31.18 - Windyclover (type done)

22/8/15
31.18 - Windyclover (type done)
  • 172 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Sách Giao châu ký của Lưu-Hân-Kỳ chép: Núi Phù-nham ở Cửu-chân sản-xuất khánh đá.

    Sách Quảng dư ký chép: Núi An-hoạch ở huyện Đông-sơn nước Giao-chỉ sản-xuất thứ đá rất đẹp.

    Quan Thái-thú ở DỰ-chương đời Tấn là Phạm-Ninh đã từng sai sứ đến đấy lấy đá làm khánh.

    Núi nầy nay ở thôn Nhuệ và thôn Quảng-nạp. Người bổn thổ đục lấy đá làm cối giã cối xay cột cầu, không có nghỉ ngày nào, núi ấy cơ hồ sạch nhẵn.

    Quan Thượng-thư Lê-Hữu-Kiều, trong những ngày trấn nhiệm ở Thanh – hóa có sai người lấy đá đẽo làm khánh hình con cá, có khắc bài minh như sau:

    [ ]

    Hoạch sơn minh thạch, sắc bích nhi tế nhuận, khấu chi thanh việt (1), huỳnh nhiên hữu xuất trần (2) chi vận. Lượng tri đại sản chi mỹ kim cổ lược đồng.

    Dịch nghĩa

    Thứ đá đánh rất kêu ở núi Hoạch-sơn, màu xanh biếc, mịn-mạng và trơn bóng (làm khánh) đánh lên thì phát ra tiếng trong-trẻo nghe ra xa, tuyệt vời có thinh vận thoát tục. Suy độ mà biết rằng những vật đẹp quý sinh-sản ở đất đại lược đồng nhau từ xưa đến nay.

    ──────────────

    (1) Thanh-việt, Tiếng trong-trẻo nghe ra xa.

    (2) Xuất trần, thoát ra cõi trần tục.

    QUYỂN 9 173


    Ông đã từng vâng lịnh đi sứ sang Tàu mua được hai cái khánh. Một cái ông mua được ở bến sông Tứ, vốn có khắc chữ Ngọc khánh [ ],hình tròn dài, lưng lõm vào trong, có đục cái lỗ vuông để [24a] treo, đá màu xanh biếc, không có một tý lằn sớ. Một phiến trong sáng trơn bóng như ngọc, phát ra tiếng trong-trẻo rõ-ràng (khi đánh lên) lại mang theo phong vận lặng lẽ trọng hậu đầy tai. Tiếng vang thì ngân ra xa.

    Một cái nữa mua ở phố Thiên-tân. Đó là món vật ở hải-ngoại, hình con cá chép, xoi lỗ ở bụng mà treo, có hình vảy cá rõ-ràng, tiểng kêu cũng trong trẻo nghe ra xa.

    Sách Lĩnh biểu lục dị (1) chép: Người Giao-chỉ thường lấy trái bầu không cuống, cắt ra làm cái sênh, ở trên găn 13 ống sáo để thổi, âm vang trong-trẻo tao-nhã hợp luật lữ.

    Trong những ngày đi xứ sang Tàu, tôi thấy bi kệ (2) xưa rất nhiều. Người Tàu chọn đá tinh nhất, màu sắc không có gân sớ, nhưng không dày lắm, độ hai ba tấc.

    Chân bia khắc thành hình con rùa cách mặt đất cũng không cao lắm, chữ trên bia viết to và [24b] khắc sâu.

    Ở trên và ba mặt đều có lợp xây gạch ngói, ở ngoài phết vôi dày sạch-sẽ. Người bổn thổ tu bổ luôn cho nên có thể lưu truyền được lâu đời.

    ──────────────

    (1) Lĩnh biểu lục dị, tên sách, có 3 quyển, do Lưu-Tuân đời Đường soạn, chép sản-vật và phong-thổ ở Việt-đông.

    (2) Bi là bia đá vuông, kệ là bia đá tròn.

    174 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Bia ở nước Nam, chữ viết nhỏ và khắc cạn, chân bia làm hình con rùa quá cao, hoàn-toàn không có cái gì để ngăn che mưa gió xâm phạm, rong rêu mọc khắp, trải qua lâu ngày thì không thể phân biệt mà đọc được.

    Thợ đá bên Tàu rất khéo, tiền công rất rẻ, một tấm bia phải phí hơn trăm quan tiền.

    Than ôi! Người ta ghi tên vào kim thạch (1) mà kim thạch không phải là vật không mục nát.

    Bi kệ đời nhà Hán nhà Đường đến nay quả còn đâu?

    Đó là điều mà vua Văn-đế nhà Tùy đã nói: “Bia chỉ để người ta làm đá để trấn lấp mà thôi”.

