31.14 - hhongxuan (type done)

22/8/15
31.14 - hhongxuan (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-VEF3SnFGNlZpU3c/view?pli=1


    Tiết-Dã-Hạc nói : “ Nhà ở của người ta phải có 3 phần gỗ, 2 phần tre, 1 phần nhà mới tốt”.

    [4b] Sách Tam tài đồ hội chép : Khuân [] là cái vừa tròn.

    Sách Thuyết văn giải tự chép : Cái vựa thứ tròn gọi là khuân, thứ vuông gọi là kinh.

    Ngày nay cái đụn (1) tròn chứa thóc, ở trong thì trét bùn, ở trên thì lợp bằng cỏ gọi là lộ độn (đụn lộ thiên), tức là cái vựa tròn.

    Xét tên độn [] gần với tiếng nước ta là đụn.

    Nguyên-Hàn lại nói : Phương bắc cao ráo, dựng cây trên đất, bện tre làm đụn, cho nên cái tròn gọi là khuân []. Phương nam nóng và ẩm thấp, phải lót ván cách mặt đất làm nhà, cho nên cái vuông tức là cái kinh [].

    Thiên Quyền dư (2) thuộc Tần phong trong kinh Thi có câu :


    [] [] []

    Hạ ốc cừ cừ.


    Dịch nghĩa

    Nhà to sâu rộng

    --------
    (1) Nguyên văn là chữ [] độn, tức là cái đụn chứa thóc.

    (2) Quyền dư, tên thiên thơ thuộc Tần-phong trong kinh Thi, đại ý nói nhà vua lúc đầu thì lấy nhà to rộng để tiếp đãi bậc hiền-năng. Về sau lễ ý dần dần suy kém, việc cung-cấp lần lần khinh bạc, đến nỗi bữa ăn cũng không được còn dư.
    ----------

    Lời tiên (lời giảng rõ để phân biệt ý nghĩa trong kinh Thi) nói : Nhà to thì mâm cỗ lớn. Bày mâm cỗ lớn để đãi ta. Ý nói đãi ta rất ân-cần.

    Sách Dương tử pháp ngôn có câu : Hữu hạ ốc chi vi bình mông [] = Có nhà to để che đậy.

    Còn kinh Thi thì cho là mái nhà.

    [5a] Sách Chu-thư chép : Vua Hoàng-đế đào giếng.

    Sách Thế-bổn (1) chép : Trong thời vua Thành-Thang có nắng hạn, ông Y-Doãn dạy dân đào giếng ở đầu thửa ruộng để lấy nước tưới ruộng. Nay cái cần vọt là đấy.

    Sách Tam-tài đồ hội chép : Sái bàn (cái mâm để phơi thóc) là vật-dụng bằng tre để phơi thóc, rộng độ 5 thước, ven rìa chung-quanh có cạp hơi cao lên, sâu độ 5 tấc, ở trong phẳng rộng, giống như tròn mà dài, ở dưới dùng hai thân tre hai đầu cùng nhô ra độ bằng nắm tay để tiện khiêng dời đi.

    Thừa lúc trời nắng, đem thóc chứa vào đấy mà đem phơi.

    Xét hình-trạng của nó thì đúng như cái bình đầu ky (cái ky đầu bằng tức cái nông) của nước ta.

    Lại có cái sư cốc giới, nay tục nước ta gọi là cái sàng.

    ---------
    (1) Thế-bổn, tên sách xưa, có 15 thiên. Lưu-Hướng nói : “Sử quan ngày xưa hiểu rõ việc đời xưa mà soạn ra, chép những tên thụy từ Hoàng-đế đến các đề vương chư hầu va quan khanh đại phu trở về sau.
    ---------

    Lại có cây hòa đảm (cây đòn để gánh lúa) được giải-thích là dụng-cụ để gánh lúa dài 3 thước 5 tấc, vót thành [5b] cây dẹp mà làm, gọi là đòn mềm, đẽo thành cây tròn mà làm, gọi là đòn xóc.

    Đòn dẹp dùng để gánh đồ vật. Đòn tròn dùng để gánh củi và lúa, đó là tục nước ta gọi là đòn gánh.

