31.06 - Vulinh236 (type done)

26/8/15
31.06 - Vulinh236 (type done)
  • ở đất Nhữ-nam và Dĩnh-Xuyên (1) khi xưa e rằng chưa dễ mà thi-hành được”.

    Ký-Diễm không nghe theo. Do đó tiếng oán hận chồng chất. Người ta đua nhau nói Ký-Diễm chuyên dùng sự thương ghetrs mà không do công-lý.

    Ký-Diễm vì thế mà mang họa.

    Thôi-Hạo (2) làm tướng nước Ngụy, muốn chỉnh-đốn nhân-luân, phân-minh tộc họ.

    Lư-Huyền (3) nói với Thôi-Hạo rằng: “Sáng-lập chế-độ và pháp-luật tất phải có lúc. Thích làm việc đó há được mấy người? [21b] Phải suy nghĩ đôi ba lần cho cẩn-thận đã”.

    Thôi-Hạo không nghe. Do đó các nhà quyền quý trong kinh-đo đêu nhôn-nhao oán hận gièm chê Thôi-Hạo bêu xấu cho quốc-gia. Thôi-Hạo bèn mắc tôi.

    Tử-Ngọc cứng-cỏi mà vô lễ. Vi-Giả (4) biêt là Tử-Ngọc tất phải thất bại.

    _________________

    (1) Nguyệt đán. Theo truyện Hứa-Thiệu trong sách Hậu Hán-thư, Hứa-Thiệu và Hứa-Tịnh đều có cao danh, ưa cùng nhau hạch luận các nhân-vật trong hương đảng mỗi kỳ đầu tháng.

    (2) Thôi-Hạo, người ở đất Thanh-hà đời Bắc-Ngụy, tự là Bá-Uyên, tiểu-danh là Đào-Giản, giữa lúc trẻ ham học kinh sử, làm chức trứ-tác-lang, dưới triều vua Thái-tông, làm Bác-sĩ Tế-tửu, dưới thời vua Thế-tổ, được phong tước Đông QUận-công, sau khi đi đnáh giặc trở về được làm chức Thị-trung và Phủ quân Đại-tướng quân. Thôi-Hạo là người nhiều mưu trí. Các việc quân quốc, triều đình đều hỏi ý-kiến của Thôi-Hạo.

    (3) Lư-Huyền, người đời Hậu-Nguyej, tự là Tử-Châu, làm chức Trung-thư Bác-sĩ, sau được ban tước Cố-an-tử và chức vị Tán kỵ thường thị.

    (4) Vĩ-Giả, người nước Sở đời Xuân-thu, tự là Bá-doanh, làm đại-phu.


    Phu Đặng-Thông (1) vô lễ, mới vời đến [22a] phủ Thừa-tướng quở trách nặng-nề và muốn đem ra chém.

    Vua Văn-đế sai sứ tạ tội cho Đặng-Thông.

    Về sau, thấy quan Nội-sử Triều-Thố (2) khoét tường nhà tông-miếu vào lấy trộm, Thân-Đồ-Gia lại làm tờ tấu xin giết Triều-Thổ.

    Triều-Thố nghe được tin thì trước đã vào cung tự thú tội với vua rồi trở về.

    Vua Cảnh-đế thấy tờ tấu của Thân-Đồ-Gia liền bảo: “Triều-Thố vô tội. Đó là Trẫm sai hắn làm viếc đó”.

    Thân-Đồ-Gia uất hận hối tiếc là bị lừa, hộc máu mà chết.

    Triệu-Quảng-Hán (3) thấy Hoắc-Quang đã mất, trong


    __________________

    (1) Đặng-Thông, người An-nam đời Hán, lúc đầu trèo thuyền làm chức Hoàng-đầu lang, gặp vua Hán Văn-đế thu dụng và được yêu quý, cho làm Thượng đại-phu. Nhà tướng số bảo Đặng-Thông phải số nghèo và chết đói, cho nên vua muốn Đặng-Thông được giàu có, cho Đồng son ở Thục nghiêm đạo đề đúc tiền, do đó Đặng-Thông giàu to. Vua Cảnh-đế lên ngôi thấy thế giận ghét, lột chức Đặng-Thông. Có người tố cáo Đặng-Thông trộm tiền, vua cho tịch thâu tiền bạc của Đặng-Thông. Đặng-Thông rốt cuộc phải nghèo và chết đói.

