31.15 - hhongxuan (type done)

24/8/15
31.15 - hhongxuan (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-NDZuVjlzVnkyQnc/view?pli=1


    chữ. Sách []thẻ giản []. Thể-chế của vật nầy : thứ dài thì 2 thước, thứ ngắn thì phân nửa (1 thước). Cầm một thẻ trát gọi là giản, kết liền nhiều thẻ giản gọi là sách. Thẻ giản chỉ chứa được một hàng [9b] chữ.

    Thẻ độc [] là thẻ bản [] vuông. Thẻ bản rộng hơn thẻ giản có thể chứa được mấy hàng chữ. Đời xưa việc lớn thì chép vào thẻ sách, việc nhỏ thì chép vào thẻ giản.

    Sách Thiên tự văn (1) luận về giấy. Theo sách Loại-tụ (2) chép : Thái-Luân (3) đời Hán là Trung thường thị có tài khí và tư-tưởng.

    Đời xưa như thế phần nhiều kết thẻ tre lại mà viết, lại dùng lụa trắng mà viết chữ cũng gọi là chỉ []. Lụa trắng thì đắt tiền, thẻ tre thì nặng-nề, người ta dùng rất bất tiện.

    Thái-Luân bèn nảy ý dùng vỏ cây (thụ bì), những khúc dây gai (ma đầu) làm giấy, gọi giấy là ma chỉ [] (giấy bằng dây gai). Lại lấy vải rách, lưới đánh cá rách làm

    -----------
    (1) Thiên tự văn, tên sách, do Chu-Hưng-Tự đời Lương soạn. Vua Vũ-đế nhà Lương trong niên-hiệu Đại-đồng hạ sắc cho Chu-Hưng-Tự soạn sách Thiên tự văn.

    (2) Loại–tụ, Sách Nghệ-văn loại-tụ của Âu-dương-Tuân có 100 quyển. Lại có sách Sự-văn loại-tụ do Chúc-Mục đời Tống soạn.

    (3) Thái-Luân, người ở Quế-dương đời Đông-Hán tự là Kính-trọng, là hoạn quan, có tài học, trong thời vua Hòa-đế, làm Trung thường thị, được khen là người đôn-hậu cẩn-thận, gia chức Thượng phương lịnh, đầu niên-hiệu Nguyên-sơ, được phong Long-đình hầu bắt đầu sáng-chế phép làm giấy, thiên-hạ dùng rất thuận-tiện, gọi giấy ấy là Thái hầu chỉ. Về sau ông bị nhục, uống thuốc độc mà chết.
    ---------

    giấy, gọi là võng chỉ (giấy bằng lưới). Lại lấy vỏ cây chử [] (cây gió) làm giấy, gọi là cốc chỉ (1)

    Nhưng thời Tiền-Hán (2) phần Ngoại thích truyện trong sách Hán-thư đã chép thứ giấy Hích-đề (3). Như vậy thì giấy không phải bắt đầu có từ ông Thái-Luân.

    Sách Đường-thư chép : Ở Bí-thư-sảnh có tám người thợ thục chỉ (4) trang hoàng. Chữ hoàng [] là nhuộm giấy. Chữ trang [] là sửa-[10a] sang. Nhuộm giấy là tẩm giấy với nước cây Hoàng-bách để trừ mọt.

    Sách Lục điển chú rằng : Hoàng là sửa-sang giấy xong mà lấy sáp đem nhuộm.

    Sách Tam tài đồ hội chép : Đao bút (là cây dao để gọt và cây bút để viết). Cây dao thì hình chế hoàn-toàn như cây dao mà ở chỗ cán có cột dây để mang theo bên mình. Đao bút là khí cụ để viết chữ mang theo bên mình.

    Đời xưa dùng thẻ tre để viết chữ, cho nên người ta mang theo cây dao ( để gọt bỏ những chữ viết sai) và cây bút (để viết chữ).

