31.07 - danguyen(type done)

22/9/15
31.07 - danguyen(type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-SElEZXlVcUxvVk0/view?pli=1

    * GHI CHÚ: 25/8
    Dấu '...' là ký tự chữ Hán không đánh máy được.
    Chữ gạch chân là chữ không nhìn rõ, không rõ nghĩa.
    ===
    chưa bị phát-giác, thì lòng há thường đã không lo sợ hay sao? Lo sợ quá nhiều cũng có người phải chết.
    Nầy, chẳng những tham-lam tài-vật thì nguy hại đến bản thân mà thôi đâu, còn khiến cho con cháu thường u-hoài hổ-thẹn nữa!>>
    Ngưu-Tăng-Nhụ (1) từ khước của hối-lộ của Hàn-Hoằng tặng cho.
    Khi Hàn-Hoằng chết, các con tranh gia-tài thưa kiện nhau.
    Vua Mục-tông sai lấy sổ sách trong nhà của Hàn-Hoằng và tự mình duyệt xem, thấy có lời chú rằng : << Đưa cho Ngưu Thị-lang (tức Ngưu-Tăng-Nhụ) bao nhiêu tiền đấy mà không được nhận>>.
    Vua Mục-tông cả mừng, liền cho Ngưu-Tăng-Nhụ làm Tể-tướng. Cho nên người xưa có câu: Hữu ẩn hạnh giả tất hữu hiển danh ... ... ... ... ... ... ... ... ... Nghĩa là: Người có đức hạnh kín-đáo thì tất phải có danh tiếng rỡ-ràng.
    Bài Huấn kiệm văn (dạy việc tiết-kiệm) của Ôn-Công (2) có chép: Ngự-Tôn nói : << Tiết-kiệm là đức cung, xa-xỉ là tội lớn>>.
    Nầy, [25b] tiết-kiệm thì ít ham muốn. Người quân-tử ít ham muốn thì không phục-vụ cho ngoại vật, có thể theo đường thẳng mà đi.
    ---------------------------------
    (1) Ngưu-Tăng-Nhụ, người ở đất Thuần-cô đời Đường, tự là Tư-ảm, trong thời vua Hiến-tông làm quan đến chức Ngự-sử Trung-thừa, trong thời vua Mục-tông làm Tể-tướng, kết bè đảng với Lý-Tông-Mẫn, bài xích những ai khác với mình, uy-quyền chấn-động thiên-hạ.
    (2) Ôn-Công tức Tư-mã-Quang.
    Kẻ tiểu-nhân ít ham muốn thì có thể cẩn trọng lấy thân, bớt dục vọng, xa tội-lỗi mà nhà được giàu có.
    Xa-xỉ thì nhiều ham muốn. Người quân-tử nhiều ham muốn thì tham việc giàu sang, làm cong vạy đạo-lý, hôn mê trong tai họa.
    Kẻ tiểu-nhân nhiều ham muốn thì kiếm cho nhiều và lấy càn, tan nhà mất mạng, làm quan thì ắt ăn hối-lộ, ở trong làng thì ắt đi ăn trộm.
    Chí-lý thay lời nói nầy! Ta phải thường thường đề tỉnh.
    Làm quan thì lấy việc nổi giận thình-lình mà giới răn.
    Về tính-lý (bổn tính) có bài thơ như sau:
    ...
    1) Nộ khí kịch viêm hỏa
    2) Phần như đồ tự thương.
    3) Xúc lai vật dữ cạnh
    4) Sự quá tâm thanh lương.
    Dịch nghĩa
    1) Khí giận mạnh-mẽ như lửa.
    2) Phát cháy nhưng chỉ gây thương tổn cho mình mà thôi.
    3) Động đến cơn giận thì chớ nên đua theo nó.
    4) Việc qua rồi thì lòng mát-mẻ.
    Dịch thơ
    Khí giận mạnh như lửa,
    Cháy bừng tự tổn thương.
    Chớ đua khi nổi giận,
    Xong việc lòng thanh lương.
    Sách Thuyết-phu có thơ rằng:
    ...
    1) Ngu trọc sinh sân nộ
    2) Giai do lý bất thông.
    3) Hưu thiêm tâm thượng diệm
    4) Chỉ tác nhĩ biên phong
    5) Trường [26a] đoản gia gia hữu
    6) Viêm lương xứ xứ thông
    7) Thị phi vô đinh tướng
    8) Cứu cánh tổng thành không.
