất ở chức Sùng-tin quân Tiết-độ sứ.

    Thế rồi về sau Khấu-Chuẩn say rượu nói lậu việc ấy ra. Đinh-Vị hay biết, thừa thời cơ gièm siễm Khấu-Chuẩn với vua.

    Khấu-Chuẩn bị biếm (giáng chức) đưa ra Đạo-châu.

    - Vua Anh-tông (1436 – 1449) nhà Minh [13b] chán ghét Tào-Cát-Tường (1) và Thạch-Hanh (2) chuyên quyền. Nhạc-Chính (3) cũng nói như thế. Vua cho là phải.

    Nhạc-Chính đến nhà hai người Tào-Cát-Tường và Thạch-Hanh, bảo hai người phải sớm thôi dứt chuyên quyền, nếu không thì vua sẽ nghi-ngờ.

    Hai người liền vào triều khóc-lóc và tâu bày việc ấy.

    Vua bảo: “Không hề có việc ấy”.

    Về sau vua hỏi ra biết là do Nhạc-Chính nói. Vua giận Nhạc-Chính lậu chuyện, đày Nhạc-Chính ra biên-giới.

    [​IMG]

    (1) Tào-Cát-Tường, người đời Minh, cùng Thạch-Hanh đem quân rước vua Anh-tông trở lại ngôi báu, làm quan đến chức Tư-lễ Thái-Giám, quyền thế ngang hành với Thạch-Hanh, về sau mưu phản bị giết.

    (2) Thạch-Hanh, người đời Minh, giỏi nghề cỡi ngựa bắn cung, nối chức của cha làm Khoan hà vệ chỉ huy thiêm-sự, trong niên-hiệu Chính-thống, được thăng Đô-đốc thiêm-sự. Khi vua Anh-tông đi tuần thú miền bắc, ông lập được nhiều kỳ công, đánh ở đâu thì không ai địch nổi, làm quan đến chức Trấn sóc đại tướng quân, phong Vũ-thanh hầu, khi vua Cảnh-đế lâm bịnh, cùng với Tào-Cát-Tường mưu rước vua Anh-tông trở lại ngôi báu, được ban tước Trung quốc-công.

    (3) Nhạc-Chính, người đời Minh, tự là Quý-phương, tự hiệu là Mông-tuyền, thi đỗ tiến-sĩ trong niên-hiệu Chính-thống, làm quan tới chức Biên-tu, vì nghịch với Thạch-Hanh và Tào-Cát-Tường, bị khiển-trách đưa ra Khâm-châu làm chức đồng-tri, trong đầu niên-hiệu Thành-hóa, được phục chức làm quan Tu soạn. Ông có viết nhiều sách như: Thâm y chú sớ, Loại bác tạp ngôn, Loại bác cảo.

    Cái hại của việc không cẩn-mật là như thế.

    Học-sĩ Dương-Vinh (1) triều nhà Minh dâng sớ nói mười việc, chỉ-trích Phủ bộ pháp ty chứa chất nhiều điều tệ hại.

    Vua Thành-tổ (1403 – 1424) khen ngợi việc đó, nhưng cẩn-mật dạy bảo Dương-Vinh rằng:

    - Ngươi là bề tôi tâm phúc, nếu ngươi dâng lên lời nói ấy e rằng càng khiến người ta nghi-ngờ, chẳng bằng khiến một quan ngự-sử thận trọng cẩn-mật nói việc ấy.

    Do đó Dương-Vinh nhờ quan Giám-sát ngự-sử Đặng-Trực vào tâu việc ấy.

    Quan Thượng-thư Dương-Sĩ-Kỳ (2) nói:

    - Từ trước đến nay Bộ binh xin giao cho quan triều cận chăn ngựa, như thế là có thương tổn đến quốc-thể [14a] thì không nên.

    Vua Nhân-tông (1424 – 1425) phán: “Phải đấy”. Rồi liền phê bãi bỏ việc ấy.

    Thế mà tờ nội phê đã hai ngày rồi mà không được chuyển ra.

    [​IMG]

    (1) Dương-Vinh, người ở đất Kiến-an đời Minh, tự là Miễn-nhân, đỗ tiến-sĩ trong niên-hiệu Kiến-văn, được vua Minh Thành-tổ cho vào Văn-minh các, làm quan đến chức Cẩn thân điện đại học sĩ. Công-bộ Thượng-thư, trong niên-hiệu Chính-thống xin về hưu. Ông là người có tài trí, làm quan trải bốn triều vua.

    (2) Dương-Sĩ-Kỳ, người ở đất Thái-hòa đời Minh, tên Ngụ, tự là Sĩ-Kỳ, trong đầu niên-hiệu Kiến-văn, được tiến-cử vào Hàn-lâm-viện nhờ tài sử học của ông, trong niên-hiệu Vĩnh-lạc, làm quan đến chức Tả-xuân phường đại-học-sĩ, trong niên-hiệu Chính-thống cùng với Dương-phu, Dương-Vinh đồng phụ chính, làm quan có năng-lực và liêm-chính, về sau vì con tên Tắc bị hạ ngục, buồn lo mà chết.