    (2) Triều-Thố, người ở đất Dĩnh-xuyên đời Hán, trong thời vua Văn-đế làm chức Thái-thường chưởng cố, thăng chức Thái-từ Gia-lịnh, trong thời vua Cảnh-đế, thăng chức Ngự-sử đại-phu, xưởng nghị xén bớt đất đai của chư-hầu, khiến bảy nước làm phản với danh nghĩa trừ Triều-Thố. Vua nghe lời VIên-Ang cho chém đầu Triệu-Thố ở Đông thị.

    (3) Triệu-Quảng-Hàn, người ở đất Lễ-Ngô đời Hán, tự là Tử-đô, trong thời vua Chiêu-đế đỗ Mậu-tài, làm chức Dương dịch lịnh, có hạnh-kiểm về cai trị, thăng chức Kinh-triệu doan, khi Chiêu-đế băng giúp Hoắc-Quang thi hành việc phế lập, được ban tước Quan-nội hầu, có tài hỏi vòng do mà hiểu được sự-tình, trộm cướp đều yên, danh tiếng nghe đến Hung-nô, cuối cùng xâm-phạm đến những nhà quyền quý, mắc tội mà chết.


    lòng hiểu biết ý thầm kín của thiên-tử, sai lại viên xông vào nhà Hoắc-Vũ tìm rượu, và lấy búa phá cửa.

    Con gái của Hoắc-Quang làm Hoàng-Hậu khóc với vua Tuyên-đế (73-49 trước Tây-lịch). Lòng vua cho là phải, gọi Triệu-Quảng-Hán đến hỏi.

    Về sau Triệu-Quảng-Hán đem lại tốt xông và phủ Thừa-tướng thu bắt các nô-tỳ.

    Vua giận Triệu-Quảng-Hán làm nhục đại-thần.Triệu-Quảng-Hán cuối cùng bị tội.

    Giang-Sung(1) thấy Thái-tử ruổi ngựa trên đường, bèn dâng tờ tấu báo cho vua biết.

    Thái-tử xin Giang-Sung khoan thứ cho. Giang-Sung không nghe.

    Vua khen Giang-Sung và bảo rằng [22b]: “Làm kẻ bề tôi phải như thế”.

    Giang-Sung nhờ đó rất được vua tin dùng.

    Đến khi nhận chiếu xử vụ án đồng bóng thư ếm hại người, Giang-Sung vu tội Thái-tử quá ngặt, bèn bị Thái-tử giết.

    Vua cũng giết cả nhà Giang-Sung.


    _____________________

    (1) Giang-Sung, người ở Hàm-đan đời Hán, vốn tên là Tề, vì mắc tội với Triệu Thái-tử, chạy sang miền tây, đổi tên Sung. Vua Hán Vũ-đế thấy trạng-mạo của Giang-Sung khôi-ngô hùng-vĩ, cho làm Trực chỉ tú y sứ giả, có mói hiềm khích với Thái-tử Cử. Gặp lúc ấy vua đau, Giang-Sung vu cáo Thái-tử dùng bùa phép của đồng bóng êm vua, dựng nên vụ án đồng bóng ếm hại người. Thái-tử sửa chiếu của vua và giết Giang-Sung.


    Tuy người giỏi kẻ dở không đồng nhau, nhưng điều đã làm cho họ mắc tội thì giống nhau.

    Trương-Ôn nước Ngô vì tài giỏi hơn người mà mắc tội.

    Vũ-hầu bảo: “Ông ta mắc tội vì trong với đục quá rõ-ràng, lành với dữ quá phân-biệt”.

    Tiêu-Vũ (1) đười Đường là người ngay thẳng khác tục.

    Vua Đường Thái-tông bảo: “Về lòng trung-trực của khanh, người đời xưa cũng không hơn được. Nhưng phân-biệt thiện với ác quá rõ-ràng cũng lắm khi có hại”.

    Nầy, lấy sự trải việc hợp vật của Vũ-Hầu và sự khuyến lệ tinh thông cầu yên trị của Văn-Hoàng (Đường Thái-tông) mà xét thì sao không phả là để nâng-đỡ người quân tử đuổi bỏ kẻ tiêu nhân? Xét lời hai vị ấy nói lấy việc phân-biệt thiện ác làm điều lỗi lầm về nhân-phẩm là tại làm sao?

