31.17 - windyclover (type done)

20/8/15
31.17 - windyclover (type done)
  • 162 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Còn chữ khắc lên đồ đồng xưa, nhà Hạ dùng chữ triện lỗi dấu chân chim, nhà Thương dùng chữ triện lối côn-trùng và cá, nhà Chu dùng chữ Đại-triện (1) lối côn-trùng và cá, nhà Tần dùng chữ đại-triện và tiểu-triện (2), nhà Hán dùng chữ tiểu-triện và chữ lệ (3), nhà Tấn nhà Tống trở về sau dùng chữ khải (4), nhà Đường dùng chữ khải và chữ lệ, thời Tam đại dùng chữ khắc chìm (âm chí) gọi là chữ yển nang, chữ loại nầy lõm [18a] vào trong, từ đời nhà Hán trở về sau có khi người ra dùng loại chữ nổi, chữ loại nầy lồi lên cao. Chữ lõm thì dùng dao mà khắc như khắc bia vậy, bởi vì chữ chìm thì khó đúc nhưng chữ chìm dễ làm. Hễ có chữ nổi thì quả quyết không phải đồ xưa.

    Đời xưa dùng lá tiêu-ngải (5) đốt để thông đạt lên thần minh mà không có đốt hương, cho nên không có lò hương. Vật mà ngày nay người ta gọi là lò hương


    (1) Đại-triện, lỗi chữ đời nhà Chu. Chu Tuyên-vương sai Thái-sử Trựu định ra loại chữ đại-triện, cho nên loại chữ nầy cũng được gọi là Trựu-văn.

    (2) Tiểu-triện, là lối chữ đời nhà Tần. Sau khi gồm thâu sáu nước thống-nhất thiên-hạ, Tần Thủy-hoàng sai Lý-Tư sửa đổi chữ đại-triện của nhà Chu thành loại chữ tiểu-triện với những nét đơn-giản hơn.

    (3) Chữ-lệ, là loại chữ đời Tần, tuy tương truyền do Trinh-Mạc định ra, nhưng có lẽ chữ lệ đã có từ trước đời Tần và được nhà Tần thông-dụng trong các quan nha, vì lẽ chữ lệ rõ-ràng dễ viết như chữ triện.

    (4) Chữ khải (khải là pháp thức khuôn mâu) tức chữ chân thư, loại chữ viết rõ-ràng chân-chính đang thông-dụng hiện tại. Theo nhiều người bảo, Vương-Thứ-Trọn căn-cứ vào chữ lệ định ra chữ khải trong niên-hiệu Kiến-sơ nhà Hán.

    (5) Tiêu cũng là một thứ cây ngải thơm.


    QUYỂN 9 163


    đều là lấy đồ vật để cúng tế trong tông miếu của người xưa mà làm.

    Tước lô là cái lò hương giống hình cái chén rượu đời xưa.

    Nghê lô (cái lò có hình con sư-tử) là cái vũ đậu (1) đời xưa.

    Hương cầu là cái lồng ấp đời xưa.

    Những thứ nầy có nhiều hạng khác nhau.

    Loại đồng xưa phần nhiều có thể trừ tà ma, cho nên người ta nên chứa cất trong nhà.

    Sách Quang-ký chú của Trịnh-Giải đời Tống chép: Cái tước (chén uống rượu) đựng được một thăng. Cái (2) đựng được hai thăng. Cái giác (3) [18b] đựng được bốn thăng. Cái di (4) đựng được ba đấu. Cái anh (5) đựng được sáu đấu. Cái kiên (6) là đồ gốm đựng được năm đấu. Cái lôi (7) đựng được mười đấu là một thạch. Cái hồ (8) cũng


    (1) Đậu, một loại dĩa có nắp và có chân cao.

    (2) , chén uống rượu và có góc cạnh.

    (3) Giác, cái cóc để uổng rượu đựng bốn thăng.

    (4) Di, cái chén đựng rượu.

    (5) Anh, cái hũ cái vò, bụng to miệng nhỏ.

    (6) Kiên (húy tên Tôn-Kiên, các nhà nho ở Giang-tả đọc ra chân), một loại vò hũ.

