31.08 - hhongxuan (type done)

28/8/15
31.08 - hhongxuan (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-a3QzeS1lSm5LZ0U/view?pli=1


    - Ta sợ không khỏi đi làm quan đâu.

    Rồi [28b] lời trưng vời của triều-đình cứ đến luôn, cuối cùng Tạ-An phải ra làm Đài-phụ (1).

    Lý-Bí (2) được vua Túc-tông quyến mộ, ông cố từ chứcTể-tướng, lui về ở núi Hành-sơn. Ông Nguyên-Tái (3) và

    Thường-Cổn (4) được tiến dụng trước, còn Lý-Bí thì trái

    ---------
    (1) Đài-phụ, tức Tể-phụ là Tể-tướng.

    (2) Lý-Bí, người ở đất Kính-triệu đời Đường, tự là Trường-nguyên7 tuổi đã viết văn, được người ta khen là kỳ-đồng, lớn lên bác thông,kinh sử, nghiên cứu Dich tượng, giỏi thơ, thích thuyết thần tiên, trong niên-hiệu Thiên-bảo học đạo ở núi Tung-sơn, nhưng lại dângthư luận thế sự, được đưa vào Hàn-lâm, thờ Túc-tông lúc còn làm

    Thái-tử, bị Dương-Quốc-Trung không ưa, trở về ẩn ở núi sâu. Khi An-Lộc-Sơn làm loạn, Túc-tông lên ngôi ở Linh-vũ, ông được vua thân-mật kính trọng, nhưng ông cố từ quan tước mà không được phải nắm giữ khu mật vụ, quyền bính còn hơn Tể-tướng, bị Lý-Phụ-Quốc ganhghét, ông lại lui về ở ẩn. Vua Đại-tông lên ngôi, vời ông ra làm Bí-thư-giám, ông bị bọn Nguyên-Tái không ưa, phải ra làm Thứ-sử Sở-

    Châu, rồi Hàng-châu. Trong thời vua Đức-tông, Chu-Thử làm loạn, nhà

    vua đến Phụng-thiên, vời ông đến Hành-tại trao cho chức Trung-thư

    Thị-trung đồng binh chương sự. Vuamuốn phế Thái tử Tụng, nhờ ôngra sức can gián mới thôi. Ông được phong Nghiệp-hầu.

    (3) Nguyên-Tái, người ở đất Kỳ-sơn đời Đường, tự là Công-phụ, thông hiểu Lão-tử, Trang-tử và Liệt-tử, đầu niên-hiệu Thiên-bảo bị cử vào Cao-đệ, khi Lý-Phụ-Quổc cầm quyền, ông làm Trung-thư môn hạbinhchương sự, khi vua Đại-tông lên ngôi, ông làm Trung-thư Thị-lang,về sau ông chuyên quyền, cho các con ăn hối-lộ, bài xích người trungthần hiền-năng, vua răn trách mà không thôi, vua ra lịnh cho tự-sát.

    (4) Thường Cổn, người ở đất Kinh-triệu đời Đường, trong niên-hiệu Thiên-bảo đỗ tiến-sĩ, trong thời vua Đại-tông làm Môn-hạ thị-lang đồng binh chương sự, tước Hà-nội Quận-công, tính hà khắc nhỏ mọn, khi vua Đức-tông lên ngôi, bị biếm làm Thứ-sử Từ-châu, đầu niên-hiệu Kiến-trung, làm Quan-sát sứ ở Phúc-kiến, mở trường dạy người chưa học, chết tại chức, có văn tập.
    -----------

    lại vẫn lận-đận ở chức mạc-liêu (1) trong tám chín năm một cách khoan thai, chẳng bao lâu ở chức Thứ-sử được thăng làm Tể-tướng.

    Hai ông Tạ-An và Lý-Bí được sự ngưỡng vọng của đương thời rất trọng mà vẫn thản-nhiên phóng đãng vui thú, lúc đầu không để ý đến nhiệm-vụ lớn-lao mà trọng-trách của quốc-gia và thiên-hạ đều đặt nặng vào mình cho đến lúc không thể được từ chối. Đó hà là duyên cớ trong một sớm một chiều hay sao? Tất nhiên vì cách tự xử bấy lâu vậy.

