31.11 - windyclover (type done)

11/8/15
31.11 - windyclover (type done)
  • 102 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    mà cứ lờ-mờ nắm cả hai mối thì lấy gì mà định yên được quốc sách ? (1)

    Cho nên ắt phải phân-biệt người trung kẻ tà, ngừoi thiện kẻ ác. Người nào hiền trung thì cho thăng tiến, kẻ nào tà nịnh thì cho lui về, việc nào thiện, việc nào ác [37b], lời nào đúng, lời nào không đúng, như thế này thì hợp với quốc-sách, như thế kia là trái với công nghị.

    Tỏ mắt ra, phồng mật lên, không từ việc lao nhọc oán hận, khiến co ngừoi ta tụ tập thưa kiện nhau đầy triều, khiến cho phần tốt phần xấu không lẫn lộn, cho nên gọi là phân minh.

    Nước nhà có những việc nghi nan trọng đại, thinh-linh khẩn-cấp, hoặc là mưu chước của triều-đình, việc biên-cương, hoặc là việc quản-trị quan-lại, việc thống-khổ của nhân-dân, hoặc là việc trộm cướp lén nổi lên, hoặc bè đảng cấu kết bịa chuyện để hại người, thì bậc đại-thần đứng ở giữa vòi-vọi như cột trụ giữa dòng sông, không chận lại (2), không xuôi theo, thung-dung hòa-giải thì tất nhiên được thích-đáng để về sau nuôi dưỡng lấy cái phúc hòa-bình hàng trăm ngàn năm, cho nên gọi là nhu hòa, như Chu-công và Lão-công lấy đức trung hậu mà lập quốc.

    Nhưng ở mọi việc đều nhu hòa thì thành ra ủy mỵ (hèn



    (1) Quốc thị, quốc sách, quốc kế, quốc sự.

    (2) Nguyên văn: Bất kích... chữ kích nghĩa là chận dòng sông cho nước tung vọt lên. Ở đây nên dịch là không chặn lại, cho đối với bất tùykhông xuôi theo.


    Quyển 8 103


    kém không phấn-chấn) yếu đuối gây thành việc đồi phế.

    Thế thì nghiêm-chỉnh dung sắc, đoan-chính khuôn phép một mình nắm giữ lấy phong-hóa pháp-độ, như núi Thái-sơn đứng sừng-sững, không ai gần-gũi được, cho nên gọi là cương nghiêm (cứng-cỏi nghiêm-nghị).

    Lúc đầu mưu sai, rồi sau [38a] tính phải, thì bỏ cái trước mà theo cái sau.

    Ý-kiến của mình hỏng mà lời nói của người đúng, thì bỏ của mình mà theo của người.

    Không cố-chấp thành-kiến, không che đỡ điều sai kém của mình, chỉ theo lẽ phải mà thôi, theo điều thiện rất dễ-dàng như khối tròn dễ lăn chuyển cho nên gọi là chuyển viên.

    Dẹp lòng hồ-nghi, bỏ cái ý không quyết-đoán. Điều mà ta nắm giữ là phải thì muôn người không thể đoạt lấy được, cho nên gọi là chấp trì (nắm giữ chặt).

    Lòng mừng lòng giận không lộ ra, khkí giận dữ không lay động, mênh-mông ngàn khoảnh không bến bờ, ấy là khí lượng của bậc đại-thần, cho nên gọi là thâm trầm.

    Không chất chứa vẻ uy-nghi (1), không giữ lòng sâu kín (2), để lòng thông suốt sáng tỏ, cho nên gọi là khai minh.



    (1) Nguyên văn: Bất tàng thính huề. Không chất-chứa vẻ uy-nghi. Thinh huề là bờ ruộng, là uy-nghi.

    (2) Thành phủ, giữ lòng sâu kín đối với người.


    104 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ



    Miệng đọc muôn quyển sách, bụng chứa việc ngàn xưa, hiểu rõ pháp-chế của tiên-vương, cho nên lấy văn-chương định nghiệp cả, lấy lễ-nhạc giúp cuộc thái-bình, cho nên gọi là học cổ (học việc đời xưa).

    Hiểu nhân-tình, thông việc đời, không theo ý mình (1) cho trái tục, không nệ cổ để hại kim, không rơi vào [38b] ý-kiến quanh co của bọn nhà nho hủ-lậu, cho nên gọi là thông kim (thông-thạo việc đời nay).

    Thương yêu dân đen (2), mến tiếc nhân-tài, bao dung tất cả, độ-lượng lớn-lao như trời đất cho nên gọi là quảng ái (thương yêu rộng-rãi).