    Dịch nghĩa
    1) Vì ngu si đục tối mà sinh ra giận dữ,
    2) Đều do lý không thông.
    3) Chớ thêm lửa trong lòng
    4) Chỉ làm như gió thoảng ngoài tai.
    5) Giỏi dở nhà nhà đều có,
    6) Nực mát chốn chốn đều thông.
    7) Phải trái không có chân tướng nhất định.
    8) Cuối cùng đều thành không.
    Dịch thơ
    Đục ngu giận dữ phát ra,
    Đều do lý lẽ trót đà chẳng thông.
    Chớ thêm lửa giận trong lòng,
    Xem như gió thoảng lạnh-lùng ngoài tai.
    Nhà nhà tự có giỏi hay,
    Nơi nơi lạnh nực vẫn hay thông đồng.
    Thị phi định tướng hẳn không,
    Cuối cùng muôn sự thành không có gì!
    Hai bài thơ trên đây thật là có lý thú.
    Người xưa có nói : << Lúc giận quá không thể xử án. Lúc vui quá không thể phê-chuẩn thi-hành>>.
    Người xưa nói: << Chớ lấy điều ham muốn giết thân mình. Chớ lấy của-cải giết con cháu. Chớ lấy việc chính giết dân. Chớ lấy học-thuật giết thiên-hạ>>.
    Thật là lời nói chí-lý.
    Điều ham muốn và của-cải thì mọi người đều biết giới răn.
    Còn việc chính và học-thuật thì dẫu là nhà nho có tiếng-tăm và những người có danh-vọng xưa nay cũng chưa có điều mà không tự tin sở kiến của mình, rồi chung cuộc vẫn không giác-ngộ điều sai lầm của mình. Đó là như Lưu-Hâm đời Hán và Kinh-công (Vương-An-Thạch) đời Tống.
    Vương-Thu (1) đời Tống có nói: << Tính của con người quý ở bình-đạm, nếu thêm vào khí-thức (2) thì là khí-thức Tể-tướng>>.
    Lưu-Hâm bàn luận nhân- [26b] vật cũng lấy sự bình-đạm làm đầu.
    Bài Quy điền lục của Âu-dương Tu có chép : Tiết-Khuê đối-đãi Minh-Cảo rất trọng hậu, mong ngày sau Minh-Cảo sẽ làm quan to (bậc tam-công và tứ-phụ).
    Có người hỏi:
    Làm sao biết ông ấy sữ quý-hiển?
    Tiết-Khuê đáp:
    -- Ông ấy đoan-chính cung-kính, lời nói giản-dị mà diễn tả hết ý tứ. Những người giản-dị trang-trọng mà tôn-nghiêm, đó là tướng bậc hiền thần (bề tôi hiền-năng).
    Bậc tiền-bối xem người là như thế.
    Lục-Tiếp (3) đời Minh nói : << Bậc sĩ quân-tử có chí
    ----------------------------
    (1) Vương-Thu, người ở đất Tống-thành đời Tống, tự là Nguyên-thúc, đỗ Tiến-sĩ, làm quan đến chức Thị-giảng học-sĩ, coi rộng nhớ nhiều, thấu suốt cả đồ sấm toán số âm luật huấn cổ triện lệ, viết sách Dịch truyện.
    (2) Khí-thức là khí cục (tài-năng độ-lượng) và kiến-thức.
    (3) Lục-Tiếp, người đời Minh, con của Lục-Thâm, tự là Tư-dự, nhà sách của ông gọi là Kiêm-gia-đường, có viết sách Kiêm-gia đường cảo, Cổ kim thuyết hải có 142 quyển.
    làm việc, nếu không thông cả cổ kim thì lấy gì mà nói đến việc kinh bang tế thế (trị nước cứu đời) được? Đó là điều mà các nhà nho đời trước đã quý hơn việc thấu đạt triều chương (1).
    Tôi nói: << Thông cả cổ kim, đó là người bậc nhất, tài học dư thừa, nhưng phải hư tâm (2) hạ khí (3) kính thầy lễ bạn, hỏi thăm việc chính lớn nhỏ ở các liêu-thuộc, không chán việc thảo-luận cho ra lẽ chính-xác.