    Hàn Ngụy-Công (2) là bề tôi danh-tiếng của nhà Tống, thường lấy trong sách Biệt-lục của Nham-Tẩu (3) sưu-tập, có nhiều cách-ngôn chí luận, nay xin chép ra sau đây :

    Ông thường nói : “ Năng bình đắc hữu kỷ chi tâm tắc hiền hĩ [] [] [] = dẹp được lòng ích kỷ là người hiền-năng.

    Người ta chẳng ai [29a] là không nói được điều nầy, đến khi thực-hành thì đối với phần lớn là việc khó. Phải để ý vào điều nầy, chớ cho là dễ.

    Ông lại nói : “ Nội cương bất khả khuất, nhi ngoại năng xử chi dĩ hòa giả, tắc sở tế (4) đa hĩ [] [] []

    ---------
    (1) Mạc-liêu, chức thuộc quan trong mạc-phủ của tướng súy.

    (2) Hàn-Ngụy-Công tức Hàn-kỳ, được phong Ngụy Quốc-công.

    (3) Nham-Tẩu tức Vương Nham-Tẩu, người ở đất Thanh-bình đời Tống, tự là Ngạn-lâm, thi tỉnh và thi đình đều đỗ hạng nhất, làm quan đến chức Thị Ngự-sử, có viết sách Hàn Ngụy công biệt lục.

    (4) Tế [], là thành công, ích lợi.
    ---------

    [] [] [] = Ở trong cứng chỏ bất-khuất mà ở ngoài cư-xử được ôn-hòa thì nhiều thành-công lợi ích.

    Ông lại nói : “ Duyệt nhân đa hĩ, cửu nhi bất biến vi nan [] [] [] = Xem xét người đã nhiều, lâu dài mà không biến đổi là khó.

    Ông lại nói : “Dĩ chi ngộ tắc khả dĩ thành công, dĩ chi bất ngộ tắc khả dĩ miễn họa, kỳ duy hối hồ? [] [] [] = Mong rằng gặp thời thì có thể thành công, không gặp thời thì có thể tránh khỏi tai họa, thì còn hối tiếc nữa hay sao?

    Ông lại nói : “Nhân tình vi xứ, đương thâm thể chi. Nhược trực dụng kỷ ý dĩ xử, tắc sở thất đa hĩ [] [] [] = Chỗ nhỏ nhen của tâm-tình con người, mình phải thông-cảm sâu xa. Nếu dùng thẳng ý-kiến của mình mà cư-xử thì nhiều thất bại.

    Ông lại nói : “Tri kỳ vi tiểu-nhân, tiện dĩ tiểu-nhân xử chi, cánh bất tu giáo (1) dã [] [] [] = Biết họ là tiểu-nhân, thì lấy tiểu-nhân mà cư-xử với họ, hẳn là chớ so-đo.

    Ông lại nói : “Quân-tử tuần lý nhi động, tình dĩ tự cư. Họa phúc chi lai phi sở hoặc dã [] [] [] = Người quân-tử theo lẽ phải mà hành-động, bình tĩnh mà ăn ở, việc họa phúc đưa đến không làm cho họ rối loạn buồn phiền.

    Ông lại nói : “ Quả dục, sự tự giản [] [] [] = Ít ham muốn thì mọi việc tự nhiên sẽ giản tiện.

    ----
    (1) Giáo [], so-sánh.
    ------

    Ông lại nói : “Năng thức lý tắc sự sự vô ngại hĩ [] [] [] = Hiểu biết được lẽ phải thì mọi việc không bị trở ngại.

    Ông lại [29b] nói : “Dục hành đại tiết, bất tranh tiểu phẫn [] [] [] = Muốn thành việc lớn-lao, chớ tranh hơn thua việc giận cỏn-con.

    Ông lại nói : “Phú quý dị đắc, danh tiết nan bảo [] [] [] = Giàu sang thì dễ được, còn danh-dự và tiết-tháo thì khó bảo-toàn.

    Ông lại nói : “ Tại tướng-phủ hữu nan xử sự, cai thiên-hạ vô hữu tận như ý giả, tu đương hàm nhẫn. Bất nhiên, bất khả nhất nhật xử dã [] [] [] = Ở phủ Tể-tướng có điều khó xử sự, vì thiên-hạ không có việc trọn như ý mình. Phải nhẫn nại. Nếu không như thế thì không thể ở một ngày ở phủ Tể-tướng được.

