31.19 - hhongxuan (type done)

26/8/15
31.19 - hhongxuan (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-QWRFYkF0S2xYN1k/view?pli=1


    Xét ra vật mà người xưa gọi vải (bố) là dệt bằng gai và [28a] bằng sắn.

    Đời sau mới bắt đầu được giống cấy mộc-miên (cây bông) từ Nam-phiên mới đủ may mặc khắp bốn biển. Mối lợi thật rộng-rãi lớn-lao.

    Sách Sơ-học ký chép : Sam [] tức là giao [], áo không có tay, hoặc gọi là xiêm [], hoặc gọi là đan nhu [].

    Sách Tập-lãm chú dẫn ở sách Cương-mục chép : Bạch [] (lụa) (1) thứ mịn gọi lăng [] (2). Tăng [] (lụa) (3) như hột lúa mạch gọi quyến [] (4). Canh tơ chỉ vải gọi thi [] (the) (5). Canh vải chỉ vải gọi bố [] (vải).

    Sách Hậu-hán chí của Lưu-Chiêu chép : Nhà Tần đứng đầu chư-hầu đã thêm cho các võ tướng cái giáng phạ [] (khăn đội đầu màu đỏ) làm đồ trang-sức trên đầu để phân biệt sang hèn – về sau lần lần trở thành cai nhan-đề (cái khăn hộ trán).

    Nhà Hán hưng-thịnh, nối tiếp cái đề, lại thêm cái khăn the [29a] liền với cái đề để đội, gọi là cái trách [] (khăn bọc tóc).

    ------------
    (1) Bạch, thứ lụa dày.

    (2) Lăng, thứ lụa có vân.

    (3) Tăng, tên thông-dụng gọi các thứ lụa.

    (4) Quyển, thứ lụa sống.

    (5) Thi, thứ lụa thô giống như vải.

    (6) Người xưa đội mão mà không có khăn bọc tóc, đến đời Tần, đội mão được thêm cái giáng phạ, rồi lần lần trở thành cái nhan-đề (khăn hộ trán).
    -------------

    Đến đời vua Hán Hiếu Văn đế (179-158 trước Tây-lịch) người ta làm cao cái đề, dựng cái khăn làm cái đuôi bao liền ra phía sau gáy, người trên kẻ dưới, người sang kẻ hèn đều độ được, quan văn thì đội thứ có tai dài, quan võ thì đội thứ tai ngắn.

    Vũ Linh-vương nước Triệu bắt chước y –phục của rợ Hồ, lấy cái hoàng kim dương (1) để trang-sức trên đầu, phía trước có giắt cái đuôi con điêu (2) để phân biệt người sang kẻ hèn.

    Nước Tần diệt nước Sở nước Triệu, lấy cái mão của vua nước Triệu ban cho quan thị-thần (quan hầu-cận), cho nên quan Thị-trang, quan Thường-thị triều nhà Tần đều đội mão vũ-biền có thêm cái kim-đương, phụ thêm con ve (3) làm văn-vẻ và đuôi con điêu làm trang-sức.

    Phần Giác cân tư đệ trong sách Tấn-thư chép : Khăn làm bằng vải sắn, hình dáng giống như tấm vải tấm lụa (4) mà đột ngang. Ngày xưa người cao sang và kẻ thấp hèn ăn mặc khác nhau.

    -----
    (1) Hoàng kim dương (dương, đồ trang-sức trên mão), đồ trang-sức bằng vàng trên mão.

    (2) Điêu, một loài thú giống như con chồn, loài ăn thịt, lông vàng đen lộn tía, mỏ nhọn, râu đen, vành tai ngắn và trong, hai chân trước ngắn hai chân sau dài, đuôi dài có nhiều lông, sinh-sản ở Liêu-đông và Cao-ly, ở trong rừng rậm, ngày ẩn, đêm ra, bắt chuột bắt chim mà ăn, da lông rất quý. Người xưa hay lấy đuôi con điêu giắt lên mão.

    (3) Thiền, con ve. Người xưa làm con ve gắn trên mão, lấy ý con ve thanh cao uống sương lộ mà sống chớ không ăn.