    (7) Lôi, cái vò đựng rượu có vẽ hình mây và sấm.

    (8) Hồ, đồ đựng rượu, đựng nước.


    164 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    thế. Cái kim-lôi (1) đựng được một hộc. Cái phủ (2) là cái bồn nhỏ bằng đất hầm. Cái chung (3) bằng hai cái phủ. Cái bình (4) giống cái chung mà cổ dài Cái thược (5) là đồ dùng múc rượu đựng được một thăng.

    Sách Tam tài đồ hội chép: Cái bình là đồ dùng để đựng rượu, hình dáng của nó giống như cái bình hoa ngày nay. Cái phủ là đồ đựng muối đựng tương, hình dáng của nó giống như cái ủng (cái vò) bằng đất hầm ngày nay.

    Cái lam (cái rổ) là vật-dụng bằng tre, thứ không có cột dây gọi là cái khuông (cái giỏ tre), thứ có cột dây gọi là cái lam, to như cái đấu, lại gọi là cái linh-sao (6).

    Vật dùng để hái dâu đựng trái cây dễ cầm xách cũng gọi là cái lung (cái lồng).

    [19a] Sách Ngũ tạp trở (7) chép: Cái hầm xưa chỗ có nước gọi là đảm thủy, chỗ không có nước gọi là đảm thổ. Hầm đảm thủy (có nước ) có thể dùng ngâm đồng. Hầm đảm thổ (không có nước) có thể dùng nấu đồng.


    (1) Kim-lôi, cái vò đựng rượu có vẽ hình mây và sấm và có trang-sức bằng vàng.

    (2) Phủ, cái hũ bằng đất hầm để đựng rượu và nước.

    (3) Chung, đồ đựng rượu.

    (4) Bình, đồ để đựng, miệng nhỏ, cổ dài, bụng to.

    (5) Thược, cái muỗng, cái gáo để múc rượu.

    (6) Linh, cái lồng. Sao, cái rổ.

    (7) Ngũ tạp trở, tên sách, do Tạ-Tại-Hàng đời Minh soạn, chia ra năm bộ: Thiên, địa, nhân, vật và sự.


    QUYỂN 9 165

    Theo sách Tống sử chí, Hàn-Cầu đúc tiền mới, lấy hầm đảm thủy (có nước) chứa và ngâm một số đồng làm ngạch số. Có chú phép ngâm đồng như sau:
    Lấy sắt sống rèn thành miếng mỏng xếp để trong máng ở hầm đảm thùy, ngâm nước vài ngày. Những miếng sắt ấy bị đảm thủy ăn mỏng, sinh ra thứ than đỏ ở trên mặt Cạo lấy thứ than đỏ ấy cho vào lò nấu ba lần thì thành đồng, đại để dùng sắt hai cân một lượng thì được một cân đồng.

    Ở Nhiêu-châu có Hưng-lợi trường, ở Tín-châu có Diên-sơn trường, đều có ngạch thuế. Đó gọi là đảm đồng.
    Sách Hành trù tập lại chép: Trui (1) sắt với đảm phàn thì biến sắt thành đồng

    [19b] Sách Bác vật chí (1) chép: Núi có cát thì sinh ra vàng, có thóc thì sinh ra ngọc.

    Thi-tử nói: “Chỗ nước xoáy tròn thì có hột châu, chỗ nước xoáy vuông thì có ngọc”.

    Sách Biệt bảo kinh chép: Hễ đá có chứa ngọc, mình đem đá ấy soi lên đèn mà xem thì thấy ở trong có ánh sáng hồng như lúc mặc trời mới mọc, thì biết là có ngọc.

    Sách Quảng bác vật chí chép: Núi mà ở dưới có bạc


    () Thối là trui, đốt đỏ lưỡi sắt rồi nhúng gấp vào trong nước cho sắt thêm cứng.

    (2) Bác vật chí, tên sách, có 10 quyển, bổn cũ đề là Trương-Hoa đời Tấn soạn. Sự thật thì nguyên bổn đã tản mác, người đời sau gom góp lại mà thành, lại có ohụ thêm những thuyết khác.