    Cũng nên biết rằng trong [23a] khoảng trời đât dương chỉ có một, mà âm thì có hai (2), người thiện thì ít mà kẻ bất thiện thì nhiều. Âm hẳn nhiên là không thể hóa thành dương. Người bất thiện cũng không thể biến thành thiện cả được. Đại yếu là khiến cho mỗi người yên phận mình, thế là được rồi.

    Việc phân nhân của người, mình ghét quá lắm thì sinh loạn. Phân-biệt lưu-phẩm (bậc cao thấp), tỏ rõ yêu ghét thì há chẳng phải là quá lắm rồi sao?


    ____________________


    (1) Tiêu Vũ, người đời Đường, tự là Thi-văn, được phong Tống quốc-công, làm quan Ngự-sử đại-phu, tham-dự việc triều-chính, sau được ban Đồng-trung thư môn hạ tam phẩm.

    (2) Theo kinh Dịch, hào dương chỉ có một nét liền – ,còn hào âm có hai nét rời - -.




    Phần Hệ-từ trong kinh Dịch có nói đến hai chữa át dương (Át ác dương thiện = Giấu điều xấu, nên điều tôt) (1).

    Kinh Thư có nên hai chữ chương (chương thiện đan ác = Nên bày điều tốt, ghét giận điều xấu) (2).

    Tuy đó là đạo thường khi làm việc chính tự nhiên không dễ gì thay đổi được. Nhưng người quân-tử đời xưa cũng lấy cái lòng bình chính mà thêm vào cái lượng thâm-trầm, trong lúc khuyên răn, nhất thiết đều giao cho pháp-luật, phó mặc cho tự-nhiên.

    Như Phú-Bật (3) đã nói: “Như thiên chi lâm, thiện ác giai sở tự thủ (tiếng hán). Nghĩa là: Như trời soi xuống, thiện ác đều do mình làm lấy. Rồi về sau theo đó mà thưởng phạt, hẳn là không nên nhất nhất đều xem xét, giữ lấy thành khiến riêng của mình để trái ý mọi người.

    Ở cho trung-hâu, nêu ra pháp-độ (4), đoan-chính đề


    __________________________


    (1) Kinh dịch quan: Quân-tử dĩ át ác dương thiện = Người quân-tử có lượng bao-dung, hay giấu che điều ác và nêu lên điều tốt của người.

    (2) Câu này ở thiên Tất-mệnh trong kinh Thư.

    (3) Phút Bật, người ở đất Hà-nam đời Tống, tự là Ngạn-quốc, dốc lòng học-tập, có độ-lượng rất rộng-rãi, dưới triều vua Nhân-tông thì đỗ Mậu-tài, trong đầu niên-hiệu Khánh-lịch, coi giữ chế cáo. Khi rợ Khiết-đan đồn binh ở biên-cảnh, sai sứ sang giành đất, Phú-Bật đi sứ, cự tuyệt việc cắt đất và trần bày việc lợi hại về hòa và chiến. Rợ Khiết-đan dẫn quân về, Phú-Bật được phong Khu-mật phó sứ. Có tang mẹ, ông xin trở về. Khu vua Anh-tông lên ngôi, ông được triệu vào làm Khu-mật-sứ, và được phong Trịnh Quốc-công. Khi Vương-An-Thạch cầm quyền, ông ra Tiết-độ-sứ ở Vũ-ninh, cương quyết không thi-hành Tân-pháp Thanh.miêu. Vương-An-Thạch muốn bắt tội, ông xin cáo lão. Ông được trao chức Tư-không và tiến phong Hàn quốc-công rồi trí sĩ.

    (4) Nguyên văn: Quỹ vật là pháp-độ.


    cảm-hóa mà dẫn dăc [23], xem-xét người chính-trực để làm phép (1), thì có thể khiến người thiện cố gắng thêm lên, mà người bất thiện lùi bước nghe theo, thì dẫu là bậc vua sáng tướng giỏi cũng không hơn thế được.

    Huống chi cùng với người ta đứng chung trong triều, hanh-kiểm thì chưa đủ để hơn nhân dân, đức tài thì chưa đủ để mọi người kính phục, lại cốt làm cao-khiết khác tục (2), không có ân huệ gì chất chứa lại thấp cao lời nói khen chê nhân vật, nghiễm nhiên lấy tư-cách là bậc nhân-giả nói lên sự ưa ghét, thì người được khen chưa ắt đã nhân lời nói của ta mà tăng thêm sự cố-gắng, mà người bị ghét lại thành kẻ thù địch với ta. Như thế thì cư-xử ở một làng còn không được huống hồ đem ra trị nước được hay sao?

