31.05 - LQL (type done)

28/8/15
31.05 - LQL (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-V1VyUmdVR1EzNHc/view?pli=1



    Chu-Cảm đời Tống có soạn một quyển sách Khả-đàm, trong ấy có mấy đoạn kể việc của người đương thời, có thêm phần bình-luận, đều có quan-hệ đến hành-vi của sĩ-phu đáng được xem xét giới răn. Nay xin lược chép ra sau đây để biết cư-xử lúc nói-năng lúc im lặng, cử-động lúc thù-tạc không thể nào không cẩn-thận được.

    Vua Thần-tông nói: “Những biểu-chương của Hùng-Bổn (1) đều đóng ấn đoan chính cẩn-thận, màu đó tươi sáng, trước sau không có khác nhau tí nào”. Do đó Hùng-Bổn được vua tri ngộ cất nhắc lên dùng cho đến chức Lưỡng-chế (2).

    Ngày gần đây, vào ngày sinh-nhật của quan Trưởng-sử, các chức liêu tá đều vẽ Thọ-tinh (3) để hiến dâng. Theo lệ thì thơ phú chỉ được nhận, còn tranh họa thì được trả lại, chỉ dùng làm lễ-nghi có khác nhau mà thôi.

    Vương-An-Thạch từ khi cầm quyền (là Tể-tướng) ra nhậm chức ở Từ-châu, trong ngày sinh-nhật, các thuộc-lại vẽ tranh Thọ-tinh để mừng thọ. Có người không vẽ [17a] tranh Thọ-tinh thì có bức tranh mừng thọ bọc lụa hồng, nghĩ bụng thế nào tranh cũng được trả lại.

    Vương-An-Thạch bỗng sai người mở những tranh họa ra treo ở sảnh-đường, và biên tên họ phẩm hàm của người dâng tặng.

    [​IMG]

    (1) Hùng-Bổn, người ở đất Phiên-dương đời Tống, tự là Bá-thông, trong niên-hiệu Khánh-lịch đỗ tiến-sĩ, vua Thần-tông khen văn của ông có hình-thức chế cáo, cho nên cho ông trông giữ chế cáo. Có để lại sách Văn-tập, Tấu-nghị.

    (2) Lưỡng-chế, đời nhà Tống cho Hàn-lâm học-sĩ giữ nội-chế, cho người chế cáo giữ ngoại-chế, cho nên gọi là Nội ngoại lưỡng-chế.

    (3) Thọ-tinh tức là Lão-nhân, cũng gọi là Nam-cực Lão-nhân, chủ về tuổi thọ.

    Trong số ấy, người nào không có tranh Thọ-Tinh thì dùng tranh Phật hay quỷ thần thay vào.

    Chỉ có một võ quan tên Thôi-Bạch dâng bức tranh vẽ hai con mèo.

    Đã đến trước những bức tranh ấy, võ quan ấy thẹn-thùng sợ-hãi bối-rối.

    Đấy, những tiểu-tiết cũng không thể không cẩn-thận giữ-gìn.

    Người xưa không dối-trá ở nơi ẩn-khuất tối-tăm, chính là nói như việc nầy.

    Vương-Quýnh, dung-mạo đẹp-đẽ có tài khí và tư-tưởng (1), lúc trẻ tuổi không giữ-gìn cẩn-thận, bị bọn điếm-đàng bày chuyện nói nhãm và phổ vào nhạc-phủ. Nay bài Lục-yêu (2) hát rằng: Kỳ tuấn Vương gia lang (nghĩa là = Chàng kỳ tuấn nhà họ Vương) tức là Vương-Quýnh.

    Trong niên-hiệu Nguyên-phong (1078 – 1085), Thái-Trì-Chính tiến-cử Vương-Quýnh nói có thể cho làm chức Giám-ty. Vua Thần-tông (1068 – 1085) chợt bảo: “Người ấy là Kỳ tuấn Vương gia [17b] lang (tức Vương-Quýnh) chăng?

    Trì-Chính khấu đầu tạ tội.

    Đỗ-Kỳ-Công thôi làm Tể-tướng trở về làng, không bận tâm về áo mão nữa.

    Một hôm ở khách trọ tỉnh Hà-nam, ông đội mão đạo-sĩ, mặc áo thâm, ngồi ở cuối chiếu.

    [​IMG]

    (1) Tài tư, tài-khí và tư-tưởng, nói về viết văn.

