31.16 - windyclover (type done)

15/8/15
31.16 - windyclover (type done)
  • 152 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Sách Tục Thuyết phu dẫn sách Phương châu tạp lục của Minh nho đại để nói: Kính đeo mắt (ái đãi) là vật ít thấy trên đời, cũng như thứ vải hỏa hoãn bố (thứ vải vào lửa không cháy).

    Sách Thuyết-linh cho rằng: Chép những việc ấy hoàn toàn là dẫn lời mà thôi.

    Bão-Phác-Tử (1) nói: Người châu Giao châu Quảng thường làm cái bồn bằng thủy-tinh thứ giả.

    [14b] Độc thực (2) (dọn cả bàn mâm cỗ mà ăn) bắt đầu từ đời vua Hán Văn-đế. Vua Hán Văn-đế sai quan Thái-giám ban cho Thái-tử (Khải) một bàn mầm cỗ để dùng mỗi bữa ăn.

    Trong thời Ngũ-đại, nhà giàu khi ra chơi xa có đem theo mâm cỗ để ăn, đều dùng cái bàn sơn đỏ (hưu độc) để mâm cỗ, đậy lên bằng cái lồng bàn hai lớp màu tía biếc, có hai người khiêng đi. Những bàn đặt mâm cỗ nầy được khiêng đi đông-đảo thành hàng giống như hàng chim nhạn. Người ngoài đứng xem gọi là nhạn độc (bàn đặt mâm cỗ khiêng đông-đảo lũ-lượt như hàng chim nhạn).


    (1) Bão-Phác-Tử, Cát-Hồng đời Tấn tự hiệu là Bão-Phác-Tử, người ở đất Câu-dung, tự là Trĩ-xuyên, người đời gọi là Tiểu Cát-tiên ông , lúc trẻ ham học, lại thích phép đạo dưỡng của thần tiên, học-thuật luyện đơn của Trịnh-Ẩn, đệ-tử của Huyền, nghe đất Giao-chỉ sản-xuất đơn sa, bèn dắt con cháu đến núi La-phù luyện đơn. Đơn luyện thành, ông bỏ xác thành tiên.

    (2) Độc, cái bàn để mâm cỗ. Độc thực là dọn nguyên bàn mâm cỗ mà ăn. Vua Chân-tông một hôm hỏi: “ Độc thực được bày ra vào đời nào? “ – Đỗ-Đích tâu: “Vua Hán Văn-đế rất thương mến con là Thái-tử Khải (Hán Cảnh-đế), mỗi bữa ăn, sai Thái-giám khiêng một bàn mâm cỗ cho Thái-tử dùng”.

    QUYỂN 9 153


    Xem sách Thanh dị lục thì có thể thấy phong-tục xa-hoa lúc bấy giờ.

    Đời xưa có cái quỹ bằng vàng (kim quỹ), hình-dáng chế như cái đẳng hàm (?) ngày nay.

    Sách Kinh Sở tuế thời ký (1) chép: Đánh đu (thu thiên) là trò chơi của người Sơn Nhung ở phương bắc để tập nhảy cho nhẹ-nhàng.

    Kéo dây là trò chơi lấy sợi xe thành dây, rồi đánh trống, hai bên cùng kéo.

    Phần Kiên-chí trong sách Tống-sử chép: Phốc mãn (ống để tiền dành-dụm) lấy tre khoét lỗ làm vật để chứa tiền, có lỗ bỏ tiền vào mà không có [15a] lỗ lấy tiền ra, hễ ống đã đầy tiền thì đập ống mà lấy tiền (cho nên gọi là phốc mãn, phốc là đánh; mãn là đầy).

    Sách Loại-tụ chép: Cái ống khóa dùng để khóa cửa thì phải làm hình con cá, lấy ý: (con cá) không nhắm mắt để trông giữ ban đêm.

    Sách nầy lại chép: Biển Đông có loài cá, cái đuôi của nó giống như đuôi chim ó, hễ nó phun sóng thì trời mưa. Từ đời nhà Đường trở về sau người ta bèn làm hình con cá ấy đặt ở sống nóc nhà để trấn át hỏa tai.

    (1) Kinh Sở tuế thời ký, tên sách, có 1 quyển, do Tông-Lẫm đời Lương soạn. Tông-Lẫm là người nước Sở, cho nên sách nầy chép phong-tục nước Sở gồm có 36 việc.


