31.09 - Vulinh236 (type done)

17/9/15
31.09 - Vulinh236 (type done)
  • Cao bất nhuận mao phát, vô kỳ bỉ đương ái quan lại như phụ mẫu, ngưỡng quốc gia như thiên địa. Chư thiên quy hàng, sắc loại phi nhất, phong tục vị thông, ngôn ngữ bất đạt, sở tại chư châu mục tưởng nghi thường gia tồn tuất, thân kỳ oan, tận kỳ lý, vấn tật khổ, tri cơ hàn, [32] công tư bất nghi hữu xâm, cự tế tất linh vô nhiễu. (chữ hán) = muốn biến cái tục không hiểu biets thành kẻ bề tôi không phản-bội tất nhiên phải có nhân huệ sáng-suốt và do ở sự trong sạch chính đáng. Như dầu mỡ mà không làm trơn mướt lông tóc thì chớ mong họ thương quan lại như cha mẹ, ngưỡng trông quốc gia nhưu trời đất. Các phiên thuộc quy hàng có nhiều người khác nhau, phong tục chưa thông, ngôn-ngữ không hiểu, thì các châu mục tưởng sở tại phải thường thường hỏi thăm thương xót đến họ, giải tỏa nỗi oan uổng của họ, xét suy cho cạn lẽ, hỏi thăm nỗi đau khổ của họ, hiểu biết điều đói rét của họ, của công của tư không nên xâm phạm đến, việc to việc nhỏ hẳn nhiên chớ làm cho họi rối phiền.

    Răn dạy các huyện lịnh có câu:

    Vô đại vô tiền, tất cung tất linh (chứ hán) = Không kể việc vớn việc nhỏ, mọi việc mình tự làm lấy.


    Răn dạy các quan có câu:


    Thanh tĩnh giải chính chi bổn. Hòa bình giả quốc chi phúc (Chữ hán) = Thanh tĩnh là gốc của chính-trị. Hòa bình là phúc của quốc-gia.


    Răn dạy các quan ở ngoài có câu:

    Châu huyện hữu hảo quan trưởng, đồng lieu khỉ cảm vi pháp? (chữ hán) = Ở châu huyện có trưởng quan tốt thì các đồng lieu há dám làm điều trái phép?


    Răn dạy các quan Tuần-phủ có câu:


    Ngự-sử xuất sử, cử-chi phi pháp, cầu thân bât chính, an năng chính nhân (chữ hán) = Quan ngự-sử ra trấn nhiệm ở ngoài có những cử-chỉ phi-pháp, nếu bản thân không đứng-đắn thì làm sao sửa cho người đứng-đắn được?


    Răn dạy các quan Thương-thư lang có câu:


    Thượng-thư Lễ các, quốc chi chính bổn, như đãi ư chính, duy dưỡng vọng, án độc đỉnh ủng, điển lại thự cầu, dục sở tứ phương, hà dĩ thủ tắc? (chữ hán) = Thượng thư bộ Lễ và Nội-các là căn-bổn của nền chính-trị quốc-gia, như biếng lười việc chính, chỉ nuôi danh vọng, giấy tờ đình trệ chồng chất, các điển-lại (1) nhận của đút lót, như thế mà muốn sai khiến thiên hạ trong bốn phương thì lấy gì làm phép tắc?

    Những câu trên đây là những lời tinh thâm tha-thiết, người làm quan phải biết.

    Đầu niên-hiệu Cảnh-hựu (1034-1037) đời Tống Nhân


    ______________________


    (1) Điển lại, các chức viên làm việc ở Châu phủ huyện


    Tông, quan ở Long-đồ các là Mai-Công-Chi ra làm Tri-châu ở Chiêu-châu có viêt bài Chướng-thuyết (1) cho khắc ở bờ [32b] đã như sau:

    (chữ Hán)


    SĨ HỮU NGŨ CHƯỚNG:

    1) Cấp chinh, bạo liễm, bác hạ, phụng thượng, thử tô thuế chi chướng dã.

    2) Thâm văn (2) dĩ sinh, lương ác bất bạch, thử hình ngục chi chướng dã.

    3) Thần hôn túy yến, phế thỉ vương sự, thử âm thực chướng dã.


    ___________________

    (1) Chướng, là khí độc ở núi rừng dễ làm người ta sinh bịnh. Ở đây nói về những mối tệ hại của quan liêu.