    Sách Hạ hoàng tứ ký chép : Vua Huy-tông (1101-1125)

    -------
    (1) Cốc-chỉ, Đời xưa cây chử [] và cây cốc [] giống nhau, người ta lấy vỏ hai thứ cây nầy chế-tạo giấy, cho nên thứ giấy nầy gọi là cốc chỉ.

    (2) Tiền-Hán, tức Tây-Hán trước thời Hậu-Hán.

    (3) Hích-đề, thứ giấy mỏng.

    (4) Thục chỉ, thứ giấy đã nấu đã cán và tha sáp.
    ---------

    thường lấy dầu cây tô-hợp hương (1) đốt lấy khói làm mực. Vua Chương-tông nước Kim mua một lượng mực giá một tiền vàng.

    Sách Nguyên-thi chú rằng : Mẹ của vua Chương-tông nước Kim là con gái của vua Tông Huy-tông, cho nên trong một thời ấy hễ viết hay vẽ đều bắt chước theo thể-thức trong niên-hiệu Thuyên-hòa (1119-1125) đời vua Tống Huy-tông.

    [10b] Sách Họa-sử (2) chép : Lấy gỗ cây tô-mộc làm trục bức tranh, lấy nước vôi làm cho biến màu, càng lâu năm càng tốt, lại có tính-chất nhẹ-nhàng.

    Cây trục bằng sừng thì có sâu lại phần nhiều có mùi ẩm thấp. Lây đàn-hương hay sừng tê để chung trong hộp thì phát ra mùi hương xưa.

    Sách Họa-luận chép : Phép vẽ tranh, tranh đạo-thích là hạng quý nhất, kế đến là tranh nhân-vật, kế đến là tranh sơn-thủy, kế đến là tranh hoa cỏ, kế đến là tranh vẽ ngựa.

    Phép xem tranh, trước hết xem khí-vận, kế đến là xem bút-ý, xem cốt-pháp (3), xem vị-trí, xem truyền-

    ------
    (1) Tô-hợp hương, một thứ cây mọc thành bụi, người ta lấy vỏ cây ép lấy dầu. Dầu nầy có tính sát trùng và trị bịnh lác.

    (2) Họa-sử, tên sách, có 1 quyển, do Mễ-Phị đời Tống soạn, nêu lên những danh họa phẩm đề chân ngụy đã thấy đã nghe, kể việc trang-trí thu cất để dành.

    (3) Cốt-pháp, thuật-ngữ của nhà thư họa, chỉ bút lực và bút khí của tác-phẩm.
    -------

    nhiễm (1), rồi sau mới xem hình-thể có giống không.

    Đó là phép lớn lao để xem tranh.

    Sách Họa-sử chép : Đàn-hương trừ được khí ẩm-thấp. Bức họa phải dùng cây trục bằng gỗ đàn, khi mở hộp thì có mùi hương thơm mà không có mùi hồ (để dán) lại trừ được mọt.

    Sách Thanh dị lục chép : Cuối đời Đường, các vương hầu đua nhau làm cái túi phương-tiện, làm bằng hai lớp gấm, hình thể như [11a] cái chiếu đại (2) ngày nay. Mỗi khi xuất hành người ta đặt vào đó các thứ áo, lược, khăn, gương, hương liệu, thuốc men sách vở thật là giản-tiện.

    Bài Bút-ký của Từ-Khắc-Do đời Minh chép : Triều nhà Minh sáng-chế nhiều đồ dùng mà đời trước không có, như : nho cân (3), lan sam (4), chiếp phiến (5), vi bình phong (6), lãnh tửu bàn (7), tứ phương đầu cân (8), võng cân (9).

    ----------
    (1) Truyền-nhiễm, nét bút siêu phàm được truyền-tụng mà được mọi người nhiễm theo.

    (2) Chiếu đại, một loại túi vuông có nắp, nhân-sĩ đời Ngũ-đại thường dùng.

    (3) Nho cân, khăn của nho-sinh đội.

    (4) Lan sam, áo bằng vải trắng mịn, cổ tròn ống tay to, các tiến-sĩ, quốc-tử-sinh và châu-huyện-sinh thường mặc.

    (5) Chiếp phiến, cây quạt xếp.