    Ngày xưa Diêu-Sùng (4) lúc trẻ có tài [97a] danh, ba lần kiêm chức Binh-bộ, điển-cố không có điều gì là không thông hiểu, thế mà còn nói rằng : << Muốn biết việc xưa thì hỏi ông Trọng-Thư (5), muốn biết việc nay thì hỏi ông Tề-Hoãn (6).
    Huống chi những hạng người kém hơn ông Diêu-Sùng
    ----------------------------
    (1) Triều chương, điển-chương (pháp-độ) của triều-đình.
    (2) Hư tâm, lòng không tự mãn, để lòng trống mà dung nạp.
    (3) Hạ-khí, tịnh khí, giữ khí yên lặng.
    (4) Diêu-Sùng, người đời Đường, tự là Nguyên-chi, ham học, tài chất hùng tuấn, chuộng khí tiết, được trao chức Tể-tướng, phong Lương quốc-công, chỉnh kỷ-cương, sửa chế-độ làm thành cuộc an trị trong niên-hiệu Khai-nguyên.
    (5) Trọng-Thư, Lý-Thư đời Đường tự là Trọng-Thư, trong thời vua Đức-tông, làm Lại-bộ Thị-lang, phụng chiếu làm sách Hưng-nguyên kỷ công thuật và Giao miếu nhạc chương, bình-luận và soạn sách rất nhiều.
    (6) Tề-Hoãn, người ở đất Nghĩa-phong đời Đường, tự là Tẩy-tâm, lúc trẻ minh-mẫn, được khen là có tài giúp vua, trong niên-hiệu Thánh-lịch đỗ Tiến-sĩ, trong đầu niên-hiệu Cảnh-vân, được Diệu-Sùng tiến dẫn làm Ngự-sử, trong niên-hiệu Khai-nguyên thăng chức Trung-thư xá-nhân, việc chính lớn-lao đều hỏi ý-kiến ông, về sau làm chức Giang-nam Thái phỏng sứ.
    lại có thể riêng cậy ở lòng dạ mình mà không tìm bắt chước điều hữu ích (1) hay sao?
    Kinh Thư có câu: Háo vấn tắc dụ, tự dụng (2) tắc tiểu .... . Nghĩa là: Ưu hỏi thì biết được đầy đủ, tự cậy mình thì cứ thấp-thỏi mãi.
    Đạo ở đời là như thế.
    Diên-Linh đời Đường vừa mới được vua yêu mà quý hiển. Đỗ-Hoàng-Thường (3) không đến yết-kiến làm nghịch ý Diêu-Linh, cho nên trong mười năm mới được chức Thái thường khanh, thế mà đại lược không đổi tiết-tháo.
    Trong thời nhà Tống những vị vừa quý hiển đỗ cao khoa phần nhiều đi tắt mà làm chức cao.
    Hàn-Kỳ (4) là người đỗ hạng nhất, mà riêng mãi ở chức quản-khổ (coi kho), người ta cho là không đáng, nhưng Hàn-Kỳ ở chức ấy tự nhiên như thường.
    ---------------------------------
    (1) Nguyên văn: Bất cầu quy ích tai? (bất, chẳng-cầu, tìm-quy, bắt chước-ích, hữu ích-tai, sao?).
    (2) Tự-dụng, cậy vào tài trí của mình, hành-động theo ý riêng của mình.
    (3) Đỗ-Hoàng-Thường, người ở đất Đỗ-lăng đời Đường, tự là Tốn-tố, đỗ Tiến-sĩ, làm chức Thái-thường khanh, thường xin vua Đức-tông san bằng phiên trấn, được vua nghe theo, chấn-hưng được kỷ-cương, trong thời vua Hiến-tông, làm quan đến chức Đồng binh chương sự, về sau làm chức Tiết-độ-sứ, được phong Bàn quốc-công.
    (4) Hàn-Kỳ, người ở đất An-dương đời Tống, tự là Trĩ-khuê, đỗ Tiến-sĩ làm việc trong hạ triều vua Nhân-tông, Anh-tông và Thần-tông, làm chức Hữu Bộc-xạ, gia Thị-trung, phong Ngụy quốc-công, thiên-tư trung-thành chất-phác, dám nói dám làm, đáng là bậc Tể-tướng hiền-năng.
    Hai ông (Đỗ-Hoàng-Thường và Hàn-Kỳ) ngày sau một người làm Tể-tướng, một người làm tướng-quân, công-nghiệp cao-siêu không ai sánh bằng, vì bởi quý ở việc được chức-vị để hành đạo (1) chớ không phải để cầu lợi lộc.