    (2) Lục yêu, khúc đàn tỳ-bà.

    Lúc ấy quan phủ-doãn đi ra, lính ở nha không biết ông là quan cựu Tể-tướng, bắt ông đến.

    Những con em thiếu-niên của các Vương-công (1) lấy làm lạ khi thấy Đỗ-Kỳ-Công không đứng dậy vái chào, liền quát hỏi:

    - Túc-hạ trước đã nhiệm chức nơi nào?

    Đỗ-Kỳ-Công đáp:

    - Đồng Trung-thư môn hạ Bình chương sự (tức là quan Tể-tướng đời Tống).

    Khách trọ và chỗ ngồi hẳn là không thể biết khắp cả, thông-thường mình nên ngồi ở chỗ thấp, nhất là không nên nói bàn bậy-bạ và hỏi đến tên họ của ai, sợ trước mặt con em của người, mình nói đến tên và điều không hay của phụ-huynh của người, có khi chính người biết được thì tất phải chuốc lấy tai-họa.

    Thói tục nói: “Nói sướng mồm lại là cái hại lớn”.

    [18a] Thẫm-Khởi (2) làm quan Đãi-chế. Các con của ông có yết-kiến Thư-vương. Thư-vương yêu mến, hứa sẽ cất nhắc cho.

    [​IMG]

    (1) Quý du tử đệ, con em của các vương công.

    (2) Thẫm-Khởi, người đời Tống, tự là Hưng-tông, đỗ tiến-sĩ, có chính-trị nhân-huệ, thăng Giám sát ngự-sử, sau được làm Thiên Chương các đãi chế. Khi Vương-An-Thạch cầm quyền muốn lập công-trạng ở biên-giới, Thẫm-Khởi nói nước Giao-chỉ có thể lấy được, bèn quyết chí đánh lấy. Người Giao-chỉ nghi-ngờ, bèn công hãm bốn châu Liêm, Bạch, Khâm, Ung, khiến số tử-thương lên đến mấy mươi vạn. Thẫm-Khởi bị biếm và an-trí ở Tú-châu mà chết.

    Một hôm Thẫm-Khởi ăn mặc sang trọng dạo chơi đi ngang tướng phủ. Thư-vương nghe Thẫm-Khởi ở cửa phủ, gọi vào cùng ăn uống, trước hết bảo hãy cởi dây đai ra. Thẫm-Khởi không chịu. Bất đắc dĩ Thư-vương mới lấy tay vén áo của Thẫm-Khởi lên, thấy thêu có chân châu kết theo, khen luôn miệng: “Tốt! Tốt!”.

    Từ đó Thẫm-Khởi không được gặp Thư-vương. Thẫm-Khởi bị bỏ rơi.

    Trong niên-hiệu Chính-hòa (1111 – 1117) Đài-Chương nói có một triều-sĩ được người ta gọi là Ôn-điềm cư-sĩ, có nghĩa là: Uống không cần chọn rượu ngon, việc ân-ái trong phòng the không cần chọn người.

    Mấy việc nầy bình thường người ta dễ phạm, một khi bị chỉ trích thì không ai thoát được, cho nên kể ra đây cho các thiếu-niên anh-tuấn răn ngừa.

    Nệm nhung (1) thì quan văn ở cấp bậc Lưỡng-chế, quan võ ở cấp bậc Tiết-độ sứ trở lên mới được dùng. Mỗi năm cứ tháng 9 đem ra ngồi [18b], tháng 3 thì đem cất.

    Trong niên-hiệu Chính-hòa (1111 – 1117), có một vị quan ở chức Khanh-giám đã lâu, trong ý cho rằng thế nào cũng sẽ thăng vào Lưỡng-chế, mới mua sẵn một cái nệm nhung mà mang tiếng quá nóng-nảy tiến chức, vì thế mà bị bãi chức.

    [​IMG]

    (1) Nhung [ ], một loại vượn leo cây rất nhanh-nhẹn, có lông vàng mềm-mại êm-ái như tơ, có đuôi dài rất quý, người ta đi săn trong rừng sâu để bắt về làm thuốc và lấy đuôi làm nệm làm yên.

    Vương-An-Lễ (1) ưa giận hờn (2), không chịu kém thua ai. Trong niên-hiệu Thiện-thánh (1094 – 1096) khởi quân Thái-nguyên, đi qua cửa khuyết để từ biệt vua.