    154 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Sách Kê lặc biên (1) chép: Sợi dây câu có cột một cộng cỏ lau, gọi là phù tử (miếng nổi), hễ thấy miếng nổi nầy chìm thì biết cá đã mắc rồi.

    Thoái-Chi (2) làm thơ Điếu ngư thi có câu:

    [ ]

    Vũ trầm tri thực sử


    Nghĩa là

    Cái lông (làm phap) chìm thì biết cái mồi bị cá cắn chạy đi.

    (1) Kê lặc biên, tên sách, do Trang-Quý-Dụ đời Tống soạn thường chép những việc tản-mác đã nghe được. Tên sách là Kê lặc (xương sườn gà), có nghĩ là vô vị như miếng xương sườn gà, ăn thì không có mùi vị gì ngon mà bỏ thì tiếc.

    (2) Thoái-Chi tức Hàn Thoái-Chi là Hàn-Dũ, người đời Đường, tự là Thoái-Chi, ngừoi đời gọi là Hàn-Cương-lê, lúc bé mồ-côi, khắc-khổ học nho, đến trưởng-thành thì hạnh-tháo vững-vàng đoan-chính, trong thời vua Đức-tông, đỗ Tiến-sĩ, trải những chức Tứ-mốn bác-sĩ, chuyển làm Giám-sát Ngự sử, dâng sớ can gián những mối tệ ở chợ-búa trong cung, bị biếm ra làm Dương-sơn lịnh, trong thời vua Hiến-tông được triệu vào làm Quốc-tử bác-sĩ, cải sang làm Sử-quán tu-soạn, chuyển sang chức Khảo công lang trung, được trao chức Trung-thư xá-nhân, mắc tội bị đổi làm Thái-tử Hữu thứ-tử, vì việc can ngăn rước tượng Phật bị biếm làm Thứ-sử Triều-châu, đổi làm Thứ-sử Viên-châu, đi đến đâu ông đều thi-hành chính-trị tốt đẹp, rồi được triệu về làm Quốc-tử Tế-tửu, rồi thăng Lại bộ Thị-lang.

    Hàn-Dũ bác thông kinh sử, hiểu rõ Bách-gia, sinh bình bài xích dị-đoan và đạo Phật đạo Lão.

    Văn-chương của ông siêu-việt tự thành một phái, được người đời gọi là Hàn-văn. Ông có soạn sách Hàn Xương-lê toàn tập.


    QUYỂN 9 155


    Do đó mà biết đời nhà Đường, miếng nổi (cái phao) làm bằng lông (ngày nay người ta dùng lông ngỗng làm miếng nổi gọi là phao).

    Đỗ thi có câu:

    [ ]

    Phỉ thúy minh y hãng (1)


    Nghĩa là

    Chim phỉ thúy kêu trên giá phơi áo.

    Lý-Gia-Hựu (2) có câu thơ:

    [ ]

    Liễu sắc xâm y hãng


    Nghĩa là

    Sắc liễu xanh xâm vào giá phơi áo.

    Sách Cúc pha tùng [15] ngữ chép: Thói tục có cây sào phơi áo là cây tre dùng để phơi áo.

    (1) Y hãng, cái giá phơi áo.

    (2) Lý-Gia-Hựu, người đất Triệu-châu đời Đường, tự là Tùng-nhất, trong niên-hiệu Thiên-bảo làm Bí-thư Chính-tự, mắc tội, bị biếm làm Bà-giang lịnh, đổi sang Giang-âm, về sau làm Trung-đài lịnh, giao du thân mật với Nghiêm-Duy, Lưu-Trường-Khanh, Lãnh-Triêu-Dương. Thơ của ông có phong cách nước Tề nước Lương.

    156 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Sách Tục bác vật chí chép: Chiếc diều bằng giấy ngày nay, kéo sợi tơ bay lên khiến con trẻ giương mắt trông theo để bài tiết khí nhiệt trong mình là do người xưa làm ra, tuy là vật nhỏ mọn để chơi đùa mà cũng có thâm ý.

    Phần Vật-nguyên trong sách Tiềm xúc thư chép: Hàn-Tín (1) làm chiếc diều giấy.

    Sách Quảng-đông tân ngữ (2) chép: Việc thả diều giấy, vùng Lĩnh-bắc chơi vào tháng 9, vùng Lĩnh-nam chơi vào tháng 2 tháng 3.