    Xem như Gia-Cát (Lượng) (3) khen Diêu-Do(4) tiến-cử người đủ cả cương nhu, Văn-hoàng thấy người hiền-năng thì kinh, người bất tiếu (không hiền-năng) thì thương xót.


    ______________________________


    (1) Nguyên văn: Nghi biểu là phép-tắc.

    (2) Nguyên văn: Kiều kích là thanh-cao khác tục.

    (3) Gia-Cát-Lượng, người ở đất Lang-da nước Thục-Hán đời Tam-quốc, tự là Khổng-minh, đi cày ở Tương-dương, Lưu-Bị đến nhà ba lần mới được gặp. Ông ra giúp Lưu-Bị, đánh bài Tào-Tháo, lấy Kinh-châu và đất Hán-trung, đương đầu với nước Ngụy nước Ngô, làm thành thế chân vạc. Lưu-bị lên ngôi Hoàng-đế, phông ông làm Thừa-tướng. Lưu-Bị mất, ông phò Hậu chủ, được phong Vũ hương hầu, lãnh chức Ích-châu mục, phía đông hòa với Tôn-Quyền, phía nam yên Mạnh-Hoạch, lắm lần đem quân ra đánh nước Ngụy, chỉ muốn khôi-phục cõi Trung-nguyên, trùng hung nhà Hán, sau mất ở trong quân, thọ được 54 tuổi.

    (4) Diêu-Do, người nước Thục đời Tam-quốc, tự là Tử-tự, trong niên-hiệu Kiến-trung làm Quảng-Hán Thái-Thú. Khi đóng quân ở Hán-trung Gia-Cát-Lượng có vời ông ra làm thuộc quan.


    Người hiền-năng và kẻ bất tiếu đều được yên phận. Độ-lượng dung nạp bao hàm của Đường Văn-hoàng biết là dường nào?

    Ngày xưa Bão-Thúc (1) ưa người thiện ghét kẻ ác thì trọn đời không quên, cho nên Quản-Trọng bảo Bão-Thúc không thể làm việc chính.

    Phạm-Phang (2) muốn rằng: Hễ ưa người thiện thì cũng được trong sạch như người thiện, hễ ghét người ác thì cũng bị dơ đục như người ác.

    Thân-Đồ-Bằng (3) cho như thế là nghị luân-ngang.

    Sử hiền-năng của hai vị (Bão-Thúc và Phạm-Phang) còn không tránh khỏi sự chê cười của người đạt-giả, huống hồ là những kẻ kém hơn hai vị ấy?


    ________________________

    (1) Bão-Thúc-Nha, làm quan đại-phu nước Tề đời Xuân-thu, lúc trẻ giao-hảo với Quản-Trong, cùng buôn bán ở Nam-dương, biết Quản-Trọng là người hiền mà nghèo khó, chia tiền lời phần hơn cho Quản-Trọng. Về sau Bão-Thúc-Nha thờ Tề Hoàn-công, Quản-TRọng thờ Công-tử Củ. Công tử Củ chết, Quản trọng bị tù. Bão-Thúc-Nha mới tiến cửa Quản-Trọng lên Tề-Hoàn-Công. Quản-Trọng giúp Tề Hoàn-Công thành nghiệp bá.

    (2) Phạm-Phang, người đất Chinh-Khương đời Đông Hán, tự là Mạnh-Bác, lúc trẻ tiết-tháo trong sạch, thi đỗ Hiếu-liêm, trong thời vua Hoàn-đế, đất Ký-châu nổi giặc cướp, Phạm-Phang được cử làm Thanh chiếu sử đi án-sát vụ này. Ông ngồi xe cầm cương có chí thanh-trừng thiên-hạ; về sau bị bọn hoạn quan oán ghét vu cáo cho ông kết đảng. Ông bị tội và giam vào ngục, rồi được thả trở về. Trong thời vua Line-đế, có chiếu bắt ông. Ông tự đến nhà ngục và bị giết.