    (4) Nguyên văn : Phúc [] là tâm vải tấm lụa rộng.
    ----

    Hồ-Tam-Tỉnh nói : “Phúc cân [] là khăn bịt đầu làm bằng tấm vải lụa chít ngang. Giác cân là khăn bịt đầu [29b] chít thành cái mỏ (cái sừng)”.

    Vua Vũ-đế nhà Chu bắt đầu chế ra bóc đầu quan (mũ vuông có bốn góc và hai cánh chuồn).

    Có người hỏi Chu Văn-công (1) :

    - Vì sao y-phục của ông rộng như thế?

    Ông đáp :

    - Cũng vì lần lần mà trở thành như thế.

    Tôi thường thấy người nhà Đường vẽ 18 vị học-sĩ đội mão bóc đầu (mão vuông có hai cánh chuồn) mặc áo rất hẹp, vẽ Bùi Tấn-công (2) và những người khác mặc hơi rộng, vẽ nhóm Vương-Địch cuối đời Đường mặc áo lại rộng, đến nay người ta mặc áo lại càng rộng nữa.

    Sách Quý nhĩ lục chép : Vua Tống Hiếu-tông hỏi Vương-Biện (3) :

    - Tại sao sứ giả phương Bắc múa nhảy trong sân rất đẹp mắt như vậy, còn người ở đây nhảy múa đều không bằng?

    ----------
    (1) Chu Văn-công, Chu-Hy.

    (2) Bùi Tấn-công, Bùi-Độ.

    (3) Vương-Biện, người đời Tống, mới đầu làm viên tiểu lại ở Quốc-tín sở, trong niên-hiệu Càn-đạo làm quan đến chức Tri-cáp môn-sự, được vua thân-cận tín-nhiệm, cậy ơn vua mà phóng tứ, ra làm Quan-sát sứ ở Phúc-châu.
    ----------

    Vương-Biện tâu :

    - Ống tay áo của người phương Bắc hẹp, nhưng cái quần công ( công thường) [30a] thì hơi lớn, một khi cử động thì đẹp mắt.

    Ống tay người phương nam ở trong ở ngoài đều rộng, khi cử-động cánh cay thì trông không đẹp mắt.

    Người phương Bắc làm đại lễ mới mặc áo rộng tay ấy.

    Nhà Tấn chuộng màu trắng. Các triều-đại trải qua noi theo như thế.

    Thiên-tử và quan sĩ đại phu cho đến kẻ thứ dân đều mặc áo trắng.

    Các nhà sư thì mặc áo đen.

    Các đạo-sĩ thì mặc áo vàng.

    Xem trong sách Hoằng minh tập những bức thư của Lương Vũ-đế trả lời cho các nhà sư và những biện-luận của các nhà sư nhà đạo-sĩ thì có thể thấy được việc đó.

    Vua Văn-tuyên nước Tề, vì lời sấm có câu : Hắc y dương vi thiên-tử [] (Người mặc áo đen phải làm vua), muốn giết hết các nhà sư.

    Vua Văn-đế nhà Chu tự mặc áo đen để ứng vào lời sấm ấy, lại khiến quân và dân đều mặc áo đen.

    Đến vua Văn-đế nhà Tùy mới bắt đầu mặc áo vàng. Từ đấy lấy màu vàng làm y-phục của vua.

    Đầu đời Đường các quan ưa mặc ba màu : đỏ, vàng và tía.

    Vua Thái-tông bắt đầu phân định phẩm [30b] phục, lấy màu tía màu đỏ màu lục xanh là thứ-tự.

    Kẻ bề tôi không mặc màu vàng để kiêng tránh màu của vua.

    Nhưng trong sách Họa-sử (1) của Mễ-Phất thấy chép : Người được tiến-cử còn đội mão da hươu, mặc sao màu vàng ngắn đến đầu gối, có may nách với ống tay to, mặc quần dài trắng.

    Sách Di mưu lục chép : Đầu đời Tống, người ta còn theo chế-độ cũ của nhà Đường, người làm quan thì mặc áo đen, người không làm quan thì mặc áo trắng, thường dân thì mặc áo vải.

