31.13 - Ngọc Sơn (Type done)

17/9/15
31.13 - Ngọc Sơn (Type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-OWpyS3V6Vkwtczg/view?pli=1

    [1a] VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ


    QUYỀN IX

    9 - PHẨM-VẬT

    Kinh Dịch có câu: Thiên địa chi gian duy vật. Vạn vật các hữu đương nhiên chi lý, hựu hữu sở dĩ nhiên chi cố. Suy kỳ lý, cầu kỳ cố. Nhất ngôn dĩ tế chi viết. Tự nhiên chi dĩ hĩ. 天地之間惟物. 萬 物各有當然之理, 又 有 所以 然 之 故. 惟 其 理,求其故. 一言以蔽之曰:自然而己矣 = Trong khoảng trời đất chỉ có vật. Vạn vật đều có cái lẽ đương nhiên của nó (cái lý phải như thể), lại có cái cở sở dĩ nhiên của nó (cái cớ nguyên do vì thế). Suy cái lẽ ấy, tìm cái cớ ấy, một lời nói có thể bao trùm được là: "Tự nhiên mà thôi".


    Cung thất (nhà cửa), vật dụng, thuyền xe, áo quần,

    món ăn đồ uống, mỗi vật đều có cái lý: Trời thật đã làm ra nó, thánh-nhân trước đã biết ở lòng dân, làm ra nó và dùng nó.


    "Người ta làm ra vật không can dự gì đến trời", nói như thế là không được.

    Cỏ, cây, chim, thú, côn-trùng, cá, cua-đinh (ba-ba), mỗi loài vật đều có một cá-tính mà trời thật đã phú cho.

    Thánh nhân xem xét tỏ tường ở đạo trời, nhân đó mà thuận theo.

    "Trời sinh ra vật không phải để nuôi dưỡng người ta", nói như vậy là không [1b] được.

    Trời và người, tâm tình không khác nhau, lý và khí không hỗn tạp nhau.

    Không có trí lự thì không thể sáng chế ra vật. Không có việc chính thì không thể làm cho vạn vật được toại lòng.

    Trong sách Sơ học ký (1), Hoài Nam Tử nói: "Ông Cổn (2) xây thành."

    Sách Ngô Việt Xuân Thu (3) chép rằng: "Ông Cổn xây thành để bào vệ vua, dựng quách để giữ dân"

    Thành quách bắt đầu từ đấy.

    Hoài Nam Tử nói: “Ông Thùy làm nhà, xây tường, lợp mái, khiến người ta rời hang động mà biết đến nơi cung thất”

    ______________________

    (1) Sơ học ký, tên sách, có tất cả 30 quyển, do nhóm Tử Kiên phụng sắc soạn ra, chép những phần trọng yếu trong kinh sử, chia ra từng loại, có 26 bộ, 313 mục, đầu tiên là kể sự, kế tiếp là sự đối, cuối cùng là thi văn, trích chọn trong những cổ thư của nhà Tùy trở về trước.

    (2) Cổn, cha của vua Vũ nhà Hạ, được vua Nghiêu là Sùng Bá, vì trị thủy không thành mà bị vua Thuấn giết ở núi Vũ Sơn.

    (3) Ngô Việt Xuân Thu, tên sách, tất cả có 10 quyển, do Triệu Diệp đời Hán soạn, Từ Thiên Hựu chú.

    (4) Thùy, bề tôi của vua Thuấn, làm cung tên rất khéo.


    Tường vách nhà cửa bắt đầu từ đấy.


    Lời sớ chép trong sách Luận-ngữ nói: «Trong cửa có nghiệt (1), bèn nghiệt có trành (2).


    Nhà nho đời trước nói: "Nghiệt là cây gỗ ngắn ở ngay chính giữa trong cửa. Trành là cây gỗ dài ở hai bên cửa, gọi là môn tiết"

    Chu-Tiết [2a] nói: «Người xưa thường khép cánh cửa bên trái, vua phần nhiều ra cửa trái đề tiếp kiến người».


    Phần Phong-thổ kỳt trong sách Chu.sử chép: Trạch (là nhà) cũng gọi là đệ , là ý nói có thứ đệ (thứ-tự) trên dưới.