    Lúc ấy Khu-mật-viện (3) thiếu trống. Vương-An-Lễ dũng chí muốn vào đấy mà các sĩ-phu cũng mong-mỏi vào đấy nữa.

    Khi sắp đến kinh-đô, Vương-An-Lễ phúc đáp những bức thơ của các quan gởi đến đón mừng bằng những phong thơ mỏng với lời-lẽ ngạo-mạn và lễ-độ đơn-giản.

    Có khi ở trước mặt vua, Vương-An-Lễ kể hạnh-kiểm trong trắng của mình.

    Khi tấu đối xong, Vương-An-Lễ được vua thúc-giục đến nhiệm-sở mới thì rầu rầu không mãn ý được mấy tháng thì mất.

    Thư-sinh (4) phải thanh-bạch kiệm-ước, đó là phong thái xưa nay, không nên gượng theo kẻ phàm tục khoe-khoang xa-xỉ đua đòi học làm thể-diện.

    Vương Kinh-công (5) gả con gái cho Thái-Biện, hôn lễ chưa thành mà tiếng đồn xa-xỉ đã nghe lọt [19a] ra ngoài.

    [​IMG]

    (1) Vương-An-Lễ, người đời Tống, em của Vương-An-Thạch, tự là Hòa-phủ, làm quan đến chức Hàn-lâm học-sĩ, sau ra trấn-nhiệm ở phủ Thái-nguyên.

    (2) Nguyên văn là thượng khí [ ]. Vương-An-Lễ muốn vào Khu-mật-viện mà không được, uất hận trong mấy tháng mà chết.

    (3) Khu-phủ tức Khu-mật-viện. Vua Đại-tông nhà Đường trong đầu niên-hiệu Vĩnh-lạc bắt đầu đặt ra Khu-mật-sứ với chức-vụ coi giữ các biểu tấu ở trong và ngoài, quyền hành càng ngày càng trọng bằng với chức Tể-tướng.

    (4) Thư-sinh, người đọc sách, học-sinh.

    (5) Vương-An-Thạch được phong Kinh Quốc-công, cho nên gọi là Vương Kinh-công.

    Vua Thần-tông (1068 – 1085) hỏi:

    - Khanh là nhà đại nho, dùng cẩm tú (gấm thêu) mà gả con gái đấy chăng?

    Vương Kinh-công không đáp làm sao cả, về nhà hỏi phu-nhân thì quả nhiên đúng như thế, bèn đem cẩm tú ấy làm trướng thờ Phật. Hôm sau lại vào tâu đối sợ hãi tạ tội.

    Trương-Bí túc-trực ở sử-quán.

    Vua Thái-tông hỏi:

    - Sao khách ăn ở nhà ngươi đông thế?

    Trương-Bí tâu:

    - Đó là những thân-thích bạn cũ thiếu-thốn thường quan ăn cơm.

    Vua sai người rình bữa ăn, đột-nhập lấy đem đi, thì quả đó là cơm thô với canh rau.

    Vua khen Trương-Bí là người trong sạch cần-kiệm mà lại hay thi ân đức giúp đỡ người, và từ đấy vua lấy lễ kính trọng Trương-Bí.

    Ai bảo những việc tầm-thường nhỏ-nhặt mà không thấu đến bậc chí tôn (vua) hay sao?

    Trong sách Thế-thuyết, Biện-Vọng-Chi (1) nói:

    [​IMG]

    (1) Biện-Vọng-Chi, tức Biện-Khôn, người đời Tấn, con của Biện-Toái, tự là Vọng-Chi, lúc trẻ có danh-dự, trong niên-hiệu Vĩnh-gia làm trứ-tác-lang, trong thời vua Minh-đế làm Thượng-thư, cần-mẫn về việc quan-lại, lúc vua Thành-đế lê ngôi, Thái-hậu làm triều, cùng với Du-Lượng phụ-chính. Khi Tô-Tuấn làm phản, ông chống cự, ra sức chiến-đấu đến chết, hai đứa con của ông cùng bị hại.

    “Trong người của Si-công có ba điều trái ngược nhau:

    1) Ngay thẳng thờ vua mà ưa kẻ dưới nịnh mình.

    2) Trị mình thì trong sạch đứng-đắn mà quá mưu tính lợi hại.

    3) Mình thích đọc sách mà ghét [19b] người có học-vấn.

    Ba điều nầy từ trước đến nay thường tình người ta hay mắc phải mà khó tự thắng mình được, cho nên có thể không giới răn hay sao?