    Quan thượng thư Dương-Sĩ-Kỳ lại nói đến việc ấy nữa. Vua triệu Dương-Sĩ-Kỳ vào dạy rằng:

    - Trẫm há nhẫn lòng quên việc ấy hay sao? Lúc đầu nghe ngươi nói, Trẫm liền sai người đi xem xét bọn Lý-Khánh (1) và Lữ-Chấn (2) thấy họ đang giao mồm giận ngươi.

    Trẫm nghĩ ngươi cô-lập e sợ cho ngươi sẽ bị họ làm hại, cho nên không muốn nhân lời ngươi tâu mà bãi bỏ lịnh ấy. Nay đã có danh nghĩa rồi. Ngươi ra chỉ-thị cho quan Án-sát sứ Trần-Trí làm một tờ sớ. Vua khiến căn-cứ vào đấy mà thảo tờ sắc bãi bỏ.

    Từ xưa bậc vua hiền đã vì kẻ bề tôi cẩn mật bày kế, mỗi việc gì cũng đều ủy khúc chu-đáo cẩn-mật không muốn lậu những điều không hòa hợp để gây oán thù.

    Có việc gì thì các quan thị tụng phải thông cảm hiểu cái ý ấy.

    Sách Đàm-lục của Đinh-Vị chép: Đinh-Vị thường nói: “Các quan ở hai bên vua khi tấu phú việc công, nên cẩn-thận không [14b] xúc-phạm đến những gì quan-hệ đến điều vua quyết đoán. Đáng quý là làm những việc gì cũng quy công ơn cho vua”.

    Thường có một quan-liêu thẩm-phán ở Hình-viện, nhân dâng trình một vụ án của một quan viên ăn hối-lộ, Vua

    [​IMG]

    (1) Lý-Khánh, người ở đất Thuận-nghĩa đời Minh, tính cứng-cỏi quả-quyết, có phẩm cách khí-lượng, làm quan đến chức Công-bộ Thượng-thư, Binh-bộ Thượng-thư, cùng với Liễu-Thăng đi đánh Lê-Lợi.

    (2) Lữ-Chấn, người đời Minh, tự là Khắc-thính, làm quan đến chức Thái-tử Thái-bảo.

    Chân-tông (998 – 1022) vừa đọc án thì trù-trừ muốn tha-thứ cho một lần.

    Chưa được lời phán của vua, viên thẩm-phán ấy liền tâu:

    - Đó là con trai của Ngụy-Chấn.

    Vua Chân-tông liền bừng bừng nổi giận bảo:

    - Là con trai của Ngụy-Chấn mà còn nhận của hối-lộ làm điều phi-pháp?

    Vua phê bản án ấy: “Y pháp thi-hành”.

    Bèn xử tử người ấy.

    Về sau có một quan Tri-viện thấy dấu xe trước đã đỗ, mỗi khi tâu việc thì sợ hãi nhận lấy thánh-chỉ (1).

    Lại chợt có viên quan khoa-từ phạm tội hối-lộ, nhiều bản án đã dâng trình.

    Vua Chân-tông hỏi:

    - Như thế nào?

    Tấu quan bèn thưa:

    - Người ấy tất cho là đáng tội. Nghe nói người ấy khóc tuôn nước mắt nói rằng: “Đã làm oen-ố [15a] khoa danh (2) của Bệ-hạ ban cho, đã làm phụ lòng tín-nhiệm của Bệ-hạ, khiến không còn mặt mũi nào trông thấy Bệ-hạ, không còn mặt mũi nào trông thấy triều-đình, chỉ chờ cái chết mà thôi”.

    [​IMG]

    (1) Nguyên văn: Thủ tiến chỉ = nhận lấy thánh chỉ. – Từ đời Đường trở về sau, người ta nói phụng thánh chỉ (vâng chiếu chỉ của vua) ra phụng tiến chỉ.

    (2) Khoa danh, khoa-cử công-danh.

    Vua Chân-tông nghe nói, đặc-biệt tha cho tội chết mà cho an trí.

    Những điều quan sát mà trông chừng ý vua là như thế, cũng là một phương-pháp để giải cứu cho người.

    Đinh-Vị lại chép: Sĩ đại-phu không nên tranh danh đua tiến đến nỗi phải hạnh-kiểm có điều khiếm-khuyết, làm oen-ố tung-tích một đời.

    Xưa Trương-Khứ-Hoa (1) dưới triều vua Thái-tổ (960 – 975) xin thi. Ông được mấy người bạn tri kỷ đều là danh thần ở quán các bầu-cử.

    Vua Thái-tổ giận hỏi Trương-Khứ-Hoa:

    - Ngươi có ít nhiều văn-chương, có bằng Đào-Cốc không?

    Trương-Khứ-Hoa tâu:

    - Không bằng.

    - Ngươi có dám thi đua với Đậu-Nghi (2) chăng?