    Tục nước Nam ta lấy vải nhuộm màu chàm, kế đến nhuộm bằng thứ vũ dư lương (2) thêm vào tí keo, lấy chày mà giã rồi phơi khô gọi là áo thanh cát (áo sắn xanh).

    Thứ áo nầy có ba loại :

    ------------
    (1) Họa-sử, tên sách, có một quyển, do Mễ-Phất đời Tống soạn, kể những điều nghe thấy về những danh họa, nói đến việc trang-trí và thu cất, có khảo-đính những lời sai lầm.

    (2) Vũ dư lương, 1) Tên một thứ thuốc thuộc loài đá. Đó là một thứ phấn mịn như bột mì trong đá. 2) Tên một loại cây dùng làm thuốc, cũng gọi là Mạch môn đông. 3) Tên một loài cỏ có hột như gạo, ăn được, cũng gọi tự nhiên cốc (lúa tự nhiên). Vũ dư lương ở đây là củ nâu.
    --------------

    1) Thứ màu lửa tươi sáng.

    2) Thứ màu hơi sáng.

    3) Thứ màu hoa quỳ.

    Không kể là quan hay dân, là sang hay hèn đều mặc thông-thường, chỉ phân-biệt ở khổ dài hay ngắn.

    [31a] Phần Ai-lao khảo trong sách Uyên-giám chép : Gấm dệt bằng sợi gai theo loại lan-can. Vải dệt có hoa cây ngô-đồng.

    Lời chú-thích dẫn sách Hậu Hán thư : Lan-can là thứ vải mịn dệt thành văn vẻ như lăng như gấm có hoa cây ngô-đồng, dệt làm vải khổ rộng 5 thước, sạch-sẽ trắng tinh, không dính dơ.

    Sách Hoa-dương quốc chí (1) chép : Lan-can như nói vải gai, tức nay là khăn lèo.

    Trong-Giản-Chi đời Đường nói : “ Năm cuối đời vua Quang-Vũ nhà Hán, nước Ai-lao nội thuộc vào Trung-Quốc, nhà Hán đặt Vĩnh-quận để thống-trị, đánh thuế nuối, vải, nỉ để nộp vào Trung-quốc.

    Nước ấy phía tây thông với nước Đại-Tần, phía nam thông với nước Giao-chỉ, đem những món lạ-lùng trân quý vào dâng cống hàng năm không thiếu. Nước Ai-lao giàu có khéo-léo có thể biết được.

    -------
    (1) Hoa-dương quốc chi, tên sách có tất cả 12 quyển, có 1 quyển phụ-lục, do Thường-Cứ đời Tấn soạn, chép việc ở Ba-Thục, phân làm 13 chí.
    -------

    Sách Quế hải ngu hành chí (1) chép : Lụa thái (2) sản-xuất ở động Lưỡng-Giang giống như vải gai, có thứ lăng có hoa gọi là [31b] hoa thái, nay người trong nước gọi là trung thái, ý bảo là thứ ấy.

    Sách ấy lại chép : Màn lê (lê mạc) sản-xuất ở Hải-nam. Người ở động vùng ấy được thứ gấm lụa của Trung-quốc, tước lấy sợi tơ màu pha trộn với chỉ vải mà dệt thành, lấy bốn bức kết liền lại thành tấm màn.

    Thứ vải dệt bằng cỏ lê có đường xanh đường hồng, cũng là thứ vải bằng sợi bông.

    Nay thứ khăn mà nước Ai-lao đem bán cũng giống loại ấy, toàn là dệt thành sọc có đường năm màu rất đẹp khéo, mỗi tấm dài đến hơn 20 thước, giá đến sáu bảy quan, dùng làm màn thì đẹp nhất.

    Thứ lụa không có hoa cũng tốt.

    Sách Nhạc dương phong thổ ký (3) chép : Y-phục của đàn bà ở Giang-tây, trên thì lấy lúa (bạch) làm dây thắt lưng kết buộc ở trước ngực và sau lưng.