    Ông lại nói : “Đãi uy nhi hậu tế giả diệc thị dã. Nhiên diệc hữu bất tu uy nhi năng tế giả [] [] [] = Dùng uy-quyền để nên việc cũng là phải. Nhưng cũng có khi không cần uy quyền mà cũng nên việc.

    Ông lại nói : “Đại thần dĩ Lý-Cố (1) Đỗ Kiều (2) vi bổn.

    -----------
    (1) Lý-Cố, người đời Hậu Hán, tự là Tử-kiên, lúc trẻ học rộng, trong thời vua Trùng-đế (145 trước Tây-lịch) làm Thái-úy. Trùng-đế băng, Chất-đế bị thi, Lý-Cố và Đỗ-Kiều muốn lập Thanh-hà vương làm vua, Lương-Kỳ lại lập Hoàn-đế lên ngôi, vu cáo cho Lý-Cố. Lý-Cố bị hạ ngục và bị giết.

    (2) Đỗ-Kiều, người đất Lâm-lự đời Hậu Hán, tự là Thúc-vinh, trong thời vua Thuận-đế (125-144) làm chức Đại-tư nông, vì con em của Lương-Ký 5 người và bon Trung thường thị không công lao mà được phong, tha-thiết can gián vua mà bị gièm siễm và chết trong ngục.
    -----------

    Kỳ tệ do khủng vi Hồ-Quảng (1) Triệu-Giới (2). Dĩ Hồ Triệu tự xử, tệ khả tri giả dã [] [] [] = Làm bậc đại thần thì lấy Lý-Cố và Đỗ-Kiều làm gốc, tệ nữa thì sợ lảm như Hồ-Quảng Triệu-Giới. Tự xử như Hồ-Quảng Triệu-Giới thì mối tệ có thể biết được.

    Ông lại nói : “ Xử sự bất khả hữu tâm (3). Hữu tâm tắc bất tự nhiên. Bất tự nhiên tắc nhiễu [] [] [] = Quyết đoán công việc chớ nên cố ý. Cố ý thì không tự nhiên. Không tự nhiên thì làm phiền rối.

    Ông lại nói : “Tài khí tu chu khả dương bát diện nhập thô nhập tế, nãi kinh luân sự nghiệp [] [] [] = Tài-năng và độ-lượng phải đầy-đủ để đương với tám phía, to cũng vào lọt, nhỏ cũng vào lọt, mới mưu đồ được sự-nghiệp.

    Ông lại nói : “Thành đại sự tại đảm” [] [] [] = Làm nên việc lớn-lao là nhờ ở gan mật.

    ----------
    (1) Hồ-Quảng, người đời Hậu Hán, tự là Bá-thủy, trong thời vua An-đế (106-125) thi đỗ Hiếu-liêm. đứng đầu trong thiên-hạ, làm Thượng-thư lang, thiên chức Tư-đồ, có công lập vua Hoàn-đế được phong Dực-dương an lạc hương hầu, lại làm Thái-úy, thiên Thái-phó, thờ tất cả 6 vua : An-đế, Thuận-đế, Trùng-đế, Chất-đế, Hoàn-đế, Linh-đế.

    (2) Triệu-Giới, người đời Hậu Hán, ở Thành-đô, làm Nam-dương Thái-thú, tâu xin miễn chức những tham quan, làm chức Thái-úy, có công lập vua Hoàn-đế, được phong Trù-đinh hầu.

    (3) Hữu-tâm, 1. Lòng phát sinh ý niệm gì. 2. Để lòng sâu-sắc nhỏ-nhặt kín-đáo. 3. Cố ý.
    ------

    [30a] Sách Nhan thị đàm lục chép : Phàm tướng nhân yếu vu đắc thất vinh nhục chi tế quan kỳ động phủ tiện khả tri kỳ chi đại tiểu, nhiên hậu kiến kỳ nhân chi tiền trình [] [] [] = Xem tướng mạo người nào, cốt xem người ấy có động tâm hay không ở lúc được mất và vinh nhục thì có thể biết độ-lượng của người ấy lớn hay nhỏ, rồi sau mới thấy được tương-lại của người ấy.