    Lại có cây cược được giải-thích là khí-cụ để cuốc ruộng. Nhà nông khai-khẩn đất-đai dùng nó để cuốc ruộng hoang vườn-tược núi đồng, có thứ rộng thứ hẹp, thứ to thứ nhỏ khác nhau, gọi chung là cược, tức tục nước ta gọi là cây cuốc.

    Chữ diên [], sách Chu-lễ cũng nói tịch [] là chiếc chiếu. Chiếu để trải ở trên gọi là diên, chiếu để lót ở dưới gọi là tịch. Chiếu của người xưa ngồi có hai ba lớp khác nhau.

    Sách Thập di ký (2) chép : Vua Hiên-hoàng sai bầy tôi và chư-hầu bày ngọc khuê trên chiếu lan bồ.

    [6a] Chiếu có bắt đầu từ đấy.

    Hàn-Tử nói : “Vua Vũ làm chiếu bằng cói có viền cạp đỏ”.

    Chiếu thêm viền cạp có bắt đầu từ đấy.

    Điệm [] là đệm, chiếu bằng tre.

    -----------
    (1) Thập di ký, tên sách, có tất cả 10 quyển do Vương-Gia soạn, trên chép những sự-tích hoang-đường, trên từ đời Tam-hoàng, dưới đến Thạch-Hổ.
    ------------

    Giác điệm [] được sách Thông-giám chú : Vót tre làm thành cộng nhỏ mà đan lại, thành đệm, làm mất đốt tre, cạo vỏ tre, trơn bóng dễ thương.

    Người Nam-man có khi dùng dây mây trắng làm đệm.

    Thiên Cố-mệnh trong kinh Thư có câu : Phu trùng miệt tịch [] (Trải hai lớp đệm) tức là thứ đệm ấy.

    Lại có câu : “Sổ trùng tuẩn tịch” [] (Trải mấy lớp chiếu bằng măng tre).

    Nhà sư Tán-Ninh nói : “Dùng vỏ măng tre tước ra mà dệt đệm. Lúc măng thành tre, vỏ dài mà cứng có thể tước ra mà dệt chiếu. Nếu dùng tre non tước ra làm cộng mà dệt thì đồng với chiếu miệt tịch (đệm) nói trên.

    Lại nói : “Nếu dùng măng đốt dài mới thành tre cũng thông-dụng để dệt đệm, nhưng nó yếu và dòn.

    Sách Uyên giám loại hàm chép về Lục-thao : Đời vua Kiệt và Trụ đàn bà mặc cẩm tú (gấm thêu) văn ỷ (1) ngồi trên chiếu có bọc [6b] lăng (2) hoàn (3) thường đến ba trăm người.

    Đời thượng-cổ đã có những thứ quý báu đẹp-đẽ như thế.

    Trương-Tử nói : “ Người xưa không có ghế dựa và bàn, không phải vì trí không đến trình-độ sáng-chế được. Nhưng

    ----------
    (1) , lụa có vân, Văn ỷ là lụa có vân màu rằn-ri.

    (2) Lăng, một thứ lụa có vân.

    (3) Hoàn, loại lụa quyến thứ mịn.
    ---------

    ngồi trệt ở đất thì thân-thể cung kính có thể vái mọp xuống được. Nay ngồi ở ghế bàn từ lúc ngồi xuống đến lúc đứng lên không hề động đậy. Chủ-nhân bắt đầu tự tay rót rượu mời thì đã gọi là bữa rượu phi thường rồi, bởi vì người đời sau nhất thiết đều lấy sự thuận-tiện yên-ổn mà thôi.

    Ghê của rợ Hồ (1) xếp mở được vì có chân tréo nhau xỏ dây căng ra để ngồi, xếp mở rất nhanh, nặng không đầy mấy cân, gọi là tiêu-diêu tọa.

    Sách Thanh dị lục (2) cho rằng tương truyền vua Đường Minh-hoàng thường đi chơi, các quan đi theo hầu đợi chiếu chỉ dừng ở ngoài đồng, hay hộ vệ xa giá lên núi bèn sáng-chế ra thứ ghế xếp ấy, tức là ghế tiểu giao ỷ.