    Sách Thế-bổn chép: Thiếu-Khang đầu tiên chế ra cái ky (3) cái chổi.

    Chú: Thiếu-Khang tức Đỗ-Khang (người có tài làm rượu).


    (1) Hàn-Tín, người ở đất Hoài-âm đời Hán, lúc đầu rất nghèo, thường câu ở dưới thành, ăn nhờ ở bà giặt áo, lạimang cái nhục lòn trôn gã thiếu-nhi ở Hoài-âm, rồi theo Hạng-Lương khởi binh, sau lại theo nhà Hán được trao chức Đại-tướng quân, cầm binh dẹp yên thiên-hạ, được phong Tề-vương, lại đem binh bội ở Cai-hạ, diệt Hạng-Vũ, được làm Sở-vương, cùng với Trương-Lương, Tiêu-Hà gọi là Hán hưng tam kiệt (ba vị hùng kiệt đã hưng thịnh nhà Hán). Về sau bị cáo mưu phản, Hán Cao-tổ giả đi chơi ở Vân-mộng, bắt ông đến Lạc-dương, tha cho làm Hoài-âm hầu. Khi Trần-Hỹ làm phản, Hán Cao-tổ thân chinh đi đánh, Hàn-Tín thác bịnh không đi theo. Lữ-hậu dùng mưu của Tiêu-Hà, bắt Hàn-Tín đến Trường-lạc cung mà chém, tru di cả ba họ.

    (2) Quảng-đông tân ngữ, tên sách, có 28 quyển, di Khuất-Đại-Quân đời Thanh soạn, lấy sách Quảng-đông thông chí lược bớt cái cũ, giảng rõ cái mới, chép các sự vật theo từng loại, có phụ thêm phần khảo-chứng.

    (3) Ky, vật bằng tre, dùng để xúc rác đem đổ.


    QUYỂN 9 157

    Sách Tạp-ngũ hành thư chép: Thường thường lấy ngày mùng 3 tháng giêng mua ky bốn cái treo trên vách nhà chính đường, khiến người ta buôn bán được lời, làm ruộng trồng dâu thì tiền vạn bội cứ đưa vào.

    [16a] Thiên Nguyên-vật trong sách Lữ-lãm (tức sách Lữ thị Xuân-thu) (1) chép: Hồ-Tào (2) chế ra áo, Hậu-Nghệ (3) chế ra cung, Chúc-Dung (4) chế ra chợ, Nghi-Địch (5) chế ra rượu, Cao-nguyên (6) chế ra nhà, Ngu-Hú (7) chế

    (1) Lữ-lãm, tên sách, tức Lữ-thị Xuân-thu, có tất cả 26 quyển, xưa đề là Tần Lữ-Bất-Vi soạn, sự thật là Lữ-Bất-Vi khiến các tân khách trong nha soạn ra. Sách chia ra làm Bát-lãm, Lục-luận, Thập-nhị kỷ, đại để lấy nho làm chủ, có tham chước Đạo-gia, Mặc-gia.

    (2) Hồ-Tào, người đời Thượng-cổ, bề tôi của vua Hoàng-đế, đã sáng-chế ra áo.

    (3) Hậu-Nghệ, vua của Hạ-Hữu-cùng quốc, cũng gọi là Hậu-Di, cậy mình bắn giỏi, không lo việc của dân, bỏ hiền-thần, dùng kẻ sàm nịnh là Hàn-Trạc làm tướng. Hàn-Trạc ở trong thì siễm mỵ, ở ngoài thì ăn hối-lộ, làm mọi điều gian trá tàn ác để giựt nước. Hậu-Nghệ đi săn sắp về thì bị Hàn-Trạc giết.

    (4) Chúc Dung, thần lửa, chức hỏa quan đời Thượng-cổ - Tên một ông vua đời Thượng-cổ.

    (5) Nghi-Địch, người chế ra rượu trong thời vua Vũ nhà Hạ. Ngày xưa con gái của vua sai Nghi-Địch làm rượu, khen rượu ấy ngon bèn dâng lên vua Vũ. Vua Vũ uống rượu ấy thấy ngon bèn xa lần Nghi-Địch và không uống rượu nữa, bảo rằng: “Đời sau ắt có kẻ vì uống rượu mà mất nước”.

    (6) Cao-Nguyên, người đời Hạ, đầu tiên làm ra nhà cửa.