    ------
    (1) Quế hải ngu hành chí, tên sách, có 1 quyển, do Phạm-Thành-Đại đời Tống soạn, trên đường từ Quảng-hữu vào đất Thục, tác-giả nhớ nghĩ việc đã qua mà viết chép những núi sông phong vật vùng Lĩnh-nam, cộng được 13 thiên.

    (2) Thái, một thứ lụa.

    (3) Nhạc dương phong thổ ký, tên sách, có 1 quyển, do Phạm-Trí-Minh đời Tống soạn, không phân môn loại, tùy sự mà chép, khảo-chứng rất rõ-ràng về sự đổi thay của quận huyện của núi sông và cổ-tích.
    --------

    Sách ấy nói : Dây thắt lưng ấy được kết buộc vào lúc Gai-Cát Vũ-hầu bảy lần bắt bảy lần tha Mạnh-Hoạch. Người ta sợ oai của ông mà không dám cởi bỏ, nhân dân đó lâu ngày thành [32a] tục lệ.

    Sách ấy lại nói : Mã-Viện (1) mất ở đất Hồ-đầu. Nhân-dân tưởng nhớ đến ông, chỗ nào ông đến đều có lập đền thờ.

    Đến nay người đàn bà ở đấy đều dùng vuông vải trắng chít đầu, quật hai chéo cột ở sau ót, nói là để tang cho Phục-ba tướng-quân Mã-Viện.

    Nhân-đan ở vùng Đỉnh-phong đều như thế.

    Sách Hoãn thủy tục đàm chép : Nhân-đan ở vùng hốc núi đất Thục đều chít khăn trắng, tương truyền là để tang cho Gia-Cát Vũ-hầu.

    Tục nước Nam ta không kiêng kỵ đồ trắng, đàn bà

    --------
    (1) Mã-Viện, người ở đất Mậu-lăng đời Đông-Hán, tự là Văn-uyên, thờ vua Hán Quang-vũ, giúp vua phá Ngôi-Hiêu, nhận mệnh lệnh đi đánh Tiên-linh khương, dẹp yên vùng Lũng-hữu, binh-định nước Giao-chỉ dựng cột đồng phô trương công lao mà trở về, được phong Phục ba tướng quân, Tân tức hầu. Ông thường nói : “Bậc đại trượng phu lập chí, cũng quẫn phải càng bền vững, già cả phải tráng-kiện”. Ông lại nói : “Làm trai phải chết ở đồng nội biên-cương, lấy da ngựa bọc thây đem về mai táng, sao lại có thể nằm trên giường trong tay đàn bà trẻ con được?”. Về sau người Man ở Ngũ-khê làm phản, ông tuổi đã 62 tự xin đem binh đi đánh dẹp. Vua thương ông già yếu, chưa cho. Ông liền mặc giáp lên ngựa, nắm yên ngoảnh trông lại ra dáng còn dùng được. Vua bảo : “Quắc thước thay là ông đấy !”. vua cho ông cầm binh đi đánh. Ông bị nhiễm bịnh dịch mà chết trong quân.
    -----------

    đều chít khăn trắng. Thấy ai chít khăn hồng, người ta cùng bảo là quái dị. Đại ý họ thích mộc mạc.

    Nhưng nước Nam ta biên-giới phía tây-nam liên-tiếp với đất Vân-nam của Trung-quốc, thượng-lưu sông Lô tức cảnh-vực tỉnh Tuyên-quang, hoặc giả lúc đầu nhân-dân ở đấy đã để tang cho Gia-cát Vũ-hầu, cũng chưa có thể biết được.

    [32b] Sách Hán-thư chép : Bọn Phàn-hầu Thái-Tích-Phương mắc tội đánh bạc bác yếm, được tha.

    Nhan-Sư-Cổ (1) nói : Bác là lối đánh cờ lục yếm (2). Yếm là cách đánh bạc theo lối ý tiền (3).

    Truyện Lương-ký chép : Lương-ký đánh ý tiền (đánh me) rất giỏi.