    Nhưng sách Sưu thần ký (3) chép : Ghế của rợ Hồ là khi cụ của người Nhung Địch (rợ Nhung rợ Địch).

    Sách Phong tục thông (4) chép : Vua Hán Linh [7a] đế thích quần áo của rợ Hồ, Cảnh-sư mới làm ra cái ghế xếp (Hô-sàng). Như vậy thì loại ghế xếp nầy không phải bắt đầu có từ đời Đường.

    --------
    (1) Nguyên văn : Hồ sàng, ghế của rợ Hồ.

    (2) Thanh di lục, tên sách, có 2 quyển, do Đào-Cốc đời Tấn soạn, trích những lời hay đời Đường đến đời Ngũ-đại, phân làm 37 môn.

    (3) Sưu thần ký, tên sách, có tất cả 20 quyển, bổn cũ đề là Can-Bảo đời Tấn soạn, sủ chép Can-Bảo cảm-xúc việc người nữ-tỳ của cha tái sinh, mới sưu-tập những việc thần-linh biến hóa mà làm thành sách nầy.

    (4) Phong tục thông tức Phong tục thông nghĩa, tên sách, có tất cả 10 quyển, do Ứng-Thiệu đời Đông-Hán soạn. Sách nầy khảo luận điển lễ giống như sách Bạch hổ thông nghĩa, cải-chính phong-tục giống như sách Luận-thành.
    ----------

    Trình-Đại-Xương (1) nói : “Ghế xếp có chân tréo ngày nay sáng chế từ người rợ, bắt đầu gọi là Hồ-sàng (ghế của rợ Hồ).

    Nhà Tùy, vì trong lời sấm có chữ Hồ mới sửa làm giao-sàng (ghế xếp có chân tréo).

    Vua Đường Mục-tông ở điện Tử-thần ngự trên cái ghế căng bằng dây to để tiếp-kiến các bề tôi. Cái ghế ấy gọi là thằng sàng (thằng, sợi dây).

    Hồ-Tam-Tỉnh (2) chú sách Tư trị thông giám nói : “Ghế xếp chân tréo, ngày nay nhà người ta đều có, nhưng có hai thứ : Một thứ ghế chân tréo thì lấy gỗ tréo nhau làm chân, phía trước phía sau đều có đóng gỗ ngang, làm bằng ở đáy khiến khi đặt xuống đất thì yên vững đầu phía trên chân ghế.

    Một thứ thì ở trước ở sau cũng đóng gỗ ngang mà làm bằng ở trên, ở cây gỗ ngang có khoét hàng lỗ để xỏ dây vào và căng ra khiên có thể ngồi lên chỗ chân ghế tréo nhau.

    -------------
    (10 Trình-Đại-Xương, người đất Hưu-ninh đời Tống, tự là Thái-chi, trong niên-hiệu Thiệu-hưng đỗ Tiến-sĩ, trong thời vua Hiếu-tông, làm Lại-bộ Thượng-thư, Long-đồ các học-sĩ, bác-học, khảo-cứu mọi việc cổ-kim, có soạn những sách : Vũ công luận, Thi-luận, Dịch-nguyên, Ung-lục, Dịch Lão thông ngôn, Khảo-cổ thiên, Diễn phiền lộ, Bắc biên bị đối.

    (2) Hồ-Tam-Tỉnh, người ở đất Thiên-thai cuối đời Tống, có bản chép là người ở đất Ninh-hải, tự là Thân-chi, trong niên-hiệu Bảo-hựu đỗ Tiến-sĩ, làm quan đến chức Triều-phụng lang, khi nhà Tống mất, ở ẩn không ra, có viết sách Tư trị thông giám chú.
    --------

    Ghế dây (thằng sàng) thì lấy ván mà làm để ngồi lên, bề rộng ở phía trước có thể đặt đầu gối, ở phía sau có chỗ dựa [7b] lưng, hai bên tả hữu có chỗ để bàn tay và gác cánh tay, bốn chân ở dưới đặt trên mặt đất.

    Theo sách Thông-giám của Ôn-công (Tư-mã Quang), vua Hậu-chủ nước Trần, khi có việc chính lớn-lao thường ngồi trên cái ẩn nang.