    (2) Thâm văn, dùng pháp-luật thâm khắc.


    4) Xâm đoạt dân dĩ thự tư trừ, thử hóa tài chi chướng dã.

    5) Thịnh giản cơ thiếp dĩ cung thỉnh sắc, thủ duy bạc chi chướng dã.

    Hữu nhất ư thử, dân oán thần nộ. Đắc giả tất bịnh. BỊnh giả tất vẫn, tuy tại hạ cốc (1) diệc bất khả miễn, hà đãn viễn phương nhi dĩ. Sĩ giả hoặc bất tự tri, nãi quy cửu u thổ chướng bất diệc mậu hồ?

    Dịch nghĩa:

    Người làm quan có năm cái tệ hại:

    1) Thúc giục thuế gấp quá, thu thuế nặng-nền quá tàn-bạo, bốc lột kẻ dưới, cung phụng người trên, đó là cái tệ hai về thuế mà.

    2) Dùng pháp-luật thâm-khắc để sinh ý, không phân biệt người lương-thiện kẻ gian ác, đó là cái tệ hại về hình án.

    3) Sớm tôi say-sưa yến-tiệc, bỏ phế việc của vua, đó là cái tệ hại về ăn uống.

    4) Chiếm đoạt môi lợi của dân để chứa đầy của tích trữ riêng, đó là cái tệ hại về tiền của.

    5) Chọn hầu thiếp cho nhiều để cung ứng về âm-nhạc về nữ-sắc, đó là cái tệ hại về phòng the.

    Có một trọng những cái tệ hại nầy thì sẽ bị nhân-dân oán ghét, thánh thần phẫn nộ. Mắc phải những tệ hại ấy

    _________________________________

    (1) Cốc hạ, ở tại kinh-đô


    thì bị bịnh, đã bịnh thì phải chết, tuy ở tại kinh-đô cũng không thể tránh khỏi được, nào chỉ ở phương xa mà thôi đâu.

    Làm quan, có người không tự biết như thế nào lại đổ tội cho chướng khí và phong-thổ thì chẳng là lầm hay sao?

    Lời nói nầy, người làm quan phải ghi khắc bên chỗ ngồi (1) để tự giới răn.

    Sách Tây-sơn Chân thị (2) tập chép bốn châm-ngôn của Vương-mại như sau:

    (chữ hán)

    ______________________

    (1) Ngyên văn: Đương minh tọa hữu, phải ghi khắc bên chỗ ngồi để tự giới răn.

    (2) Tây-sơn Chân thị (họ Chân ở Tây-Sơn) tức Chân-Đức-Tú, người dất Phố thành đời Tống, Tự là Cảnh-Nguyên, sau đổi là Cảnh-hy, trong niên-hiệu Khánh-nguyên đỗ Tiến-sĩ, làm quan đến chức Tham-tri chính sự, đứng ở trong triều 10 năm, tấu sớ có đến mấy mươi vạn chữ, đều là những việc thiết yếu. Cái học của ông là theo phái Chu-Hy,học-giả gọi ông là Tây-sơn tiên sinh. Sách của ông đã viết có: Đại học diễn nghĩa, Độc Thư ký, Văn chương chánh tông, Tây sơn giáp ất cảo, Tây-sơn văn tập.

    (3) Vương-Mại, người ở dất Tiên-du đời Tống, tự là Quán-chi, hiệu là Cù-hiên, một hiệu nữa là Sắc-tử cuồng sinh, trong niên-hiệu Gia-định đỗ tiến-sĩ, lập-thân bằng học vấn từ chương, làm quan đến chức Tri-hiệu vũ quân, có viết sách Cù hiên tập.


    (chữ hán)

    Nhất viết: Luật kỷ dĩ liêm, duy sĩ chi liêm do nữ [33a] chi khiết, cầu nhất hào chi điếm ô vi chung thân chi điếm khuyế.

    Vô vị ám thất, chiêu chiêu từ tri (1), nhữ bất tự ái, tâm

    _______________

    (1) Nguyên văn: Tứ tri là bốn người biết: Theo Truyện Dương-Chấn trong sách Hậu-Hán thư, Dương-Chấn sợ có bốn người biết,- Vương-Mật là chức Lịnh ở Xương-ấp, ban đêm đem mười cân vàng đến tặng cho Dương-Chấn và nói: “Đêm hôm không có ai biết đâu!” – Dương-Chấn đáp : “ Trời biết,thần biết, tôi biết, anh biết, sao lại bảo là không ai biết”.