    (6) Vi bình phong, bình phong vây tròn.

    (7) Lãnh tửu bàn, cái mâm lãnh rượu.

    (8) Tứ phương đầu cân, khăn bốn góc vuông để đội đầu.

    (9) Võng cân, loại khăn, lấy tơ đan thành lưới để bọc tóc.
    --------

    Xét ra lan sam (áo tiến-sĩ) và chiếp-phiến (quạt xếp) thì đời xưa đã có, không được nói là mới sáng-chế.

    Người xưa chỉ có quạt bằng lá cây bồ quỳ, quạt bằng lông chim, cắt xén mà hợp lại làm thành, không thể xếp mở được.

    Thơ của Ban tiếp-dư (1) có câu :

    [] [] []

    Tân chế Tề hoàn (2) tố

    Tài vi hợp hoan phiến (3)


    Dịch nghĩa

    Mới chế thứ lụa mịn trắng ở đất Tề,

    Cắt ra làm cái quạt hợp hoan.


    Dịch thơ

    Lụa Tề mới chế mịn-màng,

    Cắt ra làm quạt hợp hoan để dùng.

    Tưởng cũng không phải là lạ.

    -------
    (1) Ban tiếp-dư, cung nhân của vua Hán Thành-đế, có tài-năng, giỏi biện-luận, giỏi thi ca, làm chức tiếp-dư. Về sau Triệu-Phi-Yến được vua sủng-ái, Ban tiếp-dư bị bỏ rơi, lui về hầu-hạ Thái-hậu ở Trường-tín cung, làm những bài phú rất thương tâm.

    (2) Tề hoàn, thứ lụa mịn trắng sản-xuất ở đất Tề.

    (3) Hợp hoan phiến, (hợp hoan, hòa hợp vui chơi ; phiến, cái quạt), cái quạt tròn bọc lụa có hai mặt giáp nhau.
    ------

    Những điều sưu-tập của sách Sơ học ký và sách Bắc đường thư sao nói về quạt đều là thể-chế ấy cả. Về sau mới có quạt xếp, cũng [11b] gọi là tụ đầu phiến (quạt có những cây nan giụm đầu), bởi vì từ thời Bắc Tống mới có thứ quạt nầy.

    Người Nhật-Bổn cũng chế-tạo thứ quạt xếp nầy, mặt có phết vàng, nan bằng tre đen, để đem nộp cống.

    Người xưa cho là quạt của người Đông-di, thì quả như vậy.

    Nước Nam ta hiện thời có những kiểu quạt như ban trúc phiến (quạt mà nan bằng tre bông), lão mai phiến (quạt mà nan bằng gỗ mai già), tông phiến (quạt bằng lá cây kè), bạch đàn phiến (quạt mà nan bằng gỗ bạch đàn), đại mội phiến (quạt mà nan bằng đồi-mồi), ngưu giác phiến (quạt mà nan bằng sừng bò).

    Nan quạt có hai thứ, thứ cong và thứ ngay, lớn nhỏ đều có 22 nan, giấy thì dán hai mặt.

    Quạt nước Triều-tiên phất bằng giấy dầu, chỉ có mật mặt.

    Sách Tam dư chuế bút của nhà nho đời Minh chép : Thói đời dùng vàng bạc làm chiếc nhẫn cho đàn bà đeo ở ngón tay, gọi là giới chỉ.

    Sách Ngũ-kinh yếu nghĩa cũng chép : Đời xưa, các phi thiếp hầu ở chỗ vua ngự, lấy chiếc nhẫn bạc đem dâng, tục nầy gốc ở chế-độ đời Tam-đại. Nay gọi chiếc nhẫn ấy là giới chỉ, nước ta gọi nhẫn vàng nhẫn bạc là đấy [12a].


    Kiểu đương thời người ta lại thích lấy kim-cương (hột xoàn) và ngọc mắt mèo nhận vào mặt nhẫn, xem rất là quý trọng.

    Có một mặt nhẫn giá đắt hơn mười hốt bạc (nén bạc).