    Người quân-tử trước hết lập chí ở việc lớn-lao, thì [27b] những vật giả sử có đến cũng không đủ để động đến tâm linh của mình.

    Hủy hoại danh-dự hạnh-kiểm bình-sinh của mình để trành giành một bậc hay nửa cấp trong quan trường, đó là điều bần tiện, chỉ có kẻ bần tiện làm mà thôi. Còn bảo người đảm đương công việc của vũ-trụ làm việc ấy có được không?

    Người quân-tử chỉ lẳng-lặng cẩn trọng, cho nên gặp cảnh cùng ách mà không lo sợ, chỉ điềm-đạm, cho nên bị bỏ rơi mà không hối tiếc.

    Công-nghiệp lớn-lao xa-vời va phúc lộc lâu dài đều là ở đấy cả.

    Ngựa để thắng hàng ngàn cỗ xe (mỗi cỗ xe thắng bốn con ngựa) mà không thèm nhìn đến, lộc để ăn có hàng muôn chung (2) mà không thèm ngoảnh lại, cho

    --------
    (1) Hành đạo, thực-hành điều mình đã học.

    (2) Chung, đồ để đong lường đựng 6 hộc đến 4 đấu.
    --------

    nên mới có sự-nghiệp hưng vượng nhà Thương (1).

    Nhà ở Thành-đô chỉ có 800 gốc dâu, ruộng xấu chỉ có 50 khoảnh (2), cho nên có công danh giúp nhà Hán (3).

    Từ xưa những người đã dựng lên sự-nghiệp lạ-lùng vĩ-đại chưa từng không từ cảnh đạm bạc mà ra.

    Lúc ông lui về ở ẩn (4) vùng Đông-sơn mọi người đều mong đợi ông sẽ làm quan to bậc tam-công tứ-phụ, cuối cùng ông đã phò xã-tắc yên lành trong niên-hiệu Hàm-ninh (275-279) và Thái-khang (280-289) (5) đời vua Tấn Hiếu-vũ đế.

    ------

    (1) Nói ông Y-Doãn giúp nhà Thương. – Ông Y-Doãn là Tể-tướng hiền-năng của nhà Thương, tên là Chí, đi cày ở cánh đồng của họ Hữu-Sân, vua Thành-Thang ba lần đem lễ-vật đến vời, ông mới ra giúp vua Thành-Thang đánh vua Kiệt, diệt nhà Hạ. Ông Y-Doãn có công nhiều nhất được vua Thành-Thang tôn làm A-Hành. Vua Thành-Thang băng, cháu nội là Thái-Giáp vô đạo, ông Y-Doãn đưa ra ở đất Đồng. Sau ba năm Thái-Giáp cải hồi, ông Y-Doãn đưa về đất Bạc lên làm vua. Ông Y-Doãn thọ được 100 tuổi thì mất, được vua Ốc-Đinh chôn cất theo nghi-lễ của thiên-tử.