    Đỗ-Nguyên-Khải gim bia xuống Hán đàm và nói: “Biết đâu chỗ nầy ngày sau chẳng là đất bằng?”

    Lời nói cũng là háo kỳ.

    [25a] Hoài-Nam-Tử nói: “Thuyền rồng có vẽ hình chim ích (2) ở mũi”.

    Cao-Dụ chú-thích rằng: “Ích là loài chim to, cho nên người ta vẽ hình chim ích ở mũi thuyền”.

    ──────────────

    (1) Kim thạch, kim là loài kim, chuông vạc bằng đồng, thạch là đá bia kệ bằng đá, đều là những vật người ta dùng để ghi khắc tên họ công lao.

    (2) Ích, một loài chim nước không sợ sóng gió, cho nên người ta vẽ hình con chim ích ở mũi thuyền.


    QUYỂN 9 175


    Sách Ngô-chí chép: Quan Thái-phó Gia-cát-Khác (1) chế làm thuyền đầu vịt.

    Thiên Hề-nang trong sách Thuyết-phu chép: Ngô-Tôn-Quyền đóng thuyền, nằm mông thấy một ông già đến bảo: “Cái lưỡi chèo phải vạt bớt sống cho mỏng. Cái bánh lái phải vạt bớt bằng cái bảng cho mỏng thì một ngày thuyền có thể đi ngàn dặm”.

    Ngô-Quyền cho làm y theo phép ấy, quả nhiên thuyền đi rất nhanh.

    Nay lái và chèo trên thuyền không bao giờ không làm như thế.

    Sách Vũ bị chí chép: Nước ta đóng thuyền không giống như nước Tàu: Dùng cây to lấy ván vuông mà ghép kết lại, không dùng đinh sắt mà đóng, chỉ dùng những miếng sắt kết liền, không dùng xơ gai nhúng dầu đồng mà xảm, chỉ dùng cỏ [25b] xảm chỗ kẽ hở mà thôi, phí sức rất nhiều và phí của rất lớn.

    Lá buồm vải thì treo ngang chính giữa không giống như Tàu treo lệch một bên.

    Cái máy cuốn thường lỏng-lẽo không giống như của ngừoi Tàu thường vững chắc.

    Nay thuyền đi biển cũng giống như thế.

    ──────────────

    (1) Gia-cát-Khác, người nước Ngô đời Tam-quốc, con của Gia-Cát-Cẩn, tự là Nguyên-tốn, đầu niên-hiệu Kiến-hưng được phong Dương-độ hầu, thăng chức Kinh-châu mục, coi việc quản trong ngoài, bị Tôn-Tuấn giết.

    176 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Năm Khang-hy thứ 25 (1686) Trung-quốc sai quan Lễ bộ Lang-trung Chu-Xán (1) sang nước Nam điếu tế Tiên quốc-vương.

    Triều-đình nước Nam có sai đem năm chiếc binh thuyền đón rước qua sông.

    Chu-Xán có thơ tức sự rằng:

    [ ]

    1) Đồng long (2) nhật chiếu Phú-lương giang.

    2) Thanh tước hoàng long liệt họa sang (3).

    3) Kim giáp kiện nhi tề cổ trạo

    4) Hồng khiên cẩm lãm (4) độ cao giang (5).


    Dịch nghĩa

    1) Lúc gần sáng, mặt trời chiếu xuống sông Phú-lương.

    ──────────────

    (1) Chu-Xán, người ở đất Lâm-đồng đời Thanh, tự là Tinh-công, trong niên-hiệu Thuận-trị đỗ Tiến-sĩ, làm quan chức Nam-khang Tri phủ, thường đi sứ sang nước An-nam. Nước An-nam xưa có cửa ải Quỷ-môn-quan (cửa ma quỷ), Chu-Xán đổi gọi là Úy-thiên quan (cửa sợ trời). Nhà sách của ông, ông gọi là Nguyện học đường. Ông có viết sách Nguyện học đường tập.

    (2) Đồng-long, trời gần áng.

    (3) Sang, chiếc thuyền.

    (4) Lãm, dây kéo thuyền.

    (5) Giang, cầu đá.


    QUYỂN 9 177


    2) Những chiếc thuyền có vẽ hình chim sẻ xanh và rồng vàng sắp bày ra.

    3) Những trai tráng mặc áo giáp vàng cùng khua chèo tề chỉnh.

    4) Cầu vồng (cái mống) như sợi dây gấm kéo thuyền lướt qua cầu đá cao.


    Dịch thơ

    Hừng đông nắng chiếu Phú-lương giang,

    Thanh tước hoàng long sắp sẵn-sàng;

    Trai tráng giáp vàng chèo nhịp điệu.

    Cầu cao dây mống kéo sang ngang.