    - Không dám.

    - Ngươi có dám thi đua với Trương-Đạm (3) chăng?

    [​IMG]

    (1) Trương-Khứ-Hoa, người đời Tống, tự là Tín-thần, lúc bé gắng học, trong niên-hiệu Kiến-long đỗ tiến-sĩ giáp khoa, làm quan đến Công-bộ thị-lang, khéo đàm luận, chuộng khí-tiết.

    (2) Đậu-Nghi, người ở đất Nghi-dương đời Tống, tự là Khả-tượng, 15 tuổi đã viết được văn, học-vấn rộng-rãi, vào nhà Tống làm Công-bộ Thượng-thư, vâng chiếu định lại 30 quyển sách Hình-thống, làm Học-sĩ ở viện Hàn-lâm. Bốn người em của Đậu-Nghi nối nhau thi đỗ, được người đời gọi là Đậu thị ngũ long.

    (3) Trương-Đạm, người ở đất Nam-dương đời Tống, tự là Thành-văn, ham học, có tài văn-chương, đỗ tiến-sĩ, phong nghi đẹp-đẽ, đàm-luận khéo-léo.

    Trương-Khứ-Hoa chần-chờ không đáp.

    Vua Thái-tổ bèn khiến Trương-Đạm cùng thi đua.

    Thi xong, bài thi của Trương-Khứ-Hoa được chấm hay hơn [15b] của Trương-Đạm.

    Trương-Đạm là chú út của Trương-Khứ-Hoa.

    Từ đó Trương-Khứ-Hoa không đặng vào quán các.

    Quan Thị-trung Tào-Lợi-Dụng (1) đời nhà Tống, đương thời bà Chương-hiến Thái-hậu, ở vào địa-vị cựu thần có huân công, được Thái-hậu nể sợ.

    Hễ Nội-cung có giáng ân trạch thì quan Thị-trung Tào-Lợi-Dụng đều giữ lại không thi hành. Nhưng việc giữ lại đã nhiều. Cho nên có người ân trạch bị giữ lại đã ba lần mà nội-cung lại giáng ân trạch cho nữa thì quan Thị-trung mới bất đắc dĩ thi-hành.

    Lâu dần, người tiểu-nhân (người hèn mọn) dò biết được, hễ cầu đã ba lần giáng ân trạch mà không đặng thi-hành thì phải xin nữa.

    Thái-hậu nói:

    - Quan thị-trung đã không thi-hành.

    Người xin bèn thong-thả xin rằng:

    - Hạ thần đã nói với bà vú hay người thân-tín trong

    [​IMG]

    (1) Tào-Lợi-Dụng, người ở đất Ninh-tấn đời Tống, tự là Dụng-Chi. Vua Chân-tông đến Thiền-châu, nước Liêu sai sứ nghị hòa, Tào-Lợi-Dụng được vua sai đến quân Liêu định xong hòa-ước, làm quan đến chức Khu-mật-sứ đồng binh chương sự, thêm chức Tả-bộc-xạ kiêm Thị-trung. Về sau bị bọn nội thị bày mưu hãm hại, phải thắt cổ mà chết.

    nhà quan Thị-trung nói giùm với quan, mà quan đã hứa cho rồi.

    Do đó Thái-hậu lại giáng ân trạch cho nữa. Quan Thị-trung Tào-Lợi-Dụng không biết chi cả, chỉ thấy đã giữ lại ba lần thì bất đắc dĩ miễn cưỡng thi-hành.

    Do đó Thái-hậu căm giận [16a] nghiến răng. Cho nên có cái họa Tào-Nhuế cho Tào-Lợi-Dụng.

    Bài Quy điền lục của Âu-dương-Tu có chép việc nầy.

    Âu-dương-Tu lại nói: “Bậc đại-thần công cao quyền trọng, khi tai họa đưa đến thì không phải trí lự của họ có thể phòng ngừa được”.

    Tôi nói được việc nầy chỉ vì Tào-Lợi-Dụng không khéo xử.

    Nếu việc giữ lại không thi-hành là phải, thì cứ tâu bày biện-luận xác-định là không thể thi-hành được, sao lại còn miễn cưỡng thi-hành?

    Nếu không trở-ngại gì lớn-lao thì cứ thi-hành cho thuận-tiện. Đã luận thi-hành thì hà tất lại luận giữ lại.

    Nếu có hại cho lẽ phải mà liệu mình không thể tranh nổi, thì phải thấy thời-cơ mà rút-lui để toàn thân thế danh-dự, như thế cũng được.

    Sao lại cứ giữ mãi ý-kiến không vững, không biện-bạch việc hồ-đồ, cẩu-thả noi theo mãi? Việc giữ lại không thi-hành không đủ là trọng. Việc ban cho không đủ là ơn. Giữ chức-vụ cao, ở địa-vị trọng, lấy thân mình đương lấy nỗi oán hận của mọi người mà không biết dẹp bỏ rút lui thì chỉ mở [16b] mối cho thiên-hạ gièm pha.