31.12 - windyclover (type done)

12/8/15
31.12 - windyclover (type done)
  • 112 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ






    1) Thượng ty xuất bảng an Đồng Diêu

    2) Quân dân kích biến pháp bất nhiêu

    3) Vi đầu tối cấm đả yên táo

    4) Lang hổ thân thượng dung chi cao


    5) Thị nhân đắc bảng tâm độc khoái

    6) Trúc đồng truyền lai thanh ty đái

    7) Ngang ngang (1) ý khí tự sắc ban

    8) Tá mã tinh trì (2) hạ thôn trại


    9) Ỷ quan thác thế tình vạn [43a] thiên

    10) Lung kê cô tửu tương hậu tiên

    11) Trúc đồng nhất bổng một thống dượng

    12) Hộ hộ hựu khoa tế bảng tiền


    13) Di nhân văn tự hà tằng thức?

    14) Hương lão lạc lai cha ốc bích


    (1) Ngang ngang, dáng cao ngất-ngưởng.

    (2) Tinh trì, chạy mau như sao xẹt.



    QUYỂN 8 113

    Dịch nghĩa

    1) Quan trên ra bảng yết-thị vỗ yên giống người Đồng (1) người Diêu (2).

    2) Quân-đội và nhân dân bị phẫn kích thì pháp-luật không tha-thứ.

    3) Việc cấm trước nhất là bắt dân làm bếp.

    4) Dùng chó sói và cọp để thắng mỡ.

    5) Người ở chợ được bảng thì lòng riêng khoan-khoái.

    6) Ống tre truyền lại có mang sợi to xanh.

    7) Ý khí ngất-ngưởng như được sắc vua ban.

    8) Mượn ngựa chạy mau về thôn trại.

    9) Nương vào quan cậy vào thế hàng muôn ngàn tâm tình:

    10) Nhốt gà mua rượu cùng nhau, kẻ trước người sau.

    11) Cái ống tre ấy bưng lên thì không đau-đớn mệt nhọc gì.

    12) Nhưng nhà nhà đều phải trả tiền công đưa bảng.

    13) Người rợ nào đã từng biết chữ?

    14) Mấy ông già trong làng sẽ hạ xuống để dùng ngăn che vách nhà.


    Dịch thơ


    Thượng ty ra bảng vỗ-vành.

    Quân dân biến động, luật đành chẳng tha


    (1) Đồng, một giống người Man.

    (2) Diêu thường đọc Dao một giống người Man.



    114 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Bắt làm bếp ắt là cấm ngặt.

    Sói cọp thì đều bắt thắng dầu.


    Dân thành được bảng mừng nhau

    Ống tre truyền lại, xanh màu dây tơ.

    Ý ngất-ngưởng như vua sắc tứ.

    Mượn về thôn, ngựa cứ chạy nhanh.


    Nương quan cậy thế, mặc tình

    Nhốt gà mua rượu đua tranh nhau cùng.

    Ống tre bưng thì không mệt lã

    Mọi nhà tiền bảng trả tức thì.


    Người di chữ nghĩa biết chi

    Cụ già che vách gở đi xuống dùng.


    Vua tôi nhà Minh có làm bài Bình Man bi ký (bài ký khắc trên bia đá về việc dẹp yên người Man) như sau:






    Man Đồng dị loại giả dã. Kỳ bạo hổ, kỳ tham lang nhi kỳ tiệp viên nhu dã.



    QUYỂN 8 115


    Duy tại hồ trị chi giả đắc kỷ yếu, ngự chi giả hữu kỳ bị, cái thiên-hạ chi sự anh-hùng ư binh, thiên-hạ chi tài anh-hùng ư tướng.

    Phù thống số thập vạn hùng bi chi chí sĩ, sử chi xúc nhận mạo lưu thỉ, phi nhân bất năng dĩ hoài, phi uy bất năng dĩ trấp, phi đoán bất năng dĩ hành, phi trí bất năng dĩ mưu, phi tín bất năng dĩ phục. Hựu tất như chu thi tẩu bàn, như hoàn chi vô đoan, bất giao ư nhất định, bất nứu ư [43b] nhất thiên, tắc binh vị chiến nhi tiên thắng hĩ.