    Ông tự chú-thích rằng: Thuyền nước An-nam như cánh hoa sen, chế tạo rất tinh khéo chắc chắn, tay chèo nai-nịt hùng-vĩ, cử-chỉ có tiết-độ.

    [26a] Sách Thập di ký chéo: Vua Hoàng-đế biến cái bè (bó bằng tre) làm chiếc thuyền. Như thế thì lúc chưa có thuyền chèo, người xưa chưa từng không thông hành.

    Tích Mộc anh độ quân (dùng những hũ bằng gỗ chở quân đưa qua sông) (1), sách Tam tài đồ hội chép: Kết buộc những hũ lại làm bè, mỗi hũ chứa được 3 thạch (2),

    ──────────────

    (1) Hàn-Tín làm Tả Thừa-tướng đánh nước Ngụy. Ngụy-vương đóng quân ở Đồ-bản, lấp ngã Lâm-tấn. Hàn-Tín làm nghi binh như muốn đem quân qua Lâm-tấn, đem phục binh từ Hạ-dương dùng hũ gỗ sang sông đánh úp An-ấp.

    (2) Sách Vũ bị chi chép: 2 thạch.

    178 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    sức chứa được một người, nhữh hũ cách nhau 5 tấc, ở dưới thì lấy dây buộc liền lại, cột binh-khí ở trên hình dài mà vuông, ở trước thì đặt đầu bè, ở sau thì để lương thực (1), hai bên tả hữu thì để chèo.

    Quảng-tây đến Hồ-bắc, người ta thường đi mộc mã thuyền, làm bằng cây chương hay cây bàng, đầu đuôi thì thấp, ở giữa hơi cao, trên ui có kè cái sàng bằng tre, hai bên có kê bán để đi lại được, gọi là giang kiều, bề dài có hơn 4 trượng, bề rộng được 7 thước.

    Ở Hồ-bắc và Giang-nam, người ta thường đi tuyên lâu hoàng khoái thuyền (thuyền đi nhanh sơn vàng có lầu to), kê lầu chia [26b] phòng, khắc vẽ bằng sơn đỏ, có hai cây cột buồm, hai bên có kê bán làm giáng kiều để đi lại đuộc, dài hơn 8 trượng, rộng 13 thước.

    Hoài-dương đến Yên-kinh người ta thường dùng phi-thuyền (thuyền bay), cửa và song có chạm khắc sơn dầu. dài hơn 6 trượng, rộng 9 thước.

    Sách Ngoại sử chép: Người xưa thấy cỏ bồng lăn chuyển mà chế ra cái xe để ngồi lên mà đi. Đó là lấy hình tượng ở vật mà sáng-chế.

    Sách Thương quân thư (2) chép: Hoa hồng bay theo gió đi ngàn dặm, là cái thế nương theo gió.

    ──────────────

    (1) Sảo, [ ], lương thực.

    (2) Thương quân thư, cũng gọi là Thương tử, có tất cả 5 quyển, do Thương-Ưởng đời Tần soạn. Hán-chí nói sách Thương quân có 29 thiên, nay còn 26 thiên. Trong sách có phụ thêm những việc sau đời Thương-Ưởng.


    QUYỂN 9 179

    Lý-Bạch (1) có thơ về cỏ bồng và chí thích rằng: Hoa cỏ bồng như trái cầu rất nhẹ, có gió thì lăn chuyển.

    Phần Bộ lý khách đàm trong sách Thuyết-phu chép: Lâm-công đi sứ nước Liêu, thấy một cành vừa hoa vừa lá mọc thành khóm trên mặt đát, hễ gặp gió hoa ấy lăn chuyển, hỏi thì người ta bảo là chuyển bồng hoa (hoa cỏ bồng lăn chuyển).

    Mã-Long (2) đời Tấn làm biển sương xa (xe thùng giẹp), bởi vì xe thùng giẹp thì có thể chạy ở đường hẹp.

    [27a] Sách Sơ học ký chép: Đồ trang-sức để thắng ngựa gồm có các loại: hàm, lặc, tiêu, ky, khống.

    Hàm là cái hàm thiết ở trong miệng ngựa.

    Lặc là dây buộc đầu ngựa mà dẫn đi.

    Tiêu là miếng sắt ở bên miệng bao lấy miệng ngựa.