    Bít cửa riêng, dứt việc xin yết-kiến, không tặng biếu lễ-vật, cửa sân của bậc đại-thần trong lặng như nước, cho nên gọi là công-liêm (công-binh thanh-liêm).

    Xem xét chỗ căn-bản ở mình, trong một lúc tức giận, quơ tay xốc áo cho sướng việc trước mắt, sợ việc không yên tất sinh ra những biến khác, như điều hòa dây đàn và nêm canh, sao cho không gấp không hoãn, không ngọt không đắng, cho nên gọi là điều đình (thương lượng cho yên).

    Hoặc sự cơ chợt ứng, ngoại-vật lôi kéo, cổ-nhân có nói: “Đương đoán bất đoán, phản thụ kỳ loạn”. Phải quyết-đoán mà không quyết-đoán, trái lại phải chịu họa loạn.



    (3) Sư tâm (lấy tâm ý của mình làm thầy), chỉ theo ý-kiến của mình mà làm, chớ không nghe lời ai cả.

    (4) Kiềm thủ, dân đen.


    Quyển 8 105



    Thấy rõ sự nghi, rút gươm bẻ tên, mưu kế phải thi-hành thì việc gần-gũi riêng không thể lôi kéo, lời bàn nghị của mọi người không thể dao-động, lợi hại không thể thắng mình, cho nên gọi là quyết liệt.

    Nước nhà vô sự là phúc, háo danh ham công, làm bận rộn thì [39a] ngày sau khó gánh chịu tội lỗi.

    Tôn trọng phong-độ thanh tĩnh, giúp phép-tắc chỉnh-tề, sống yên-ổn với quốc-gia vô sự, cho nên gọi là giản tĩnh (giản-dị thanh-tĩnh).

    Có khi những mối hại to phải trừ, như phong-hóa suy-đồi, thế-tục bại-hoại, phép-tắc hư-hỏng, người đời ngoan-cố, tình-thế phải thẩm xét một phen để sửa trị nghiêm-chỉnh, thế mà cứ noi theo việc hoang-dâm yến-ẩm, thân mình thì hưởng dật-lạc, lao-khổ thì chờ người sau, cho nên thiên-hạ càng ngày tất phải bại-hoại.

    Vậy phải khích-lệ tinh-thần, nỗ lực, bỏ mối tệ, lấp nguồn họa để truyền lại cho đời sau mối lợi vô cùng, cho nên gọi là chấn chỉnh.

    Mùa xuân ấm-áp, khí thu nghiêm khốc tuy gọi là đi đôi với nhau, nhưng khí nghiêm khốc của mùa thu là để giúp cho mùa xuân, đó là đạo Trời. Hễ khí nghiêm khốc của màu thu quá thịnh thì khí dương hòa bị chuyển-động mà không phát tiết được, đó là họ Thân (1)




    (1) Thân tức Thân-Bất-Hại, người nước Hàn đời Chiến-quốc, làm tướng cho Hàn Chiêu-hầu 15 năm, ở trong thì sửa chính-giáo, ở ngoài thì ứng chư-hầu, suốt đời ông, nước Hàn không bị xâm-lăng. Cái học của ông gốc ở Hoàng-đế và Lão-tử, chủ về hình-pháp trật tự, được nổi danh với Hàn-Phi, người đời gọi chung là Thân, Hàn.


    106 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    họ Hàn (1) sở dĩ đã làm hại thiên –hạ.

    Thể lòng háo sinh (ham sống), ban-bố nguyên khí, vì quốc-gia giữ lấy tinh thành, thích trang kính, giữ tâm tình cho ngay thẳng, cẩn-thận khi ở một mình. Đó là phương cách [39b] của bậc đại-thần dùng để biể rõ việc cát hung (2).

    Lại nói: Bậc đại-thần giữ nước lấy lẽ công của muôn đời trong thiên-hạ mà xử lý việc lớn-lao, chớ lấy ý mình mà chen vào, chớ lấy lòng riêng mà lẫn vào, lượng độ mong được rông-rãi, khí chất mong được ôn-hòa, thể cách mong được trọng-hậu, hơn hết phải xét kỹ ở chỗ xa gần thân sơ.

    Nghê-Nghĩa-phủ đời Tống nói: “Mỗi khi đi ra phố ra chợ hoặc ở trọ gặp lữ-khách ở Hà-đông, Hà-bắc, Thiểm-tây, tôi phải hỏi việc của họ, ý cũng muốn biết việc các thứ trà rượu muối phèn và tạp-hóa có canh cải tăng thêm điều lệ gì không và để có thể biết việc kinh, việc quyền,




    (1) Hàn tức Hàn-Phi, công-tử nước Hàn đời Chiếu-quốc, cà-lăm nhưng viết sách rất giỏi, cùng với Lý-Tư thờ Tuấn-Khanh, nhân thấy nước Hàn nhỏ bé, đã lắm lần gởi thơ can gián Hàn-vương mà không được dùng, bèn viết sách Cô-phẫn, Ngũ-đài, Nội ngoại trừ thuyết, Thuyết-lâm, Thuyết-nan hơn mười vạn lời nói.