    Theo sách Cổ Lâm-ấp ký vào thòi Lục-triều chép : Vua nước ấy là Minh-Đạt dâng chiếc nhẫn kim-cương. Vậy thì thể-chế của chiếc nhẫn vốn có đã lâu rồi.

    Người Tàu gọi giới chỉ, người Nam ta gọi là nhẫn, ý nghĩa cũng là một.

    Ngày nay người ta thường buôn những loại đá quý (bảo thạch) để khảm vào chiếc nhẫn.

    Theo sách Bổn-thảo, bảo thạch sản-xuất ở Hồi-hột, Tây-phiên, Vân-nam. Liêu-dông cũng có bảo thạch.

    Bảo thạch có mấy thứ : thứ màu hồng, thứ màu lục, thứ màu biếc, thứ màu tía. Lại có mấy thứ ngọc nha-cốt, ngọc miêu-tinh (ngọc mắt mèo) để nhận vào các món đồ dùng để cài đầu, thứ to như đầu ngón tay, thứ nhỏ như hột đậu, những thứ nầy đều mài thành hình hột ngọc châu.

    [12b] Nước Hoa-lang (Hollande) có một ngọc núi kéo dài độ 50 dặm, sản-xuất ngọc kim-cương rất cứng, những vật tầm thường không thể nào làm cho nó vỡ nát được.

    Lại ở chỗ khác có một ngọn núi sản-xuất một thứ sắt rất cứng bén. Người trong nước lấy sắt ấy rèn thành dao búa, rồi tùy theo sớ đá bửa vỡ lòng đá ra, may được một hòn kim-cương, lại tùy liệu gọt đẽo thành mặt nhẫn để khảm vào chiếc nhẫn.


    Những bảo thạch tìm được ở mấy chỗ ấy đều nhỏ bé, chỉ có quốc-vương nước ấy có một viên bảo thạch lưu truyền đời đời to như trái táo, mỗi buổi chầu treo ngọc ấy ở của Viên-môn, ánh sáng lấp lành lập lòe.

    Lại có mộ dãy trường sơn quanh có như hình con rắn bò, người trong nước cũng bổ đá lấy ngọc. Ngọc ấy hình nhọn mà dài mà màu hồng lợt gọi là xà mục ngọc (ngọc mắt rắn), đem bán ở xứ khác, gạt người bảo là mắt rắn thật có ngọc.

    Chuyện nầy được nghe ở một người bổn quốc ở xã Liêu-xuyên huyện Đường-hào đã từng theo khách đi tàu sang nước ấy mà thấy [13a] được việc kể trên, ý định rằng thứ sắt cứng bén ấy tức là sách đã gọi kiếm Côn-ngò đẽo ngọc đá như bùn.

    Nhưng sách Lĩnh-nam tạp ký có nói đến thứ hấp độc thạch (ngọc hút độc) lại là thứ ngọc trong óc con rắn độc ở đảo Tây-dương, to như hột biển đậu (1) có thể hút tất cả các thứ nọc độc làm sưng da thịt và các thứ nọc rít nọc rắn nọc bò-cạp, hễ đặt ngọc ấy lên chỗ đau, thì nó dính vào đấy không động đậy, khi nào hút hết nọc độc thì nó tự nhiên rớt ra.

    Thứ ngọc nầy phải lấy sữa người mà ngâm nó, hễ thấy sữa biến thành màu lục thì mau lấy ra bỏ. Nếu mình không ngâm vào sửa người thì ngọc ấy nứt vỡ.

    Đấy lại là một vật khác.

    ------
    (1) Biển đậu, loại đậu có trái cong như lưỡi liềm, người ta gọi là đậu trắng.
    -------

    Quách-Phác (1) chú-thích sách Sơn-hải kinh có nói : Nay ở cõi ngoài biên-giới sản-xuất đá ki,-cương, nó thuộc loài đá mà giống như vàng, có tia sáng long lanh màu sắc, có thể dùng để khắc gạch lên ngọc. Người ngoại quốc đeo nó, nói là để trừ khí độc.