    (7) Ngu-Hú, người đời Thượng-cổ, bắt đầu chế ra thuyền.

    158 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    ra thuyền, Bá-Ích (1) chế ra giếng, Xích-Ký (2) chế ra cối, Thừa-Nha chế ra xe ngựa, Hàn-Ai (3) chế ra phép đánh ngựa kéo xe, Vương-Băng (4) chế ra cách thắng xe bò, Sử-Hoàng (5) chế ra họa đồ, Vu-Bành (6) chế ra phép trị bịnh, Vu-Hàm (7) chế ra phép bói.

    Sách Thế-bổn chép: Ông Dư chế ra áo giáp (8).

    Tống-Biểu chú-thích rằng: “Ông Dư là Thiếu-Khang”.

    Quản-Tử nói: “Xi- Vưu (9) lấy sắt làm gươm và áo giáp sắt” (10).

    Liệt-Tử nói:” Hoàng-đế và Viêm-đế đánh nhau, làm cờ


    (1) Bá-Ích, bề tôi của vua Thuấn, đã giúp vua Thuấn điểu thuần chim thú, được ban họ là Doanh, có công giúp vua Vũ trị nạn lụt. Vua Vũ đem thiên hạ trao cho Bá-Ích. Bá-Ích không nhận đi ẩn ở phía nam núi Ky-sơn.

    (2) Xích-Ký, bề tôi của vua Thần-Nông đã chế ra cái cối.

    (3) Hàn-Ai, người đánh xe ngựa rất giỏi đời xưa.

    (4) Vương-Băng, tên một ông vua đời Ân đã chế ra cách thắng xe bò.

    (5) Sử-Hoàng, bề tôi của vua Hoàng-đế, bắt đầu chế ra chữ và đồ họa.

    (6) Vu Bành, người chế ra phép trị bịnh, làm thầy thuốc.

    (7) Vu-Hàm, người đời Hoàng-đế chế ra phép xem bói, làm thầy bói.

    (8) Giáp, áo bằng da để đánh giặc.

    (9) Xi-Vưu, người đời Thượng-cổ. Xi-Vưu làm loạn, Hoàng đế lấy binh ở chư-hầu đánh với Xi-Vưu ở cáh đồng Trác-lộc, bắt giết được Xi-Vưu.

    (10) Khải, áo giáp bằng sắt để đánh giặc.

    QUYỂN 9 159

    xí có hình chim điêu (chim diều), chim hạt (1), chim ưng (chim cắt), chim diên (diều hâu).

    Sách Động-minh ký (2) chép: Hoàng-đế lấy sắt ở núi Thú-sơn rèn đúc dao.

    Sách [ ] chép: Ông Huy làm cung, ông Di-Mâu (3) làm ra tên.

    Chú-thích: Hai ông nầy đều là bề tôi của vua Hoàng-đế.

    [16b] Sách Uyên-giám loại hàm chép: Vua Cao Hoàng-đế nhà Minh vời các ông Từ-Đạt, Lý-Văn-Trung, Phùng-Thắng yến tiệc và thi bắn, có ban cho 50 cây cung Giao-chỉ, 100 cây đồng cung (4).

    Sách Bác vật chí chép: Người Sơn-man ở Giao-châu gọi là lý tử. Cây cung của họ dài mấy thước, cây tên của họ dài hơn một thước, lấy đồng làm đầu tên, lấy thuốc độc bôi ở mũi tên, người nào bị bắn trúng thì chết.

    Ngày nay người Sơn-man cũng còn dùng như thế. Cọp beo thấy họ đều phải tránh xa.


    (1) Hạt, một loài chim giống như chim trĩ mà to hơn, sắc lông đỏ, đầu có lông mào, tính hung tợn, hay đá nhau đến chết mới thôi. Vì thế mũ của quan võ đời xưa có cắm lông chim hạt, ngụ ý có chí chiến-đấu đến chết mới thôi.

    (2) Động-minh ký, tức sách Hán Vũ động minh ký, tên sách, xưa đề là Quách-Hiến đời Hán soạn, chép toàn những lời hoang đãng không thể kê cứu, có tất cả 4 quyển.

    (3) Di-Mâu, người thời Hoàng-đế bắt đầu chế ra tên, có người nói tức là ông Phù-Du.

    (4) Đồng cung, cung sơn của thiên-tử ban cho chư-hầu có công to.