    ──────────────

    (1) Lý-Bạch, người đời Đường, ở làng Thanh-liên, huyện Xương-minh đất Thục, tự là Thái-bạch, hiệu là Thanh-liên cư-sĩ, có thiên tài về thơ, được người đời gọi là Trích tiên (thần tiên bị đày xuống cõi trần). Một hôm hầu yến, say rượu, bảo Hoạn quan Cao-Lực-Sĩ cởi giày của mình ra. Cao-Lực-Sĩ hổ thẹn mới trích những câu trong bài Thanh-bình điệu nói khích Dương Quí-phi. Vì thế mà vua Đường Huyền-tông lắm lần muốn trao chức quan cho Lý-Bạch đều bị Quý-phi ngăn trở. Về sau mắc tội, Lý-Bạch bị đày dài hạn ở Dạ-lang, rồi được ân xá trở về. Vua Đại-tông lên ngôi có triệu ông, nhưng ông đã mất.

    (2) Mã-Long, người ở đất Bình-lục đời Tấn, tự là Hiếu-hưng, trẻ tuổi mà trí dũng. Rợ Khương-nhung ở Lương-châu làm phản, Mã-Long tự xin mộ ba ngàn dũng-sĩ, dùng kỳ mưu phá được, lại phá được giặc Nam-lỗ, được phong Cao huyện hầu, được trao chức Hộ-Khương hiệu-úy, hơn 10 năm uy-tín chấn động Lũng-hữu, và mất lúc tại chức.


    180 VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ


    Ky là dây cột đầu ngựa để giữ lấy con ngựa mà chế ngự.

    Cương là dây cương cột con ngựa khiến nó không ra ngoài cương hạn.

    Lại nói: Đích (dây cương ngựa) và khống (dây cột đầu ngựa) có nghĩa là không chế con ngựa.

    Cái bành kê ở chỗ ngôi trên lưng voi gọi là la-nga, có treo vật nhỏ bằng đồng, lúc voi đi, vật nầy rung động có tiếng kêu gọi là đồng linh (chuông nhỏ bằng đồng).

    Thiên Ngọc tảo trong kinh Lễ chép: Khoáng [ ] là kiền [ ], uẩn [ ] là bào [ ].

    Họ Trần chú-thích: Khoáng là bông mới, uẩn là bông cũ. Cái áo có dồn bông mới gọi là kiền, cái áo có dồn bông cũ gọi là bào.

    Sách Luận – [27b] ngữ có câu: Ý tệ uẩn bào [ ] (= mặc áo bông rách).

    Chu-Tử chú-thích: Uẩn là dồn lót sợi gai. Bào là áo có dồn lót.

    Sách Tiểu nhĩ nhã của Khổng-Phụ chép: Ma (gai) trữ (đay) cát (sắn) gọi là vải. Bố là tên thông-dụng gọi vải.

    Xơ bông thứ mịn gọi là khoáng [ ].

    Lụa thứ tinh gọi cảo [ ].

    Cảo thứ thô gọi tố [ ] .

    Sắn thứ mịn gọi si [ ], thứ thô gọi khích [ ].

    QUYỂN 9 181

    Sách Thông-giám có câu: Mộc miên tạo ác [ ] (= Màn đen bằng bông).

    Chú-thích rằng: Ở Giang-nam có rất nhiều câu mộc miên (cây bông), mùa xuân trong tháng 2 tháng 3 thì gieo hột, mỗi tháng xới đất bốn bề chung quanh ba lần. Vào mùa hạ cây lần lần tươi tốt, vào màu thu cây trổ hoa vàng và kết trái. Lúc chín, trái nứt ra bốn phía. Xơ ở trong lòi ra như bông. Người bổn-thổ lấy ống sắt cán lấy bông bỏ hột, lấy tra làm cây cung nhỏ độ 4 thước 5 tấc, căng dây bắn bông [b8a] cho nhuyễn đều, rồi cuốn làm ống nhỏ lấy cái xe à kéo chỉ, tự nhiên kéo ra thứ sợi như tơ ở kén, không cần nhọc công đánh sợi, rồi dệt làm vải.

    Vải từ Mân Quảng đem đến thì càng đẹp nhặt vuông-vắn và đều nhau.

    Người Mán ở Nhật-nam dệt bông làm khăn, ở trên có lộ chữ nhỏ, có chen lộn hoa cỏ càng khéo-léo, tức là khăn bạch điệp.

    Sách Độn trai nhàn lãm chép: Từ Mân-Lĩnh trở về phía nam có nhiều cây mộc miên, người bổn-thổ đua nhau trồng cây nầy có đến mấy ngàn gốc, hoa cây nầy dùng để dệt vải, gọi là vải cát bối.

    Các nước ở Lâm-ấp lại sản-xuất cây cát bối, khi chín hoa cây nầy giống như lông ngỗng, kéo sợi làm chỉ mà dệt làm khăn không khác gì vải gai.

    Sách Ngô-lục của Trương-Bột lại chép: Huyện An-định ở Giao-chỉ có cây mộc-miên, cao hơn một trượng, trái giống như chén rượu, da mỏng, trong ruột có xơ màu trắng có thể làm vải.