    166 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    thì ở trên phải mọc cây hành, ở dưới có vàng thì ở trên phải mọc cây hẹ, ở dưới có đồng có thiếc thì ở trên có mọc cây phương-thảo, hễ thấy cọng vàng đẹp-đẽ thì biết ở dưới chứa đồng.

    Núi có chứa bạc thì ở trên có nhiều móc trắng.

    Sách nầy lại chép: Đồ bảo vật (vật quý báu) ở dưới thành quách gò tường thì cây cối ở đấy biến đổi. Thấy bên cành to có nhánh nhỏ gãy, đó là điều để chiêm-nghiệm: Thấy cành nhỏ gãy hướng về đâu thì bảo vật ở về phía ấy.

    Hễ có đồ vàng quý báu thì nó thường biến thành con rắn, thấy nó thì cởi giầy hay dép ném [20a] nó hay đái nước tiểu lên nó thì bắt được.

    Thuyết nầy thật là quái đãng.

    Sách nầy lại chép: Vàng trừ được ma quỷ. Đá kim-cương trừ được chất độc dữ.

    Phải biết điều này.

    Sách Địa kính đồ chép: Của-cải giấu ở dưới gò đống thì cây cối ở đấy biến đổi. Cây-cối bị gãy khô thì bên cạnh có của-cải ở hướng chỗ gãy. Của-cải ở phía nam thì cách cây ấy 8 thước. Của-cải ở phía đông thì cách cây ấy 6 thước.

    Khí của chất bạc trong đêm ttắng toát tản mác trên mặt đấy, lấy tay đùa thì khí bạc ấy theo tay hợp lại.

    Hễ thấy cỏ xanh cộng đỏ thì biết ở dưới đất có nhiều chì.


    QUYỂN 9 167


    Sách nầy lại chép: Muốn biết bảo vật ở đâu thì trong ban đêm lấy cái kính to mà soi, hễ tháy ảnh như ánh sáng trong kính, thì biết bảo vật ở dưới đấy.

    Sách nầy lại chép: Khí vàng màu đỏ, ban đêm thấy có ánh lửa và con chuột trắng.

    [20b] Sách Bổn-thảo chép: Ngọc thường sản-xuất ở trong sông Lư-dung thuộc đất Nhật-nam.

    Đất Nhật-nam nay là trấn Nghệ-an. Lư-dung không rõ là chỗ nào.

    Sách Vân tiên tạp ký chép: Trong núi có ngọc thì cành ở bên cạnh rủ xuống.

    Sách Ngọc kinh đồ chép: Tháng hai, thấy cây cỏ trên núi mọc lên nhọn mà rủ xuống thì biết là có ngọc.

    Thất bảo (bảy món quý báu) trong kinh Phật là nói: lưu-ly, xa-cừ, mã-não, pha-lê, trân-châu (1).

    Sách Di mưu lục chép: Trong niên-hiệu Trường-phù (1008 – 1016), vua Chân-tông nhà Tống nói: “Trong niên-hiệu Hàm-bình (998 - 1003) giác bạc một lượng là 800, giá vàng một lượng là 5.000. Giá sao tăng vọt như thế?”

    Không biết lúc bấy giờ giá vàng giá bạc là bao nhiêu.


    (1) Thất bảo, theo Pháp hoa kính là: Kim, ngân, lưu-ly, xa-xừ, mã-não, trân-châu, mai-khôi, theo Vô lượng thọ kinh là: kim, ngân, lưu-ly, pha-lê, san-hô, mã-não, xa-cừ, theo Đại trí độ luận trong A-di đà phật kinh là: kim, ngân, lưu-ly, pha-lê, xa-cừ, xích-châu, ma-não, theo Bát nhã kinh là: kim, ngân, lưu-ly, xa-cừ, mã-não, hổ-phách, san-hô.