    -------
    (1) Nhan-Sư-Cổ, người ở đất Vạn-niên đời Đường, tự là Trựu, đọc nhiều viết hay, tinh về huấn cổ học, trong thời vua Cao-tổ làm chức Triều-tán đại-phu, thăng Trung-thư xá-nhân, chuyên giữ Cơ-mật. Vua Thái-tông lên ngôi, ông làm chức Trung-thư Thị-lang, được phong Lang-nha huyện nam tước, nhận chiếu khảo định Ngũ-kinh văn-tự, chú sách Hán-thư của Ban-Cố.

    (2) Lục yếm, một loại cờ có hai người đánh, bên nầy có 6 con trắng, bên kia có 6 con đen.

    (3) Ý tiền, quỹ ức, xạ ý, xạ số, than tiền (đúng là than tiền [], nguyên văn chép sai ra ủng tiền thì không nghĩa), một cách đánh bạc, người làm cái hốt một số tiền không biết là bao nhiêu giấu vào trong hộp, lúc mở ra xem kết-quả định ăn thua, người ta cứ đùa bỏ ra mỗi lần 4 đồng dần dần đến hết, số còn lại có thể là 1 đồng, 2 đồng, 3 đồng, 4 đồng. Ai đánh trúng thì ăn gấp đôi gấp ba. Cách đánh bạc nầy ở miền Nam nước Việt ta gọi là chơi đánh me.
    -----

    Chú-thích rằng : Ý tiền tức là quỹ ức, một tên để gọi nữa là xạ ý, lại gọi là xạ số tức than tiền.

    Sách Tư hạ lục của người nhà Đường chép : Lối chơi đánh số tiền là cứ đùa bốn đồng bỏ ra một lần, tức là lối chơi mà sử truyện gọi là ý tiền, tục gọi là than tiền, cũng gọi là than phố, lúc chơi những đồng tiền nầy không được làm cho nhập đôi để tránh gian lận.

    Người ta nói nhanh tên lối đánh nầy, cho nên nói sai âm, than phố đọc sai ra tột (tàm + hốt = tột) bồ (bồ âm bồ).

    Sách Tân thoái lục (1) lại chép thơ của Lão-Đỗ (2) có hai câu :

    -----------
    (1) Tân thoái lục, tên sách, 1) Có 10 quyển, do Triệu-Dữ-Thi đời Tống soạn. Triệu-Dữ-Thi học với Dương-Giản không giỏi về văn-nghệ, cho nên trong sách nầy, phần luận thơ có nhiều sai lầm, nhưng phần khảo đính kinh sử, biện phần điển cố có nhiều chính-xác. 2) Có 4 quyển, do Triệu-Thiện-Chính đời Minh soạn, chép những phong-tục trong làng xóm thôn quê, và những việc lạ-lùng từ trước (nghe tân khách kể cho biết, đợi khi tân khách lui mới chép).

    (2) Lão-Đỗ, tức Đỗ-Phủ, để phân-biệt với Đỗ-Mục, người ta gọi Đỗ-Phủ là Lão-Đỗ, người ở đất Tương-dương đời Đường, tự là Tử-mỹ, trú ở Đỗ-lăng, tự xưng là Đỗ lăng bố y (người áo vải ở Đỗ-lăng), lại tự xưng là Thiếu-lăng dã lão (ông già nơi thôn dã ở Thiếu-lăng) lúc trẻ nhà nghèo, thi Tiến-sĩ không đỗ, khi vua Túc-tông lên ngôi, làm chức Hữu thập-dí, ra làm Hoa-châu tư công tham-quân, rồi bỏ chức quan đi theo Nghiêm-Vũ. Nghiêm-Vũ dâng biểu xin cho ông làm Kiểm-hiệu Công bộ viên ngoại lang.

    Trong niên-hiệu Đại-lịch đi chơi ở Lôi-dương, uống rượu quá say mà chết.

    Đỗ-Phủ làm thi ca rất tài, hùng-hồn phóng dật, nổi danh ngang hàng với Lý-Bạch, ông thường tức sự ưu thời mà làm thơ, người đời gọi là thi sử. Sách Đỗ công bộ tập là tập thơ của ông.
    ----------