    Tần-vương đọc những sách ấy, luyến mộ Hàn-Phi, muốn gặp và giao-du với Hàn-Phi. Quân Tần đánh gấp nước Hàn, nước Hàn sai Hàn-Phi đi sứ sang Tần. Lý-Tư và Diêu-Giả nói xấu Hàn-Phi. Lý-Tư sai người đưa thuốc độc cho Hàn-Phi và bảo hãy tự-sát.

    (2) Thi quy, thi là cỏ thi sống hàng trăm năm được dùng để bói. Quy là con rùa sống hàng trăm ngàn năm được dùng để bói. Cỏ thi và mai rùa là phương cách để người xưa dùng để biết rõ việc cát hung.


    Quyển 8 107


    việc, việc bất tiện đã thi-hành trong tỉnh như thế nào”.

    Bậc tiền-bối dụng tâm là như thế”.

    [40a] Tôi thường đọc phần Vương thị đàm lục trong sách Thuyết-phu thấy biên thư-mục mà các quan to trong niên-hiệu Gia-hựu (1056 – 1064) đã đọc, mà thấy được học-thuật của các bậc hiền-năng đời trước thật là tinh-thông sâu rộng, và công-nghiệp của họ thật là viễn đại, nay chép đầy đủ như sau:

    1) Tập tư lự kiến văn khả ký sự (Sách biên tập những việc đáng ghi nhớ đã suy nghĩ và được nghe thấy).

    2) Tập chư ty sự lệ văn tự (Sách biên tập những giấy tờ về sự lệ ở các ty).

    3) Sao kỷ bổn triều thi vi sự tiết (Sách sao chép chi-tiết các việc đã thi-hành của bổn triều).

    4) Tầm cầu chư lộ cổ kim chiến đấu hành sư phương lược (Sách tìm kiếm những phương-lược hành-quân chến-đấu từ xưa tới nay ở các lộ).

    5) Biên lục cực biên sơn xuyên địa đồ (Sách biên chép đại-đồ núi sông miền biên-giới xa-xôi).

    6) Lục cổ kim phàm hưng lợi công tư sự (Sách biên chép những việc thuộc công thuộc tư về hưng lợi từ xưa đến nay).

    [40b] 7) Lục cổ kim trị thủy phương lược địa đồ (Sách chép địa-đồ và phương-lược trị thủy từ xưa đến nay).


    108 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    8) Lục Tam ty tiền cốc văn tự, cứu vấn mỗi niên khoa số dữ nhất niên chỉ dụng đa thiểu súc tích phong phạp chi số (Sách chép những giấy tờ về tiền về thóc ở Tam ty, xét hỏi số thuế mỗi năm và số chi dụng nhiều ít chất chứa dư thiếu trong một năm).

    9) Phỏng vấn binh tịch nội ngoại thực tăng giảm đa thiểu số (Sách hỏi về số quân trong bộ sổ ở trong ở ngoài thực sự đã tăng giảm nhiều hay ít).

    10) Lục luật lịnh hình thống văn thư (Sách chép văn thư về luật lịnh hình thống).

    11) Phỏng vấn nội ngoại dưỡng mã số đa thiểu (Sách hỏi về số ngựa nuôi ở trong và ở ngoài nhiều hay ít).

    12) Lục thủy lục chu xa chuyển vận phương lược (Sách chép phương-lược chuyển-vận của thuyền và xe theo đường thủy đường bộ).

    [41a] 13) Lục binh gia văn tự (Sách chép những giấy tờ của nhà dụng binh).

    14) Lục khí giới hình chế pháp độ (Sách chép về khí-giới hình-chế và pháp-độ).

    15) Lục cổ kim hưu di lợi ư dân sự (Sách chép những việc đã truyền mối lợi cho dân từ xưa đến nay).

    16) Lục tiền đại sở hướng hữu ích quốc gia sự (Sách chép những việc có ích cho quốc-gia mà đời trước đã tiến-hành).

    17) Lục cổ kim danh thần vi chính lược sự (Sách chép việc các bề tôi nổi tiếng đã bày mưu-lược chính-trị từ xưa đến nay).

    18) Tầm phỏng Lễ Nhạc văn tự (Sách chép việc tìm hỏi những giấy tờ về Lễ Nhạc).