    Chi thần minh kỳ khả khi hồ? Hoàng kim ngũ lục đà, hồ-tiêu bát bách hộc, sinh bất túc dĩ vi binh, thiên tải chi hậu hữu dư lục (1).

    Bỉ mỹ quân tử, nhất hạc nhất cầm (2), vọng chỉ nghiễm nhiên thanh phong cổ kim.

    Nhị viết: Phủ dân dĩ nhân, cổ giả ư dân cơ khát do kỷ, tâm thành cầu chi nhược bão xích tử.

    Ô hô! Nhập thất tiếu ngữ ẩm lễ ngão phì. Xuất tắc khao phốc, tằng thống dương chi bất tri. Nhân tâm bất nhân, nhất chí ư tư.

    Thục vấn (3) chi trạch nhất thế do kỷ. Khốc thự chi hậu, kim kỳ dư kỷ? Thùy can tiểu-nhân nhi bất vi quân-tử?

    Tam viết: Tồn tâm dĩ công, hậu nhân á, cận tiểu nhân, Doãn thị sở dĩ [33b] bất binh ư bỉnh quân (4).

    ________________________

    (1) Lục, nhục.

    (2) Nhất hạc nhất cầm, đi làm quan chỉ mang theo một con chim hạc và một cây đàn – Triệu biện, người ở đất Tây-an đời Tống, tự là Duyệt-đạo, đỗ Tiến-sĩ, đầu niên-hiệu Cảnh-hựu (1034-1037) làm quan đến chức Điện-trung Thị ngự-sử, cứng cỏi chính-trực đứng ở triều đình, hài tội-lỗi các quan không kiêng kỵ, tay quyền quý, người đời khen là Thiết-diện ngự-sử (quan ngự sử mặt sắt), ra làm quan ở Thành-đô chỉ đem theo một con chim hạc và một cây đàn, chính-trị của ông rất giản-dị. Khi vua Thuần-tông lên ngôi, ông được cất nhắc lên làm Tham-tri chính sự. không hợp với Vương-An-Thạch, ông tri sĩ về hưu. Ông có viết Triệu thanh hiến tập.

    (3) Thục vấn, khéo trả hỏi kẻ tù tội.

    (4) Bỉnh quân, cầm quyền.

    Khai thành tama, bố công đạo. Vũ-hầu (1) sở dĩ độc ưu ư vương tá (2). Cố viết; bổn tâm nhật nguyệt, lợi dục thực chi.

    Đại đao khang trang, thiên kiến trất chỉ. Thính tín thiên, tắc uổng đạo nhi huệ gian. Hỉ nộ thiên, tắc thường tiếm nhi hình lạm. Duy công tắc, sinh thiên tắc sinh ám.

    Tứ viết: Lỵ sự dĩ cần, nhĩ phục chi hoa, nhĩ soạn chi phong, nhàm ty lữ dữ cốc túc giai dân lực hồ nhĩ cung. Cư yên nhi khoáng quyết quan, thực yên nhi đãi quyết sự, sảo hữu nhân tâm, hồ bất tự quý.

    Tích giả quân tử, mỹ tố kỳ xan, viên hãn giáp cốt, nhật bất tử gian, cảnh chẩm (3) kế công, dạ bất hoàng an, thùy vi ngã sư? Nhật Phạm nhất Hàn.

    Dịch nghĩa

    Thứ nhất – Lấy kỷ luật giữ mình cho thanh liêm, đức thanh liêm của kẻ sĩ cũng như đức trinh-khiết của phụ nữ, một tí nhơ bợn là tỳ-vết xấu suất đời.

    Chờ bảo trong nhà tối tăm (thì không ai hay biết). Rõ-ràng có bốn người biết (Trời biết, thần biết, tôi biết, anh biết). Người không tự-ái, nhưng tinh-thần sáng-suốt của tâm-hồn có thể bị lừa dối sao?


    ___________

    (1) Vũ-hầu, tức Khổng-Minh Gia-Cát Vũ-hầu.

    (2) Vương tá, người có tài giúp vua.

    (3) Cảnh chẩm, Ngô-Việt vương Tiền-Lưu ở trong quân, ban đêm ít ngủ, kê đầu bằng khúc gỗ trò (dễ lăn) hay trên cái chuông to để thường tỉnh giấc, gọi là cảnh chẩm.