    Sách Tam tài đồ hội (3) chép: Hai cây nghiệt trồng ờ hai bên cửa, chính giữa để trồng làm lối đi.


    Sách Hoàng sơn cốc tạp ký chép: Cái màn che ví chung quanh gọi là duy , cái màn che ở phía trên gọi là mạc , cái màn che chung quanh và phía trên giống như cung thất gọi ác , cái màn che trên chỗ ngồi để hứng bụi gọi dịch , màn gọi là đại thứ 大次 tiểu thứ 小次đều là loại ác cả (màn che chung quanh và phía trên giống như cái nhà).

    __________________

    (1) Nghiệt, đời xưa trong cửa có đóng 2 cây nghiệt, khoảng ở trong 2 cây nghiệt gọi là trung-môn. Khoảng ở ngoài hai bên cây nghiệt gọi là trành, bậc tôn trưởng ra vào ở giữa, kẻ thấp hèn ra vào hai bên.

    (2) Trành, hai thanh gỗ ở hai bên cửa dùng để ngăn cản xe cộ đụng chạm vào cửa.

    (3)Tam tài đồ hội, tên sách, có 100 quyển, do Vương-Ký đời Minh soạn, sưu tập những đồ ký và chú giảng"của các sách, chia ra làm Thiên-văn. Địa-Lý, Nhân-vật, Thì-lịnh, Cung-thất, Khí-dụng, Thân-thể, Y-phục, Nhân-sự, Nghi-chế, Trân-bảo, Văn-sử, Điểu-thú, Thảo-mộc tất cả 14 món, chọn trích rất rộng-rãi, đủ để tham-khảo.

    Chu-tử luận về cung, thất, đống (đòn nóc nhà), vũ(mái nhà), điện ốc (đền), hạ ốc (nhà to), giai (bậc cấp), đường (nhà chính), phòng (buồng), tịch (chiếu) của người xưa, đã khảo-cứu rất rõ-ràng, thấy chép đầy đủ hoàn-toàn trong Văn tập và Toàn Thư.

    Theo Cổ nhạc phủ, vợ của Bách-Lý-Hề ca rằng: Lâm biệt thì xuy diễm di = Lúc từ biệt nhau thì lấy cây gài cửa làm củi mà nấu bếp (1).

    ___________________

    (1) Bách-Lý Hề làm tể tướng nước Tần, trên chính đường đánh nhạc, có người đàn bà thuê đi giặt rửa tự xưng là bạn tri âm, ôm đàn đánh dày mà hát. Đó là người vợ cũ của Bách Lý Hề. Vợ chồng cũ lại xum hợp. Bài hát ấy có ba khúc, khúc đầu như sau:

    百里奚

    五羊皮

    憶別時

    烹伏雌炊扊扅

    今日富貴忘我為?


    Bách-Lý-Hề

    Ngũ dương bì

    Ức biệt thì

    Phanh phục thư

    Xuy diễm di

    Kim nhật phú quý vong ngã vi?


    Dịch nghĩa

    Bách-Lý-Hề

    Tự bán mình với giá năm tấm da dê.

    Nhớ lúc từ biệt,

    Làm thịt con gà mái ấp,

    Lấy cây gài cửa làm cũi mà nấu.

    Ngày nay giàu sang lại quên ta sao?


    Dịch thơ

    Hỡi này anh Bách-Lý-Hề,

    Bán mình năm tấm da dê ngày nào.

    Nhớ ngày từ biệt xa nhau,

    Nấu gà mái ấp xiết bao nghèo nàn

    Chụm gài cửa làm cũi than,

    Quên ta sao nở, giàu sang ngày nầy


    Thiên Nguyệt lịnh chương [2b] cú của Tháỉ-Ung chép: Dựng cái khung cửa đề gắn cánh cửa cho ngay-ngắn, có người gọi là diễm di.


    Sách Tam tài đồ hội chép: Cái hành-mã (cái giá gỗ đề ngăn cản đường) bắt đầu từ đời Tam-đại, sách Chu-lễ gọi là cáibệ-hộ 梐枑 (?) (1). Trong một thân gỗ ngang có hai cây gỗ xuyên tréo nhau thành bốn cái sừng, đặt ngang ở cửa đồ ngăn cấm người ra vào.