    19) Lục lịch đại bổn triều thực hóa doanh vi sự lược (Sách chép sơ-lược những việc kinh-doanh về kinh-tế của các đời và của bổn triều).

    20) Lục bổn triều chư tướng lâm địch chế trí phương lược (Sách chép những mưu-lược của các tướng lãnh bổn triều đã bày ra lúc gặp quân địch).

    [41b] 21) Lục bổn triều chư tể-tướng sở thi vi (Sách chép những việc đã thi-hành của các vị tể-tướng bổn triều).

    22) Lục hướng lai hành văn thư trung lợi hại sự tiết (Sách chép những chi-tiết lợi hại trong việc hành văn thư từ trước đến nay).

    23) Lục chư quan sở tàng gia thư mục lục (Sách chép mục-lục các sách của các quan tàng-trữ ở nhà).

    24) Lục chư tại quan sở vi phương lược (Sách chép những phương-lược của các vị ở chức quan đã làm).

    25) Lục sảnh đài cố sự (Sách chép những chuyện xưa ở Sảnh đài).

    26) Quan thông điển hội yếu chư thư (Sách nói về việc xem xét các sách Thông điển Hội yếu).


    110 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Chính-sách mà xưa nay gọi là Hưng-lợi trừ hại (Chấn-hưng việc lợi-ích, tiêu-trừ việc tai-hại) chẳng qua là khuyến-khích việc làm ruộng trồng dâu, sửa sang bờ ao, khai thông ngòi rạch, chớ không có gì khác lạ, Nhưng nếu mình không đích thân làm lấy lại giao cho các lại-dịch không [42a] chịu yên-ổn làm thong-thả, cứ đốc-thúc làm cho mau gấp thì trái lại chỉ gây phiền rối mà thôi.

    Cho nên Sở-Tài nói: “Hưng nhất lợi bất như trừ nhất hại. Sinh nhất sự bất như giảm nhất sự”. Dựng một điều lợi không bằng trừ một điều hại. Sinh một việc không bằng bớt một việc.

    Vỗ-về trị yên biên-thùy, chế-ngự các giống người Man, người Lão, không gì hơn là tùy theo chỗ đất trọng yếu mà đóng binh phòng giữ và tùy theo chỗ binh đồn tụ mà đặt lũy, làm thành cái thế răng chó mà dựa vào nhau và cái thế kỷ giác (1) để nhờ vào nhau.

    Còn lương-thực thì liệu lường lẽ tiện-nghi mà cấp cho, có khi cấp cho tiên và thóc ở kho, có khi cấp cho ruộng ở xa hay ruộng đất bỏ hoang để làm mùa, có khi cấp cho muối.

    Về quân đồn-thủ phòng giữ biên-thùy thì tùy theo lẽ tiện-nghi mà chọn lấy, có khi chuyên dùng thổ-binh, có khi dùng cả quan binh và thô-binh. Đó là kế hay để lâu dài tốt đẹp về sau.

    Thân-công nói: “Làm chính-trị không ở nói nhiều mà




    (1) Kỷ giác, phân binh ra làm hai mặt, giữ thế nương tựa nhau để chống quân địch, như khi bắt con hươu, người thì nắm lấy chân, người thì nắm lấy sừng.


    QUYỂN 8 111


    cốt ở ra sức thực-hành. Đường lối nuôi dân quý ở cho dân được an [42b] dưỡng nghỉ-ngơi. Nhưng khi nghe được nỗi đau khổ của dân, nhà cầm quyền phải lập tức giải trừ, khi thấy được việc oan uổng của dân, nhà cầm quyền phái lập tức làm cho dân được yên lành thoát khỏi.

    Tất cả những giấy tờ về điều-hành phu dịch phải giảm bớt thì dân sống mới thoải mái.

    Những tờ cáo-thị bề bộn niêm yết chỉ gây tổn phí, xét ra thật là vô ích”.

    Theo truyện Quách-Thác-Đà (1), Liễu-Tử-Hậu cho việc đốc-thúc cày cấy gặt hái nuôi tằm dệt vải là phiền-nhiễu.

    Nay sách Tang-thuyết đời Minh có chép bài ca-dao về việc quan ra bảng hiểu dụ dân Mán vâng theo thi-hành phép trồng dâu và cho là phiền-nhiễu. Như thế cũng là thấy hiểu sự tình. Bài thơ ca-dao ấy như sau:





    (1) Quách-Thác-Đà, theo truyện Chủng thụ Quách-Thách-Đà của Liễu-Tông-Nguyên, họ Quách mới đầu không biết là tên gì, bị bịnh rồi đi khum lưng giống như con lạc-đà, cho nên người trong làng gọi là Quách-Thác-Đà. Ông ta có tài trồng cây.