    Sách ấy lại chép : Tác quan tu sự sự yếu tri, như canh lê chi cụ diệc yếu tri chế tác, cái lâm chinh lợi dân diệc hữu tiện xứ [] [] [] = Làm quan phải biết mọi việc, như lưỡi cày cũng phải biết chế-tạo, bởi vì làm việc chính làm lợi cho dân cũng có chỗ thuận tiện.

    Sách ấy lại chép : Tác quan tu thả tọa nhi quan chi, cửu nhi hậu khả phát [] [] [] = Làm quan phải ngồi mà xem xét cho lầu rồi sau mới có thể ra lịnh mà xử trí.

    Sách ấy lại chép : Bất hoạn tác văn tự bất tinh, hoạn bất năng trì thân dữ lập sự nhĩ [] [] [] = Chớ lo làm văn không tinh, hãy lo không thể giữ thân và gầy dựng sự-nghiệp.

    Sách ấy lại chép : Phàm năng hư thụ nhân tắc vô thành phủ (1). Vô thành phủ tắc vô nghi, vô nghi tắc

    -------
    (1) Thành phủ, chỗ sâu-xa bí-ẩn trong lòng. Tâm địa bằng-phẳng rõ-ràng thì nói là hung vô thành phủ, ngược lại thì nói thành phủ phả thâm.
    -------

    thành hĩ [] [] [] = Hễ thừa tiếp người mà không có cố-chấp thành-kiến thì không có điều bí-ẩn trong lòng. Không có điều bí-ẩn trong lòng thì không nghi ngờ. Không nghi-ngờ thì thành thật.

    Sách ấy lại chép : Phàm tại Trung thư giả, tự bình sinh độc thư, học thành chi đạo cập khả dụng chi xứ, phản bất dụng chi, kỳ bổ tắc lợi lộc sở cốt, tắc thông minh hữu [] [] [] = Hễ người ở chức vị Trung-thư (Tể-tướng) mà trái lại không đem dùng những điều từ bình sinh đã đọc sách, học đạo của thánh hiền và những chỗ có thể dùng, thì căn bổn phải bị lợi lộc làm chìm đắm và trí thông-minh cũng bị che mờ.

    Trương-Vịnh (1) không lấy tai và mắt ủy thác cho người ta mà đi tìm hỏi việc trong dân gian, tất nhiên được sự thật.

    Lý-Điển (2) hỏi là ý làm sao?

    Ông đáp : “Vì người ta có điều ưa ghét làm loạn trí thông-minh của ta. Nhưng ở mỗi người, ta theo đảng phái của học mà hỏi”.

    -----
    (1) Trương-Vịnh, người đời Tống, tự là Phục-chí, hiệu là Quai-nhai, trong niên-hiệu Thái-bình Hưng-quốc (976-983) đỗ Tiến-sĩ, làm quan đến chức Khu-mật trực học-sĩ, sau thiên Lại-bộ Thượng-thư.

    (2) Lý-Điển, người ở đất Hoa-dương đời Tống, nổi tiếng trong làng vì việc học tập, lúc đầu không có ý ra làm quan, được Trương-Vịnh khuyến-khích mới đi thi đỗ, tự gọi là Cốc-tử, có viết sách Ca thi tạp văn, Trương-Vịnh ngữ lục.
    -----

    Ông lại nói : “Hỏi người quân-tử thì được quân-tử. Hỏi đứa tiều-nhân thì được tiểu-nhân, tuy có giấu-giếm, mình cũng được tám chín phần mười sự thật rồi”.

    Ông Âu-dương-Tu thường nói : “ Phàm trị dân, không cần hỏi : viên chức nầy có tài-năng hay không? Cách thi-hành xếp đặt như thế nào? Hễ dân khen viên-chức ấy là tiện nghi, thì đó là viên chức tốt”

    Có người hỏi :”Ông làm việc chính khoan-dung giản-dị mà việc không bỏ bê là tại làm sao”?

    Ông đáp : “Lấy không bó buộc làm khoan-dung, lấy sơ-lược làm giản-dị thì công việc bỏ-bê mà dân phải chịu điều tệ hại. Tôi khoan-dung là không hà-khắc, tôi giản-dị là không làm phiền-phức”.

    Người hiểu biết cho là ông biết nói.

    [31a] Lý-Nhược-Cốc dạy học-trò trong nhà ông rằng : “Người ta phải thanh (trong sạch), cần (siêng năng), hòa (thuận hòa) và hoãn (thong-thả)”.