    Theo thói tục người ta hay luận rằng: “Giữ chính-trực thì trái thời mà thân nguy. Theo gian tà thì hợp thời mà thân yên”. Nhưng từ trước đến nay thấy phép trong sử truyện những người chính-trực dẫu có trái thời nhưng thường chung cuộc không khốn-đốn mãi, còn người gian tà thì chưa từng đã được yên-ổn.

    Chỉ theo một mối mà nói, việc nhỏ như Giả Tổn-Chi, việc to như Dương Tố (1), Quách-Sùng-Thao (2). Những vị

    [​IMG]

    (1) Dương-Tố, người đời Tùy, tự là Xử-đạo, lúc trẻ lêu-lỏng không kiềm-chế, có chí lớn, giỏi viết văn, lúc đầu thờ vua Chu Vũ-đế làm chức Xa-kỵ đại tướng quân, về sau theo Văn-đế định thiên hạ, vì có công được phong Việt quốc-công, nắm giữ triều-đình, lấy mưu trí dối trá tự lập, sang cả không ai bằng.

    (2) Quách-Sùng-Thao, người ở đất Nhạn-môn đời Hậu-Đường, làm Binh-bộ Thượng-thư, Khu-mật-sứ, khuyên Trang-tông đánh úp Biện-châu, trong 8 ngày diệt nước Lương, công đứng đầu vì mưu nghị, được vua ban thiết khoán, làm chức thị-trung, chức Thành-đức-quân tiết-độ-sứ. Quách-Sùng-Thao tận trung với nước nhà, gặp việc thì tha-thiết can gián. Các hoạn quan và kép hát trong cung thấy bất tiện mới gièm pha ông. Về sau ông làm Chiêu-thảo-sứ theo Ngụy-vương đi đánh Thục, bị Lưu Hoàng-hậu sai hoạn quan Mã Ngạn-Khuê sửa chiếu giết chết.

    nầy, trong lòng thì không có chủ-trương, phản phúc không có nương tựa vào đâu, cuối cùng đã để lại tiếng chê cười muôn đời.

    Giả-Tổn-Chi lấy tài hùng-biện làm chức Đãi-chiếu, kể những điều dở của Thạch-Hiển cho vua nghe. Về sau sợ bị Thạch-Hiển ghét lại tâu những điều hay của Thạch-Hiển [20a] mong đẹp lòng Thạch-Hiển (1).

    Thạch-Hiển biết Giả-Tổn-Chi là người tráo-trở tâu lên vua. Vua ghét Giả-Tổn-Chi ôm lòng dối-trá bèn làm tội Giả-Tổn-Chi.

    Trịnh-Ung (2) là bề tôi cũ trong niên-hiệu Nguyên-hựu (1086 – 1092) đời vua Tống Triết-tông vốn không hòa hợp với Chương-Đôn (3). Vua ưa thích thấy người ta nói ông ta chuyên dùng bạch thiếp để biếm trích những bậc hiền tài, bèn bảo rằng: “Xưa Vương-An-Thạch thường có như thế”.

    Chương-Thuần mừng, liền đem nỗi lòng ra bẩm bạch. Vua được hiểu rõ, riêng ghét ông ta, liền đuổi ra làm quan ở ngoài.

    [​IMG]

    (1) Thạch-Hiển (đã chú ở trước).

    (2) Trịnh-Ung, người ở Tương-ấp đời Tống, tự là Công-túc, đỗ tiến-sĩ, trong niên-hiệu Nguyên-hựu làm Thượng-thư Tả-thừa, trong niên-hiệu Thiệu-thánh, làm Trung-thư xá-nhân, mất vào đầu niên-hiệu Nguyên-phù.

    (3) Chương-Đôn, người ở đất Phố-thành đời Tống, tự là Tử-hậu, dời đi ở Tô-châu, tính hào tuấn, bác-học, đỗ tiến-sĩ trong niên-hiệu Gia-hựu, được Vương-An-Thạch chuộng tài, trong thời vua Triết-tông làm việc ở Khu-mật-viện, sau bị truất ra làm việc ở Nhữ-châu. Khi cao Thái-hậu băng, ông được phục chức làm Thượng-thư bộc-xạ kiêm môn-hạ thị-lang, cùng bè đảng thi-hành Tân-pháp của Vương-An-Thạch. Đầu đời vua Huy-tông, ông bị biếm ra Mục-châu và chết.