    Chú-thích rằng : ẩn nang là cái túi dồn vật nhỏ-nhặt mềm mại đặt ở một bên chỗ ngồi. Hễ ngồi mỏi mệt thì nghiêng mình co cánh tay mà dựa vào, tức nay là cái ghế dựa.

    Sách Thích tạng chỉ quy chép : Con hươu to gọi là con chủ [], cả bầy hươu đều đi theo con hươu chủ nầy, đều xem con hươu chủ đi hướng nào tùy theo cái đuôi của nó chuyển về hướng ấy làm quy chuẩn.

    Nay nhà sư giảng kinh có cầm cây phất trần bằng đuôi con hươu chủ, bởi lẽ bắt chước con hươu chủ dùng cái đuôi để chỉ-huy.

    Sách Tam tài đồ hội dẫn sách Thực-lục nói rằng : Họ Hách-Tư làm ra cây lược thưa (sơ []), lấy gỗ mà làm, có 24 [8a] răng, lấy nghĩa : chải gở đầu tóc cho xuôi thông.

    Sách Thuyết-văn chép : Danh-từ trất sơ [], là tiếng gọi chung các thứ lược. Theo lễ thì con trai con gái không dùng chung khăn lược.

    Lược này (1) là theo thể-thức lược thưa mà chế ra. Ngày nay làm lược dày là theo thể-chế nhà Chu.

    ----
    (1) Nguyên văn : Bị [] là thứ lược dày dùng để chải gầu trên đầu.
    ------

    Nhà tu-dưỡng gọi cây lược là mộc xỉ đan [] (mộc xỉ,răng bằng gỗ; đan, thuốc), nói: Hễ thường dùng lược chải đầu thì có thể hạ khí độc đuổi gió tà (hạ khí khu phong).

    Đào-Cốc (1) gọi lược bị là giới [](cây trâm để cài đầu tóc).

    Sư-tư Tượng cho rằng: Đàn ông thì chải tóc cho ngay ngắn, đàn bà thì vẽ lông mày, họ đều không bỏ được.

    Người phương bắc (người Tàu) thường lấy cây hoàng-dương(2) làm lược.

    Truyện Cao Lực-sĩ (3) chép: Trong cung lăng tẩm vua

    Thái-tông. Cao Lực-sĩ thấy hộp nhỏ đựng lược một cái,lược bằng gỗ cây tạc một cái, lược bị bằng sừng đen một

    ---------
    (1) Đào-Cốc, người ở đất Tân-binh đời Tống, lự là Tú-thực, làm quan cho nhà Tấn nhà Hán, đến nhà Chu làm Hàn-lâm học-sĩ, Binh-bộ Thị-lang, vào nhà Tống làm Thượng-thư bộ Lễ, bộ Hình, bộ Hộ. Ông là người nhớ dai ham học, thông đủ kinh sử, góp nhặt những lời nói hay đời Đường và đời Ngũ-đại làm ra sách Thanh dị lục.

    (2) Hoàng-dương (Buxus microphylla), một loại cây lâu lớn, mỗi năm chỉ cao lên độ một tấc mà thôi.

    (3) Cao Lực-sĩ, hoạn quan đời Đường, người ở đất Cao-châu, dưới triều vua Duệ-tông làm Nội cấp sự, nhờ giết được Tiêu-Sầm có công, được làm Hữu giám môn vệ tướng quân, khi vua Huyền-tông lên ngôi, rất được sủng ái, tấu sớ từ bốn phương đều do ông đọc trước rồi mới dâng lên vua sau, kết nạp với các quyền-thần danh-tướng, uy-quyền nghiêng thiên-hạ, làm đến chức Phiêu-kỵ đại-tướng quân, được phong Tề quốc-công. Khi vua Túc-tông lên ngôi, ông bị Lý-Phụ-Quốc hạch tội và bị đày ra Vu-châu. Trong đầu niên-hiệu Bảo-ứng, ông được tha trở về, khi thấy di-chiếu của hai vua Huyền-tông và Túc-tông, ông hộc máu mà chết, thọ được 79 tuổi.
    -----------

    Cái, bàn chải bằng rễ cỏ một cái, mới than rằng : “Đấng tiên-đế đầu tiên dựng lên nghĩa kỳ (1), mới chính ngôi vua mà vật dụng tùy thân chỉ lưu lại mấy món nầy, ý [8b] muốn truyền bảo con cháu hãy giữ mãi tính tiết-kiệm.