    Các học-trò thưa : “Người ta phải thanh bạch, siêng năng, thuận hòa, thì đã nghe thấy giảng rồi. Còn thong-thả (hoãn) là để làm gì?

    Lý-Nhược-Cốc đáp : “Trong thiên-hạ bất cứ việc gì hễ làm trong hấp-tấp thì hỏng”.

    Trong niên-hiệu Khai-nguyên (713-741) đời Đường, lời

    Của vua huyềnt0 khuyên răn kẻ bề tôi có câu tự thành danh ngôn có thể làm phép tắc.

    Dạy sứ-giả ở các châu tụ tập đến chầu có câu :

    Kính kỳ-lão, tuất quỳnh (1) độc, chính gian đạo, trượng cường hào, nhân bất cảm khi, lại bất cảm phạm, điền trù khẩn tịch, linh ngữ không hư, dao phú tất bình, bô đào tất phục, môn đỗ thỉnh thác, ngục vô trệ lưu. Nhược thị nãi vi phụng chức [] [] [] = Kính người già cả, thương kẻ mồ-côi và người già cả không con cái, sửa trị kẻ gian phi trộm cướp, đánh kẻ cường hào, thì người không dám dối trá, chức viên không dám xâm phạm, ruộng nương được khai-khẩn mở-mang, lao tù trống không, xâu thuế được nhẹ-nhàng, người trốn-tránh quay về, cửa đóng ngăn người đến cầu xin gởi gắm, việc xử án không đình trệ. Nếu được như thế mới là làm tròn chức vụ.

    Dạy các Đô-đốc Thứ-sử có câu :

    Chính tại dưỡng nhân. Thổ phiền tắc thảo mộc bất trường, thủy phiền tắc ngư biết bất đại tất dã. Khoan thứ quý hồ thanh tĩnh. Nghi vấn tật khổ, chửng bần lao, đỗ [31a] xâm ngư (2), sát oan ngục, chí ư phú dịch vưu nghi tỉnh giảm. Kỳ hữu bất tiện ổn giả tùy sự điều tấu [] [] []

    -------
    (1) Quỳnh, côi, mồ-côi.

    (2) Xâm ngư, xâm đoạt
    -------

    = Chính-trị là ở nuôi dưỡng nhân-dân. Đất xấu thì cỏ cây không cao, nước xấu thì cá ba-ba (cua-đinh) không lớn, đó là lẽ tất nhiên. Khoan thứ quý ở thanh-tĩnh. Phải thăm viếng người đau khổ, cứu giúp người nghèo khó lao nhọc, chận ngăn việc xâm đoạt, xem xét những án oan uổng. Đến như thuế-má và sưu-dịch, hơn hết phải giảm bớt, nếu có việc không ổn tiện thì tùy theo việc mà điều-trần tâu lên.

    Dạy các viên sứ tụ tập về chầu có câu :

    Nghi vấn tật khổ, sùng giản huệ, khuyến nông sắc, đôn học hiệu, lợi nhi vật hại, tĩnh tắc tự an [] [] [] = Nên viếng thăm người đau khổ, chuộng giản-dị và ân-huệ, khuyến-khích việc cấy gặt, đôn-đốc việc học-tập, làm lợi chớ gây hại cho dân, trầm tĩnh thì tự yên.

    Nhà vua lại bảo : “Đài sảnh xử phân bất tiện ư thời giả, cụ lợi hại tấu văn, vật y tùy dĩ tổn bách tính” [] [] [] = Các quan ở đài-sảnh (1) phân-xử có điều gì bất tiện đối với thời-thế thì bày đủ những lẽ lợi hại mà tâu lên, chớ cứ noi theo mãi mà tổn hại đến trăm họ.

    Dạy Đốc-tướng có câu : Biến bô tri chi tục vi bất bạn chi thần, tất dã nhân minh, tại hồ thanh chính. Nhược chỉ.

    ------
    (1) Đài-sảnh, Đài là tam đài : Thượng-thư là Trung-đài, Ngự-sử là Hiếu-đài, Yết-giả là Ngoại-đài. Sảnh là lục-sảnh : Thượng-thư, Hoàng-môn, Trung-thư, Bí-thư, Điện-trung, Nội-thị.
    ------