    Du-Tử-Lục nói : “Những nhà độ số nối tiếng của các nước Tây-dương (Âu-châu) chế-tạo ra cái kính viễn-vọng (kính để trông ra xa) lấy da [13b] làm ống, dài độ hơn một thước, có bốn năm ống lớn nhỏ chồng vào nhau. Để ống kính đầu nhỏ ở phía trong hướng vào vật gì mà xem thì thấy vật to thành vật nhỏ. Để ống kính đầu lớn ở ngoài hướng vào vật gì mà xem thì thấy vật nhỏ thành vật to.

    Cách xa độ một trăm dặm mà không có mây khói ngăn che thì thấy cả râu tóc của người và thấy người vui cười.

    Trong khoảng niên-hiệu Vạn-lịch (1573-1619), thứ khí-cụ nầy được đưa vào nước Trung-hoa”.

    ----------
    (1) Quách-Phác, người ở đất Văn-hỉ đời Tấn, tự là Cảnh-thuần, học rộng tài cao, thích cổ văn kỳ tự, về từ phú thì đứng đầu ở Đông-Tấn, tinh nhất về âm dương lịch toán ngũ hành bốc phệ, bói thì có chứng-nghiệm, lại giỏi trừ tai chuyển họa. Trong thời vua Nguyên-đế, ông làm bài Giang-phú và Nam-giao phú lời văn rất hùng vĩ, vua đọc đến thì khen ngay, liền vời ông vào làm chức Trứ-tác tả lang. Khi vua mất, ông lấy cớ tang mẹ xin từ-chức. Trong thời vua Minh-đế, Vương-Đôn khởi loạn, nhờ ông bói cho. Ông bói ra Đại-hung (rất xấu). Vương-Đôn nổi giận chém ông chết.

    Ông có soạn những sách : Động-lâm, Tân-lâm, Bốc-vận, Nhĩ-nhã chú, Sơn hải kinh chú, Mục thiên-tử truyện chú, Sở từ chú, Tử hư thượng lâm phú chú.
    --------

    Du-Chiếu nói : Ống kính xem trời (télescope) đặc biệt làm bằng pha-lê, cuốn giấy làm ống, đặt kính ở hai đầu. Kính thì ở ngoài phẳng, ở trong lõm, trong ngoài thấu suốt, vì lẽ dùng mặt phẳng ở ngoài để thu hình các vật, dùng mặt lõm ở trong để phóng đại hình ảnh các vật ra.

    Cái ống có mấy khúc chồng vào nhau có thể kéo ra dài và dồn ngắn lại, để trông xa cũng như trông gần, để trông ra to và xem thành nhỏ.

    Sách Thuyết-linh (1) chép : Gương đeo mắt (nhãn kính hay mục kính) gọi là ái đãi sản-xuất ở nước Mãn-thích-gia xứ Tây-vực, hình chất mỏng mà thấu [14a] quang, như thủy-tinh pha-lê, lấy vàng bọc vòng tròn mặt kính, rồi kéo ra làm gọng-kính, hợp lại thì làm một, kéo ra thì làm hai.

    Cũng có thứ kính gọng thẳng không xếp lại được.

    Người già dùng mắt kính để yên ở đầu xống mũi thì có thể xem được chữ nhỏ, tinh-thần gia tăng gấp bội.

    Vua Tuyên-tông nhà Minh lấy nhãn kính ban cho Hồ-Tông-Bá.

    Lại có quan Tham-chính Tôn-Cảnh-Chương đem con ngựa hay đổi với người lái buôn ở Tây-vực lấy một kính đeo mắt.

    Thời nhà Minh còn quý trọng kính đeo mắt như thế. Đến nay chỉ vài phần bạc là có thể mua được một kính đeo mắt rồi.

    ---------
    (1) Thuyết-linh, tên sách, có 2 thứ : 1) Do Ngô-Chấn-Phương đời Thanh soạn, chép những tiểu-thuyết bút ký đầu đời Thanh, có 47 loại phân làm 2 tập. 2) Do Uông-Uyển đời Thanh soạn, có 1 quyển, chép những dật sự của danh-nhân đương thời.
    ----------