    168 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ

    Sách Tống hội yếu (1) chép: Quan Bí-thư thừa là Chu-Chính-thần nói: “Lúc trước làm thông-phán ở Quảng-châu thấy khách thương ở phiên trấn [21a] thường sang Giao-châu buôn bán đem thứ tiền chữ [ ] và tiền sa-lạp đến Quảng-châu, làm rối loạn phép tiề-tệ của Trung-quốc”.

    Đấy là tức tiền mà nhà Tiền-Lê nước ta đã đúc ra, bề mặt đồng tiền ấy có chữ Thiên phúc trấn bảo [ ], bề lưng có chữ [ ].

    Đồng tiền nầy nay vẫn còn, nhưng ít thấy.

    Sách Quy điền lục của Âu-dương-Tu chép: Phép dùng tiền từ đời Ngũ-đại trở về sau, cứ 77 đồng làm một mạch (2) gọi là tỉnh mạch (tỉnh, bớt).

    Nay việc giao-dịch (đổi chác) trong chợ-búa lại rút đi năm đồng nữa gọi là y trừ.

    Trong niên-hiệu Khang-hy (1663 – 1723), sách Thiên lộc chí dư của Cao-Sĩ-Kỳ (3) có nói: Nay ở kinh-đô người ta lấy


    (1) Tống hội yếu, tên sách, do Tử--Tùng đời Thanh sưu-tập. Nhà Tống làm Bổn triều hội yếu bắt đầu từ đời vua Nhân-tông do Chương-Đắc-Tượng tâu dâng lên sách Khánh lịch quốc triều hội yếu, rồi từ vua Thần-tông trở về sau đều có liên tiếp nhưng đều bị tản mác cả. Từ-Tùng trong niên-hiệu Gia-khánh gom các thứ hội-yếu của đời Tống làm thành sách Tống hội yếu, nhưng chưa kịp chỉnh-lý thì mất. Trong thời Quang-tự nhà Thanh, Trương-Chi-Đổng được bản cảo và có nhiều người hiệu-đính, năm Dân-quốc thứ 24, sách nầy mới được ấn-hành.

    (2) Mạch, số tiền. Đời Ngũ-đại, 80 đồng là một mạch, tức một tiền .

    (3) Cao-Sĩ-Kỳ, người ở đất Tiền-đường đời Thanh, hiệu là Giang-thôn, trong thời vua Thansh-Tổ, cung phụng ở nội đình, làm quan đến chức Lễ bộ Thị-lang, có viết những sách: Thanh ngâm đường toàn tập, Thiên lộc chí đa, Hộ tùng nhật lục.


    QUYỂN 9 169


    32 đồng làm một mạch (1 tiền). Gần đây lại giảm nữa, lấy 30 đồng làm một mạch (1 tiền). Trong chợ, người mang tiền thông-dụng không cho đấy là lạ. Thế thì lúc bấy giờ, cái tệ thông-dụng tiền càng quá lắm hơn đời trước nữa,

    Nhưng nay ở Trung-châu [21b] đã không có cái tệ ấy, người ta lấy một trăm đồng làm một mạch (1 tiền).

    Ở nước Nam ta, 36 đồng gọi là một sử tiền, 60 đồng làm một mạch, gọi là cổ tiền.

    10 tiền sử tiền lại là 6 tiền cổ tiền là một quan sử tiền.

    10 tiền cổ tiền lại là một quan sử tiền.

    6 tiền 24 đồng cũng gọi là một quan cổ tiền.

    Lúc bấy giờ công tư đều thông-dụng. Ban thưởng cấp phát thì lấy sử tiền mà tính. Còn trưng thu nộp thuế thì lấy cổ tiền mà tính.

    Đời gần đây thì dùng toàn cổ tiền.

    Còn sử tiền thì việc mua bán trong dân gian còn dùng.

    Sách Quảng-đông tân ngữ của người nhà Minh chép: Ở Giao-châu người a còn dùng tiền nhà Tống, lấy 50 đồng làm 1 mạch (1 tiền).

    Nay ở Trung-quốc tiền giấy và giấy bạc mỗi nơi đều không đồng nhau. Ở Nam-ninh người ta dùng toàn hồng tiền Khang-hy, những [22a] loại tiền khác đều không dùng.

    Bạc một lượng giá 1.000 đồng.