    Sách Bác vật chí (2) chép: Ở Giang-lăng có một cái đài rất to mà chỉ có một cây cột, những cây rường đều giụm vào cây trụ ấy.


    Sách Chư cung cố sự chép: Lâm-xuyên vương Nghĩa-Khánh đời Tổng lúc ở trấn có dựng một cái quán (nhà đề đạo-sĩ ở) rất lớn ở bãi La-công mà chỉ cỏ một cây cột. Xem đấy thì người xưa đã háo kỳ (chuộng lạ).


    Nước Việt ta, ờ phía tây đô-thành Thăng-long có ngôi chùa Diên-hựu dựng lên từ đời nhà Lý, đầu niên-hiệu Long-

    ____________________

    (1)Nguyên bản chép sai ra 陛枑


    (2) Bác vật chí, tên sách, có tất cả 10 quyển, bản xưa đề là Trương-Hoa đời Tấn soạn. Sự thật thì nguyên bản đã tản mác thất lạc, người đời sau mới nhặt lại thêm thắc vào làm thành sách, lại lấy những thuyết khác thêm vào.


    -phù (1101) đời vua Lý Nhân-tổng c6 trùng-tu (sửa sang lại), cũng chỉ có một cây cột.


    Bài văn bia [3a] tháp Sùng-thiên ở núi Đội-sơn (Núi Đọi ở Hà-nam) có câu:


    向西禁之名園, 廠延祐之法寺, 鑿靈沼之芳池. 池中湧出一石榦. 榦上析千辨逢先蓮花. 花上安紺殿. 殿中坐金相.


    池之外周繞畫廊. 廊之外又疏碧池, 架飛橋以通之.


    橋前之庭左右甃琉瑀璃寶塔.


    以月之朔,親乘玉輦, 大啟清筳,花香設祈祚之儀,盆盥陳浴彿之式.


    Hướng Tây cấm chi danh viên, xưởng Diên Hựu chi pháp tự, tạc Linh Chiểu chi phương trì.

    Trì trung dũng xuất nhất thạch cán. Cán thượng tích thiên biện liên hoa. Hoa thượng an cám điện. Điện trung tọa kim tướng. '

    Trì chi ngoại chu nhiễu họa lang. Lang chi ngoại hựu sơ bích trì, giá phi kiều dĩ thông chi.

    Kiều tiền chi đì nh tả hữu trụ lưu ly bảo tháp.

    Dĩ nguyệt chi sóc, thân thừa ngọc liễn, đại khải thanh diên, hoa hương thiết kỳ tộ chi nghi, bồn quán trần dục Phật chi thức.


    Dịch nghĩa


    Hướng về khu danh-viên (1) Tây-cấm, có ngôi chùa Phật Diên-hựu (2), đào làm hồ phương-trì (3) giống như hồ Linh-chiểu.


    Trong hồ nổi vọt lên một cây cột đá. Trên câycột đá nở ra một đóa hoa sen ngàn cánh. Trên hoa sen an bày điện Phật (4). Trong điện an tọa tượng Phật thếp vàng.


    Ngoài hồ bao bọc hành-lang có sơn vẽ. Ngoài hành, lang lại thông ao bích trì (5), có gác trên không cây cầu (6) đề giao-thông.


    Sân ở trước cầu, bên tả bên hữu có tháp Phật xây bằng ngọc lưu-ly.


    Ngày mùng một hàng tháng, Vua ngồi xe ngọc ra đấy mở lớn tiệc chay, bày nghi lễ với hương hoa để cầu phúc, đặt các thức với bồn chậu để tắm Phật.


    Thì việc chuộng xây cất đẹp khéo của thời bấy giờ có thể biết được.

    ________________________

    (1)Danh-viên, khu vườn danh tiếng.

    (2) Diên-hựu, (diên, kéo dài; hựa, phúc) kéo dài phúc lành. Ở đây là tên ngôi chùa.

    (3) Phương - trì, (phương, thơm; trì, ao), ao trồng sen tỏa hương thơm.