    Vàng quý năm sáu xe, hồ-tiêu tám trăm hộc, sống chưa đủ để làm cho mình vinh mà ngàn năm sau mình sẽ có cái nhục thừa.

    Người quân-tử đẹp-đẽ kia (Ông Triệu-Biện) đi làm quan chỉ đem theo một con hạc, một cây đàn mà xem người trang-nghiêm thành cái phong-thái thanh-cao trong kim cổ.

    Thứ nhì- Lấy nhân huệ vỗ-về nhân-dân. Người xưa xem nhân-dân đói khát như chính mình đã làm cho họ đói khát (1). Lấy lòng thành-thật mà trách mình như giữ-gìn con đỏ.

    Than ôi! Vào nhà thì cười nói uống rượu ăn thịt, mà ra ngoài thì đánh đập hành-hạ nhân-dân, không biết đến những nỗi đau-đớn của nhân dân. Lòng người bất nhân đã đến mức ấy.

    Ơn khéo trả hỏi tội từ một đời con.

    Sau cơn nắng lửa, nay còn được mấy?

    Ai cam tâm làm đứa tiểu-nhân mà không chịu làm người quân-tử?

    Thứ ba- Giữ lòng với lẽ công mà trọng hậu với thông-gia và gần đứa tiểu-nhân, cho nên họ Doãn cầm quyền không công-bình.


    _____________________

    (1) Thiên lý-lâu trong sách Mạnh-tử có câu: vũ tư thiên-hạ hữu nịch giả, do kỷ nịch chi dã. Tắc tư thiên-hạ hữu cơ giả, do kỷ cơ chi dã = Vua vũ lo cho thiên-hạ có người chết chìm là do mình làm cho bị chết chìm. Ông tắc lo cho thiên-hạ có người đói là do mình làm cho họ phải đói.


    Mở lòng thành-thật, ban-bố công đạo, cho nên Gia-cát Vũ –hầu một mình giỏi nhất trong số các công-thần giúp vua. Cho nên có câu: Bổn tâm trong sáng như mặt trời mặt trăng mà điều lợi lộc mong muốn đã làm cho lu mờ như nhật thực nguyệt thực.

    Đường lối thênh-thang thì bị ý-kiến thiên-vị ngăn lấp. Nghe và tin theo một bên thì đường lối bị cong vạy và kẻ gian trá được thi ân. Mừng giận thiên một bên thì việc ban thưởng trật bậy và hình phạt quá lạm. Chỉ có phép công mà thôi. Thiên vị nảy ra thì mờ ám phát sinh.

    Thứ tư. – Làm việc siêng-năng, y-phục đẹp-đẽ của ngươi, món ăn dồi dào-của ngươi, tơ sợi gạo thóc đều do sức của nhân-dân cung-cấp cho ngươi, ở yên mà bỏ chức, ăn ngon mà lười việc, kẻ có nhân-tâm sao không tự thẹn?

    Ngày xă người quân tử không chịu ăn không ngồi rỗi, mồ hôi nóng thấu xương mà ban ngày không từ gian khổ, kê đầu lên gối tròn để lo tính công việc, ban đêm không rảnh ngủ yên.

    Ai là thầy ta? Một vị họ Phạm (1), một vị là người họ Hàn(2).

    _____________________

    (1) Phạm tức là Pham-Trọng-Yểm, người ở Ngô-huyện đời Tống, tự là Hy-văn, lúc bé mồ-côi nghèo khó ra sức học tập, trong niên-hiệu Đại-trung tưởng phủ đỗ tiến-sĩ, làm chức Bí-các hiệu lý. Khi Nguyên-Hạo làm phản, ông làm chức Long đồ các trực học-sĩ đi kinh lược đất Thiểm-tây, hiệu-lịnh của ông nghiêm-minh, người Hạ không dám phạm. Về sau ông làm chức Khu-mật Phó sứ, thăng Tham-tri chính-sự, rồi lại ra làm chức Tuyên-phủ Hà Đong, Thiểm-tây, Quý-Châu, Dĩnh-châu. Ông là người tài cao chi cả, thường lấy thiên-hạ làm trách nhiệm của mình, thích làm việc thiện và bố thí, lập ra nghĩa điền để giúp người trọng họ

    (2) Hàn Tức Hàn-Kỳ, đã chú ở trước.