    (2) Khoảnh, là 100 mẫu.

    (3) Nói ông Gia-Cát-Lượng đã phò Hán tiên chủ Lưu-Bị (đã chú ở trước).

    (4) Nguyên văn : Bình cư là lui về ở ẩn.

    (5) Nói ông Tạ-Ăn, người ở đất Dương-hạ đời Tấn, tự là An-thạch, phong độ thanh tú, thần thức trầm lặng minh mẫn, lúc trẻ đã nổi danh, ở ẩn vụng Đông-sơn ở Cối-kê, sau nhận lời Hoàn-Ôn ra làm quan Tư-mã. Hoàn-Ôn uy-quyền chấn động cả trong ngoài, âm-thầm có chí soán ngôi. Tạ-An và Vương-Thản-Chi tận trung giúp vua, cuối cùng được an hòa. Khi Hoàn-Ôn mất, ông làm Thượng-thư Bộc-xạ, lãnh chức Trung-thư-lịnh. Bồ-Kiên đem binh trăm vạn đồn ở Hoài-Phi, kinh-đô nhà Tấn chấn động. Ông làm Chinh-bảo Đại Đô-đốc, chỉ-huy tướng súy, cả phá quân giặc, sau thăng chức Thái-bảo, ra trấn ở Quảng-lăng, bịnh nặng trở về triều thì mất.
    -------

    [28a] Ông lui về ở Lạc-dương, thiên-hạ cho là bậc chân tể-tướng. Cuối cùng ông đã giúp thành cuộc yên trị trong niên-hiệu Nguyên-hựu (1086-1092) đời vua Tống Triết-tông (1).

    Từ xưa, đảm đương việc lâu dài vĩ đại chưa từng có người nào không từ chỗ ninh tĩnh (yên-ổn lặng-lẽ) mà ra.

    Người xưa nói : “Thời làm tể-tướng đến thì cứ làm. Người quân-tử, đức nghiệp đã sửa trau, lịch-duyệt đã thành-thục, danh-vọng đã lâu ngày, thứ-tự đã đưa đến, tự nhiên phải cầm quyền-bính”.

    Đương lúc cầm quyền mà được vua tin cậy, sĩ phu vui mừng, quan đại phu kính phục, trong triều ngoài nội đều tin tưởng, rồi sau mới có thể tại chức được lâu dài mà đem những học-vấn chứa chất bấy lâu ra thực-hành.

    Nếu chư được như thế mà đem trí lực ra doanh cầu (quyền cao chức trọng) thì chỉ chuốc lấy những tội-lỗi và tổn thương đến hậu phúc mà thôi.

    Tạ-An lui về ở Đông-sơn. Vợ ông cho là gia thế sang cả mà riêng thích lui về nơi yên tĩnh thì rất không vừa lòng. Tạ-An bảo :

    ---------
    (1) Nói ông Tư-mã Quang, người đời Tống, tự là Quân-thực, trong niên-hiệu Bảo-nguyên đỗ Tiến-sĩ, làm đến chức Đoan-minh học-sĩ, trong thời vua Thần-tông, đã cực-lực phản-đối tân-pháp Thanh-miêu trợ dịch của Vương-An-Thạch là bất tiện, nghịch ý với Vương-An-Thạch. Ông ra làm Tây-kinh Ngự-sử rồi lui về Lạc-dương. Khi vua Triết-tông lên ngôi, ông vào triều làm Tể-tướng, bãi bỏ hết Tân-pháp của Vương-An-Thạch, mất lúc tại chức, được tặng Ôn quốc-công.
    ----------