    Dịch nghĩa


    Người Man người Đồng là khác loài (với chúng ta). Chúng hung bạo như cọp, chúng tham-tàn như sói, mà chúng nhanh-nhẹn như vượn như khỉ.


    Người cai-trị chúng phải nắm được phần chủ-yếu, người chế-ngự chúng phải có sự phòng-bị, bởi vì việc trong thiên-hạ là anh-hùng về binh, tài trong thiên-hạ là anh-hùng về tướng.


    Nầy, thống-lãnh mấy mươi vạn chí-sĩ dũng mãnh như gấu đen gấu trắng, khiến chúng xông vào lưỡi bén (của gươm đao), mạo-hiểm vào tên bay, nếu không có nhân thì không thể làm cho chúng luyến mến, nếu không oai thì không thể ngăn nổi chúng, nếu không quyết-đoán thì không thể thi-hành, nếu không có trí thì không thể mưu tính, nếu không đáng tin cậy thì không thể làm cho chúng phục –tùng, lại phải như viên ngọc châu lăn trên mâm, như chiếc vòng không có đầu mối, không gắn chặt vào



    116 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    một nơi nhất định, không quen lệch ở [43b] một bên, được như thế thì binh chưa chiến-đấu mà đã thắng trước rồi.

    Lời nói nầy thật là hiểu thấu phép cầm binh chế-ngự biên-thùy.

    Sách Uyên-giám loại hàm có chép một đoạn về âm đức (1) trích phần Thiên quan thư trong sách Sử-ký như sau:

    Trước cung Tử-vi bày ngay ở miệng sao Đẩu có ba ngôi sao, từ phía bắc quay đầu sang phía tây như ẩn như hiện gọi là Âm-đức tinh (sao Âm-đức).

    Sách Hán-thư chép: Người có âm đức thì Trời lấy phúc báo đền cho.

    Mai-Thừa (2) truyện có câu: Tích đức lũy hành, bất tri kỳ thiện, hữu thì nhi dụng. Tích đức làm phúc mãi, tuy không biết là lành, nhưng cũng có lúc được nhờ.

    Sách Thuyết-uyển có câu: Hữu âm đức tất hưởng kỳ lộc vinh dĩ cập tử tôn. Có âm đức thì hưởng được lộc và vinh cho đến con cháu.


    (1) Âm đức, việc phúc đức âm thầm mà người ta không hay biết, chỉ có quỷ thần thấu rõ mà thôi.

    (2) Mai-Thừa, người ở đất Hoài-âm đời Hán, tự là Thúc, viết văn rất giỏi, trong thời vua Cảnh-đế, làm chức Lang-trung cho Ngô-Vương-Phi. Ngô-Vương-Phi oán hận mưu nghịch, Mai-Thừa can gián không được, bèn bỏ đi làm quan cho Lương Hiếu-Vương, trong thời vua Vũ-đế Mai-Thừa tuổi đã già được triệu vời, đi nửa đường thì mất.


    QUYỂN 8 117


    Về việc nầy được thấy chép như sau:




      • Việc Hà-Tỷ-Can (1) giữ phép nhân thứ cứu khổ được mấy ngàn người.
      • Việc Đặng-Huấn (2) sửa-sang hồ Thạch-cữu, mỗi năm cứu sống được máy ngàn người.
      • Việc Đậu-Vũ-Quân (3) ra sức làm việc thiện.
      • Việc Vương-Hựu (4) minh oan cho Phù-Ngạn-Khanh vô tội.
      • Việc Mã-Tùng-Chính trả người thiếp về nhà mà không đòi nợ.
    (1) Hà-Tỷ-Can, người ở đất Bình-lăng đời Hán, tự là Thiếu-khanh, giỏi về pháp-luật, trong thời vua Vũ-đế, làm chức Đan-dương Đô-úy.

    (2) Đặng-Huấn, người đời Hậu-Hán, tự là Bình-Thúc, đầu thời vua Minh-đế, làm chức Lang trung. Ông là người khiêm thứ hạ sĩ được các sĩ-phu đều theo về, thăng chức Ô-hoàn Hiệu –úy, trong niên-hiệu Nguyên-hòa, thăng Trường-dịch Thái-thú, Hộ Khương hiệu-úy, lấy ân tín đối-đãi người Khương. Ông mất ở chức, được người Khương đến khóc hàng mấy ngàn người.