    Bèn đem những món ấy tâu lên.

    Vua Huyền-tông quỳ xuống mà bưng lấy, cung kính những món ấy như ngọc châu dạ-quang (2), như ngọc bích Thùy cức (3).

    Người đời sau xa-xỉ vô độ, lòng người chưa từng được thanh-khiết như thế.

    Cây móc nhỏ bằng thau gọi là sảo tức tử [].

    Cây tăm tre dùng để xỉa răng gọi là loát nha trượng [].

    Người Tàu ưa lấy lông đuôi voi để xỉa răng, nói là để khử trùng và làm chắc răng.

    Sách Ủy hạng tùng đàm đời Tống chép : Người ở Hàng-châu chẻ gỗ cây tùng làm thành miếng nhỏ mỏng như giấy, nấu lưu-hoàng cho chảy phết lên chỗ đầu nhọn, gọi là phát chúc [], cũng gọi là suất chi [], để bật lửa dùng thay đèn đuốc.

    Sách Thanh dị lục chép : Ban đêm có việc gấp, khổ

    ---------
    (1) Nghĩa kỳ, trượng nghĩa mà dựng cờ dấy binh.

    (2) Dạ-quang châu, ngọc châu quý tỏa ánh sáng trong ban đêm.

    (3) Thùy-cức, đời Xuân-thu trùng đất ở nước Tấn sản-xuất ngọc đẹp.
    ----------

    nỗi đốt đèn chậm trễ, người ta vót gỗ vây sum (1) tẩm chất lưu-hoàng trữ sẵn để dùng, hễ gặp [9a] lửa nó phát cháy ngay, gọi là dẫn quang nô [].

    Về sau có người buôn bán vật nầy, đổi tên nói, gọi là hỏa thốn.

    Nay người nước ta dùng miếng tre mỏng phơi khô tẩm chất lưu-hoàng, cũng giống cách chế-tạo nầy.

    Theo Nguyên-sử, vua nhà Trần nước Giao-chỉ đem cống lễ vật. Vua nhà Nguyên lấy phân nửa dâng cho Bất-Hốt-Truật, chỉ nhận hòn giả sơn (núi giả) bằng gỗ trầm hương, vật đè giấy bằng ngà voi, cái giá gác bút bằng thủy tinh.

    Sách Động thiên thanh lục (2) chép : Thể-chế làm bút sàng (3) : bề dài 6 hay 7 tấc, bề cao 12 phân, bề rộng hơn 2 tấc như một cái giá, nhưng trên dưới có thể đặt nằm bốn cây bút, dùng gỗ tử đàn hay gỗ tô mộc mà làm thì đẹp.

    Khổng-Dĩnh-Đạt (4) nói : Giản [] là thẻ trát [] để viết

    ---------
    (1) Sam, một loại cây to, cao chừng mấy trượng, lá nhỏ như cây kim thường xanh, gỗ dùng để xây cất, lá cành dùng làm củi.

    (2) Động thiên thanh lộc tập, tên sách, có 1 quyển, do Triệu-Hy-Hộc đời Tống soạn, có một tên nữa là Động thiên thanh lục, luận về việc xem xét phân biệt đồ xưa và thư họa, chia ra 10 loại, phân tích tinh-thâm, khảo-chứng xác-đáng.

    (3) Bút-sàng, đồ đựng bút.

    (4) Khổng-Dĩnh-Đại, người ở đất Hành-thủy đời Đường, tự là Trọng-Đạt, lúc bé thông-minh, cuối đời Tùy đỗ khoa Minh-kinh, vào nhà Đường là Quốc-cử ty nghiệp, thăng chức Tế-tửu, nhận lịnh của vua Thái-tông soạn sách Ngũ kinh chinh nghĩa.
    ------------