    160 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Quản-Tử nói: “Ông Bá-Cao tâu với vua Hoàng-đế (1) rằng:
    - Ở trên có đna sa (cát đỏ) thì ở dưới có hoàng kim (vàng). Ở trên có từ thạch (đá nam châm) thì ở dưới đất có loài kim. Ở trên có lăng thạch (đá có góc cạnh) thì ở dưới đất có chì, thiếc và đồng đỏ. Ở trên có đất đỏ thì ở dưới có sắt.

    Núi được quý là thế.

    Quản-Tử nói với Tề Hoàn-công [17a] rằng: “Ở trên có chì thì ở dưới đất có bạc sống. Ở trên có đan-sa (cát đỏ) thì ở dưới đất có vàng sống.

    Núi được quý là thế. Phải rào kín cẩn-thận mà cấm ngặt. Đó là những chỗ có các thứ tài lợi của trời đất.

    Tôi khảo-cứu sách Cựu học ký thấy chép: Cứ 500 năm những danh sơn (núi nổi tiếng) trong thiên-hạ mở ra một


    (1) Hoàng-đế, hiệu vua đời Thượng-cổ, con của Thiếu Điển thị, họ Công tôn, lớn lên ở Cơ-thủy, lại lấy họ Cơ, sinh ra ở gò Hiên-viên, cho nên gọi là Hiên-viên thị, nước ở Hữu-hùng, cho nên gọi là Hữu-hùng thị, lấy thổ đức làm vua, vì đất màu vàng (hoàng) cho nên gọi là Hoàng-đế. Đầu tiên họ Thần-Nông làm vua truyền đến đời thứu 8 là Du-võng bạo ngược vô đạo bị vua Hoàng-đế đánh bại ở Bản-quyền. Xi-Vưu làm loạn bị vua Hoàng-đế giết ở Trác-lộc. Được chư-hầu tôn lên làm vua, Hoàng-đế lên ngôi, sai Ông Đại-Náo làm Giáp-Tý, sai ông Thương-Hiệt làm Lục-thư, sai ông Linh-Luân định luật-lữ (về âm-thinh), sai ông Lệ-Thủ định toán số, sai ông Kỳ-Bá làm Nội-kinh, sáng-chế phương-thuật y-dược. Người phi của vua Hoàng-đế là Luy-tổ [ ] nuôi tằm kéo tơ, may quần áo, dựng cung thất, sáng-chế các thứ đồ dùng đều đầy-đủ vào thời ấy. Hoàng-đế ở ngôi được 100 năm.

    QUYỂN 9 161


    lần. Lúc núi mở ra, những tinh chất của loài kim và loài đá phun vọt ra.

    Vận khí của trời đất quan hệ với nhau không phải là nhỏ. Xưa qua nay lại, việc mở đóng không nhất định.

    _Sách Động thiên thanh lục chép: Đồ bằng đồng chôn trong đát được ngàn năm thì biến thành toàn màu xanh như lông chim trả. Sắc xanh nầy sau giờ tý thì hơi lợt, sau giờ ngọ thì có âm khí, màu xanh ẩm-ướt muốn nhểu giọt. Nếu có chỗ đất ăn khoét, hoặc có chỗ bị lủng bị bóc ra và như có dấu chữ triện tự nhiên hoặc có dấu búa đục thì là đồ giả.

    Đồ đồng [17b] thì toàn màu lục mà trơn bóng như ngọc (khi chôn được ngàn năm), còn chôn chưa được ngàn năm thì chỉ có màu lục mà không trơn bóng, những chỗ bị ăn khoét cũng như trước.

    Chất đồng xưa lưu truyền nhiều đời chưa từng bị ngâm nước chỉ để ở cõi nhân-gian thì có màu tía vàng sạm đen không trơn bóng mà có đốm như chu-sa, chỗ nào nhiều thì dấu đốm nổi lên cao như chất thần-sa (chu-sa) thứ thượng đẳng.

    Nếu cho vào nồi đun sôi nó khá lâu thì những đốm ấy càng hiện rõ.

    Còn thứ giả là thứ mà người ra lấy dầu sơn hòa với chu-sa mà làm, dễ phân-biệt.

    Ba thứ đồng xưa đều không có mùi tanh, nếu là thứ giả, chà xát vào lòng bàn tay cho nóng thì mùi tanh của đồng hất vào mũi ngay.