    (3) Đậu-Vũ-Quân, người đất Ngư-dương, đời Hậu Chu, nổi danh về từ-học, vào nhà Chu làm quan đến chức Thái-thường Thiếu-khanh, Hữu giản nghị đại phu, nghĩa cao hạnh đốc, gia pháp nhà ông làm khuôn mẫu cho một thời, mở trường nghĩa-thục, gom sách hàng vạn quyển, mời các nhà nho nổi tiếng đến dạy con em ở xa gần, những kẻ sĩ nghèo khó đều được ông cấp cho cơm áo. Đến khi ông làm quan, các hiền-sĩ ở bốn phương đều đến nhờ ông tiến-cử rất đông. Năm đứa con của ông đều nối nhau thi đỗ.

    (4) Vương-Hựu, người ở đất Thái-hòa đời Minh, làm chức Quảng-tây Thiêm-sự, đất Quảng-tây được yên trị, về sau làm Tri-châu Trùng-khánh, mắc tội mất chức.


    118 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ





      • Sự-tích Lưu-Đại-Hạ (1) giấu việc sai [44a] sứ sang Tây- dương.
      • Việc Nguy-khỏa (2) gả người thiếp của cha.
      • Việc Hàn-Quyết (3) lập con mồ-côi.


        (1) Lưu-Đại-Hạ, người đời Minh, tự là Thi-ung, trong niên-hiệu Thiên-thuận đỗ Tiến-sĩ, làm chức Phương-lang-trung, thông hiểu việc binh, vì bịnh tật xin trở về, dựng ngôi nhà cỏ ở núi Đông-sơn để đọc sách, về sau đinh-thần tiến-cử làm Binh-bộ Thượng-thư được vua Hiếu-tông tín-nhiệm, khi vua Vũ-tông lên ngôi, ông xin về hưu.

        (2) Ngụy-Khỏa, người đời Xuân-thu. – Ngụy Vũ-tử có người thiếp, người thiếp nầy không có con, Vũ-tử vảo con là Ngụy-Khỏa rằng: “Khi ta chết, con đem gả người thiếp nầy lấy chồng”. Vũ-tử đau lại dặn Ngụy-Khỏa rằng: “Khi ta chết, con đem người thiếp nầy chôn sống theo ta”.

        Đến khi Vũ-tử chết, Ngụy-Khỏa đem người thiếp ấy gả lấy chồng vì cho rằng người đau thì trí não rối loạn không nên tuân theo.

        Trong trận đánh ở Phụ-thị, Ngụy-Khỏa thấy một ông già kết cỏ làm vướng chân ngựa tướng nhà Tần là Đỗ-Hồi. Đỗ-Hồi ngả xuống ngựa, bị Ngụy-Khỏa bắt sống.

        Ban đêm Ngụy-Khỏa nằm chiêm-bao thấy ông già ấy đến bảo rằng: “Tôi là cha của người thiếp được ông gả lấy cho chồng, tôi đã làm như thế để báo đền ơn đức của ông”.

        (3)Hàn-Quyết, người nước Tấn đời Xuân-thu, trong thời vua Cảnh-công nước Tấn đánh với nước Sở, Hàn-Quyết làm quan Tư-mã, trong trận đánh ở đất An, Hàn-Quyết cơ hồ bắt được Tề-hầu. Nước Tấn lập ra sáu quân, Hàn-Quyết làm quan khanh, khi Điệu-công lên ngôi, Hàn-Quyết cầm quyền, cứu nước Tống, đánh nước Trịnh, lại bá chủ chư hầu, về sau cáo lão về hưu, mất với tên thụy là Hiến-tử.
    QUYỂN 8 119





      • Việc Tôn-Thúc-Ngao (1) chém rắn.
      • Việc Dương-Bảo (2) thả chim sẻ.
      • Việc Hoàng-Kiêm-Tế góp lúa bán giá rẻ cứu dân.
      • Việc Tào-Bân (3) cứu nhân-dân một thành được toàn tính mạng.