    (3) Thân-Đồ-Bằng, người đất Ngoại-hoàng đời Đông-Hán, tự là Tử-long, chin tuổi mồ-côi cha, nhà nghèo phải đi làm thợ sơn, được Quách-Thái và Thái-Ung kính trọng, về sau ở ẩn, học tập rất tinh, thông suốt ngũ kinh, lại biết đồ vĩ, lắm lần được vời mà không ra, ở ẩn tránh đời mà thoát được hoạn nạn.


    Sách Trinh-quán chính yếu (1) chép mấy điều dạy giữ đức liêm-khiết, ý tứ rất tha-thiết.

    Đường Văn-hoàng (Đường Thái-tông) nói với quan hầu-cận rằng: “Người có ngọc minh-châu thì không ai là không tự trọng, nếu lấy ngọc minh-châu ấy mà bắn chim sẻ thì há rằng không đáng tiếc hay sao? Huống chi tính mệnh của người ta còn quý hơn ngọc minh-châu, thấy vàng bạc tiền của lụa là mà không sợ lưới pháp-luật lại cử nhận lấy, đó là không tiếc tinh-mệnh. Ngọc minh-châu là vật ở ngoài thân còn không thể lấy bắn chim sẻ, huống chi tính-mệnh là quan trọng lại lấy ra đánh đổi lấy tài-vật hay sao?

    Bọn khanh nếu được tận trung trực, ích nước lợi dân [24b] thì quan tước lập tức đến ngay, còn nếu không lấy đạo-lý cầu vinh lại đi lấy càn tài-vật, việc hối lộ khi đã bại lộ, thì tấm thân bị đọa đày thật là đáng để chê cười”.

    Đường Văn-Hoàng lại bảo quan hầu-cận rằng: “Người tham-lam không biết (2) tiếc của”.

    Vua lại nói: “Các quan ở trong triều-đình và ở ngoài châu quận từ ngũ phẩm trở lên thì bổng lộc phẩm trật trọng hậu dồi-dào, số lãnh được một năm đã nhiều, nếu nhận hối lộ của người chẳng hơn mấy vạn. Một khi việc ăn hối-lộ bị bại lội thì bổng lộc phẩm trật đều bị tước đoạt.

    Đó há là biết tiếc tài-vật hay sao? Đúng là được thì ít mà mất thì nhiều.”


    _________________

    (1) Trinh-quán chính-yếu, tên sách, có tất cả 10 quyển, do Ngô-Căng đời Đường soạn, ngoài Thái-tông thực lục, còn chép những lời vấn-đáp của vua Đường Thái-tông với bầy tôi, phân ra 40 môn, có Qua-Trực đời Nguyên chú, có trích những luận-thuyết của 22 nhà từ Đường Liễu-Phương trở xuống ch phụ vào, gọi là Tập luận.

    (2) Nguyên văn: “…..bất giải át tài, chữ giải ở đây phải có nghĩa là hiểu biết mới thông ý câu văn.


    “Xưa ông Nghị-Hựu có tính thích ăn cá, nhung không nhận cá của người tặng biếu, thế mà vẫn được cá mãi.

    “ Vả lại, làm vua mà tham thì mất nước, làm tôi mà tham ắt thiệt thân.

    Chương 13 thơ Tang-nhu thuộc phần Đại-Nhã trong kinh Thi có câu:

    ?????

    ????

    Đại phong hữu toại,

    Tham nhân bại loại.

    Dịch nghĩa:

    Gió to thổi có đường lối

    Người tham tài là loài hư-hỏng xấu xa.

    Dịch thơ:

    Theo đường gió lớn thổi ra,

    Kẻ tham hư-hỏng xấu-xa vô cùng (1)


    Hai câu nầy hẳn không phải là lời nói sai vậy.


    Vua lại bảo các quan công khanh rằng: “ Bọn khanh nếu cẩn-thận chú ý tuân theo luật-pháp, thường nhưu Trẫm sợ [25a] trời đất, thì chẳng những trăm họ được an-ninh, mà bản thân mình thường được vui thích. Nếu bọn kahnh đen tối liều chết vì tiền của thì chẳng những đã làm bại hoại phép công, tổn thương trăm họ, mà trong lúc việc tham-nhũng ấy nếu


    ________________________


    (1) Đây là lời của Nhuế Lương-Phu trách Lệ-Vương nhà Chu tin dùng Vinh Di-công mà Vương-thất nhà Chu sắp suy tàn. Vinh Di-công là người tham-lam giành mọi mối lợi về mình khiến quốc-gia cùng kiệt, nhân-dân đồ-thán.