    Dương-Tố thi công danh trùm cả một đời, e sợ các bậc đại-thần nghi-kỵ, mới theo lời Vũ-Văn-Thuật xin vua phế Thái-tử, lập Tấn-vương cho thuận ý của Hoàng-hậu để kết hợp thành bè phái mà nương nhờ, cuối cùng bị Tùy Dương-đế ghét, giết cả họ.

    Sùng-Thao lo ngại cho mình vì có công to mà bị hiềm ghét, mới dùng lời của con em xin vua lập bà họ Lưu làm Hoàng-hậu để đón ý vua và làm mưu kế tự an. Nhưng về sau mắc tội lại do bà họ Lưu gây cho.

    Mấy người ấy không phải không biết [20b] đó là bậy, nhưng thiết-tha với những mưu kế cho bản thân họ, muốn toan tính tránh tai vạ, và mê tâm thi-hành. Xét ra tai vạ không bao giờ không do đó mà ra.

    Rồi sau mới biết theo lẽ phải, noi đạo thường thì tự nhiên giữ-gìn được phúc lớn (1), còn trái lẽ phải phi nghĩa thì rốt cuộc không phải mưu-đồ tốt đẹp.

    Phải thay! lời hỏi của Bá-Thường-Khiên (2): “Theo đường lối chính-đáng mà thi-hành thẳng-thắn thì không được dung, theo đường lối kín-đáo mà thi-hành thẳng-thắn thì cuối cùng cũng không nỡ. Nay muốn thân không khốn cùng mà đường lối không kín-đáo thì có đường lối nào không?”.

    Đấng thánh-nhân của chúng ta (Khổng-Tử) đã bảo cho biết, đại ý nói: “Nếu không phải là người xứng-đáng thì đường lối không thi-hành được. Phải chọn người hiền-năng

    [​IMG]

    (1) Nguyên cát (nguyên, lớn – cát, phúc), phúc lớn.

    (2) Bá-Thường-Khiên, (nguyên văn chép sai chữ Khiên [ ]), người đời Xuân-Thu.

    rồi sau mới bảo cho: Không thể không có chế-độ, không thể sính ý là mình đã hiểu biết xem xét thấu đáo, không thể quá cứng rắn, không thể khinh dễ, chớ bỏ bớt phong-tục mà xua theo lợi, thấy phép tắc mà không thể cưỡng bức đời, trần bày đạo lý (đường lối) mà không dối với đời.

    Đó toàn là những điều mà thánh-nhân đã lấy [21a] lý-lẽ chính đáng của thời-trung (1) mà dạy người.

    Sự thật nếu người nào được như vậy thì còn có điều hối tiếc gì nữa?

    Theo sách Gia-ngữ, Lão-Tử nói: “Kẻ thông-minh hay xem-xét sâu-xa thì gần với sự chết (sẽ bị giết) vì họ ưa chê cười bàn luận người. Người biện-luận cao-xa rộng-rãi thì nguy-hiểm cho thân họ, vì họ ưa khui bới điều xấu của người”.

    Ký-Diễm làm quan Thượng-thư nước Ngô, hay hài tội các quan, tuyển hạch tam thự (2), muốn phân-biệt kẻ hay người dở, chia riêng người giỏi kẻ ngu.

    Lục-Tốn (3) nói với Ký-Diễm rằng: “Nay là lúc vua Cao-tổ bỏ kẻ dở dùng người giỏi, việc phê-bình mỗi đầu thánh

    [​IMG]

    (1) Thời-trung, đạo trung-dung cư-xử cho hợp thời-nghi không thái quá và không bất cập.

    (2) Tam thự, đời Tần đặt ra, đời Hán noi theo, có Ngũ quan thự, Tả-thự và Hữu-thự, ở mỗi thự có đặt một quan Trung-lang tướng quản lãnh.

    (3) Lục-Tốn, người nước Ngô đời Tam-quốc, tự là Bá-ngôn, có tài cai-trị, giỏi về quân-lược, thờ Tôn-Quyền, làm Đô-đốc, định-kế khắc-phục Kinh-châu, đánh bại Lưu-Bị ở Di-lăng, phá Tào-Hưu ở đất Hoạn, trong niên-hiệu Xích-ô làm Thừa-tướng. Về sau Tôn-Quyền muốn phế Thái-tử, Lục-Tốn ra sức can ngăn mà không nghe, phẫn uất mà chết.