        (1) Tôn-Thúc-Ngao, người nước Sở đời Xuân-thu, lúc bé đi đường thấy con rắn hai đầu, nghe người ra nói: “Hễ ai trông thấy loài rắn nầy thì phải chết”. Biết mình sắp phải chết lại sợ người sau gặp con rắn này thì phải chết nữa, bèn giết con rắn ấy đem chôn. Lúc trưởng-thành Tôn-Thúc-Ngao cung-kính cần-kiệm, thay Ngu-Khâu làm Tể-tướng nước Sở, đem giáo-háo đắc dân, trong ba tháng mà nước Sở đại trị.

        (2) Dương-Bảo, người đời Hậu-Hán, ở ẩn dạy học. Được Vương-Mãng vời ra làm quan, ông trốn đi. Vua Hán Quang-vũ khen ngợi khí tiết của ông, trong niên-hiệu Kiến-vũ, vời ông ra làm quan. Ông không ra và mất.

        Lúc bé mới 9 tuổi, ông đến phía bắc núi Hoa-âm sơn, thấy một con chim sẻ vàng bị con điểu đánh, rơi ở dưới gốc cây. Ông đem chim sẻ vàng về đặt trong rương, lấy hoàng-hoa cho ăn, nuôi dưỡng hơn trăm ngày. Lông vũ đã đầy đủ, chim sẻ vàng bay đi.

        Đêm ấy Dương Bảo nằm chiêm-bao thấy một đứa trẻ mặc áo vàng đến vái chào và bảo: “ Tôi là sứ-giả của Tây Vương-mẫu, cảm ơn ông đã nhân-ái cứu đỡ, xin lấy bốn chiếc vòng ngọc trắng tạ ơn, khiến con cháu của ông sẽ được thanh-khiết trong trắng, chức-vị đến bậc Tam-đài, giống như những chiếc vòng nầy vậy”.

        Con cháu của Dương-Bảo quả thật đều quyền cao chức trọng.

        (3) Tào-Bân, người ở đất Linh-thị đời Tống, tự là Quốc-hoa, tính-tình trong sạch nhân thứ, lúc đầu làm quan cho nhà Chu với chức Hà-trung đồ-giám, sau theo nhà Tống, đi đánh đất Thục, các tướng đều muốn giết sạch nhân-dân trong thành, một mình Tào-Bân ra lịnh ngăn cấm ,các tướng đều thu vét ngọc lụa của dân, còn trong túi của Tào-Bân chỉ có sách vở khăn áo mà thôi. Ông được trao chức Nghĩa-thành-quân Tiết-độ-sứ, xuống Giang-nam, không hề giết bậy một người nào, không hề lấy bậy của ai một vật gì, được thăng chức Kiểm-hiệu Thái-sư kiêm Thị-trung, được phong Lỗ quốc-công.
    120 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ





      • Việc Viên-An (1) xét lý đưa người ra khỏi ngục sở quận và chưa từng lấy tội ăn hối-lộ tra hỏi người.

        Con cháu dòng-dõi về sau của những vị ấy đều sang cả trải qua nhiều đời.

        Đạo trời (báo ứng) thật sáng tỏ vậy.



        VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ


        QUYỂN 8


        CHUNG



        (1) Viên-An, người ở đất Nhữ-dương đời Đông-Hán, tự là Thiệu-công, là người nghiêm-trọng uy-nghi. Lúc chưa hiển-dạt, ở Lạc-dương xuống tuyết to, người ta phần nhiều đi ăn xin, còn Viên-An thì nằm co không dậy. Quan lịnh ở Lạc-dương đi đến của nhà ông thấy thế cho là người hiền-năng, bèn tiến-cử làm Hiếu-liêm, trao chức Âm-bình trưởng, Nhiệm-thành lịnh, trong niên-hiệu Vĩnh-binh, làm Sở-quận Thái-thú. Gặp lúc Sở-vương Anh mưu phản làm liên-lụy đến mấy ngàn người, Viên-An đến quận xét án, hơn 400 nhà được trả tự-do. Ông được thăng chức Thái-bộc và cất nhắc lên chức Tư-đồ. Trong thời vua Hòa-đế, họ Bảo chuyên quyền, Viên-An giữ nết đứng-đắn không a-dua, thẳng tay hạch tội không kiêng tránh những quan có quyền trọng được vua yêu, khiến vua và đại-thần đều được nhờ cậy.
    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ



    QUYỂN 9