    (4) Cảm điện, (cảm, màu xanh ửng đỏ. Đất nước Phật màu xanh ửng đỏ, cho nên thuộc về Phật thì nói cám), điện Phật.

    (5) Bích-trì, (bích, màu xanh biếc; trì, ao) ao nước xanh biếc.,

    (6) Phi kiều, (phi, bay, lơ lửng ử trên không; kiều, cây cầu), cây cầu gác cao trên không.


    Chỗ ven chính-đường gọi là nham . Nhà ngoài dưới điện gọi là lang . Sách Hán-thư có câu: Thuấn du nham lang chi thượng 舜遊岩廊之上=Vua Thuấn dạo chơi ở ven chính đường và ở nhà ngoài dưới điện.

    Sách Lễ ký có câu: Thiên tử đương y nhi lập, đương trữ nhi lập 天子當依而立, 當佇而立 = Vua noi chỗ ỷ mà đứng, noi chỗ trữ mà đứng.


    Ỷ là nói khoảng chỗ cửa và song ở miếu đường


    Trữ [3b] là nói khoảng chỗ bình phong là cửa


    Sách Thuyết văn giải tự (2) chép: Lư là cửa làng, bởi vì nhân-dân một làng có 25 nhà cùng ra cửa ấy.


    Nhà của quan và dân phải có hạn chế.


    Triều Minh định quy-chế nhà cửa như sau:


    Nhà của công-hầu : Tiền-sảnh 7 căn hoặc 5 căn, 2

    ______________________

    (1) Nhĩ-nhã, tên sách, cỏ tất cả 19 thiên. Bài Tiến Quảng nhã biểu của Trương Ấn núi Chu-công có viết một thiên trong Nhĩ - nhã Sách Kinh điển thích văn nói những thiên khác hoặc do Trọng-Ni hoặc do Thúc Tôn Thông viết. Còn Thiệu Tấn Hàm đời Thanh thì nói học trò Khổng Tử viết sách Nhĩ Nhã

    (2) Thuyết văn giải tự, tên sách, có tất cả 30 quyển, do Hứa Thận đời Hán soạn, lấy chữ tiểu triện làm chủ, có tất cả 9353 chữ, chia ra 540 bộ, suy cứu Lục-thư, 1à quyển sách nghiên-cứu về sự cấu tạo của chữ nho mà các tự-điển hay từ điển về sau đều có dẫn đến.


    hạ (1) 9 giá (2), trung-đường (nhà giữa) 7 căn 9 gỉá, hậu-đường (nhà sau) 5 căn 7 giá, môn ốc 3 căn 5 giá, gia miếu (miếu thờ) 3 căn 5 giá. Những nhà ấy đều dùng ván đen, lợp nhà có khi dùng ngồi hình bánh lái thuyền. Ngoài ra hành-lang, nhà vũ (3), nhà kho, nhà bếp đều không được quá 5 căn 7 giá.


    Nhà của quan nhất phẩm nhị phẩm; Sảnh.đường 7 căn 9 giá, môn ốc 3 căn 5 giá.


    Nhà của quan tam phẩm đến ngũ phẩm: sảnh-đường [4a] 5 căn 7 giá, chính-môn 1 căn 3 giá.


    Nhà của quan lục phẩm đến cửu phẩm: sảnh-đường 5 căn 7 giá, chính-môn 1 căn 3 giá.


    Nhà cửa của thưởng dân ở không được quá 3 căn 5 giá, không được dùng đẩu-củng (4) và màu sắc đề trang-sức.


    Đó là mối lớn-lao trong việc chỉnh-đốn phong-tục tiết-kiệm của-cải.


    Trung-quốc không cấm dùng ngói ống, nhưng cung điện thì dùng màu vàng, chùa miếu thì dùng màu lục, nhà của quan dân sĩ thứ thì dùng màu đỏ.

    ______________________

    (1) Hạ, nhà, nhà to.

    (2) Giá, khoảng rộng hẹp giữa 2 cây cột và 2 cây rường gọi là giá.

    (3) Vũ, nhà chung quanh ở dưới chính đường. Nhà to cũng gọi là vũ.

    (4) Đầu củng, khúc gỗ vuông trên cây cột có chạm khắc đẹp-đẽ.
  • Đang tải...