    Ở Tầm-châu và Ngô-châu, các loại tiền đều được dùng.


    170 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Tiền cổ bằng thục đồng 100 đồng ăn 120 đồng tạp tiền.

    Ở Quế-lâm các thứ tiền đều được dùng. Tiền Càn-long, tiền Ung-chính, tiền Khang-hy thứ lớn 100 đồng ăn 150 đồng tạp tiền.

    Ở nước Nam ta, tiền gián thứ nhỏ và các thứ tạp tiền đồng nhau.

    Bạc một lượng giá 860 đồng tiền lớn.

    Ở Toàn-châu tạp tiền không dùng, quý trọng nhất là tiền Khang-hy đều có chữ quế [ ], 100 đồng tiền Khang-hy ăn 200 đồng tiền lớn.

    Bạc một lượng giá 400 đồng quế tiền.

    Ở Hồ-nam đến Nam-kinh các loại tạp tiền đều không dùng, người ta chỉ dùng tiền lớn cà tiền Tiểu hoàng Khang-hy. Tiền lớn 80 đồng ăn 100 đồng tiền Tiểu-hoàng.

    Bạc một lượng giá 800 đồng tiền lớn.

    Ở Dương-châu đến Hoài-an người ta thích nhất tiền gián thứ nhỏ. Mỗi một đồng tiền gián nhỏ đổi được 3 đồng tiền lớn.

    Ở Sơn-đông người ta dùng tiền như ở Nam-kinh, nhưng 100 đồng tiền lớn ăn 200 đồng tiền nhỏ. Người ta lại gọi tiền lớn là lão tiền.

    Bạc một lượng giá không dầy 800 đồng tiền nhỏ.

    Ở Trực-lệ người ta dùng tiền như ở Sơn-đông, gọi tiền lớn là Hoàng-tiền, lại gọi là chế-tiền, lại gọi là Lão-quan bản văn.

    QUYÊN 9 171


    Bạc một lượng giá không đầy 800 đồng quan tiền. Thông-dụng là Mao-ngân ăn 750 đồng.

    Ở xứ nầy người ta xâu tiền một trăm đồng làm một quan, trong mỗi quan thiếu một hay hai đồng.

    Từ-châu ở Hà-nam đồ gốm nhiều nhất, cho nên tục gọi đồ gốm là đồ sành.

    Sách Ngũ tạp trở chép: Trấn Cảnh-đức ở Nhiêu-châu đồ gốm đem bán khắp thiên-hạ.

    Trong thời nhà minh mỗi năm [23a] Nội-phủ ban một kiểu mẫu để làm đồ sành, có ghi niên-hiệu ở dưới trôn, nhưng đồ sành chế-tạo trong niên-hiệu Tuyên-đức (1426 – 1435) là tinh khéo nhất chẳng kém gì đồ sành đời Tống.

    Nay lò hương có chữ Tuyên-đức [ ] (1426 – 1435) thật là tinh thuần trơn đẹp, màu sắc không có chút căn thô gì, tục thường quý chuộng.

    Có cái bình đựng thuốc hút có chữ Kiến viêm [ ] (1127 – 1130) là đồ đời Tống chế-tạo, nhà thế gia cho là đồ cổ lạ kỳ, giá đắt đến ba bốn mươi quan tiền. Người đánh bạc đem đổi lấy tiền để gỡ gạc, nay không biết lạc ở đâu.

    Số tiếng chuông đánh buổi sáng buổi chiều (ở các chùa) trong thiên-hạ là 108. Đó là số của một năm, bởi vì một năm có 12 tháng, 24 khí và 72 hậu là đúng con số ấy (12 + 24 + 72 = 108). Đó là thuyết mà sách Kiên hồ tập (1) đã nói.


    (1) Kiên hồ tập (nguyên bổn chép sai ra Kiên biểu tập), tên sách, có tất cả 66 quyển do Chử-Giá-Hiên đời Thanh soạn, chép tông tích của nhân-vật cổ kim, lời khôi-hài trong xóm làng, không có những thuyết quái đảng, lồi văn cũng thanh nhã.