31.20 - Ngọc Sơn (type done)

17/9/15
31.20 - Ngọc Sơn (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-RkNFdUVXR3Q0cjQ/view?pli=1

    長年三老哥聲裡

    白晝攤錢高浪中

    Trưởng niên (1) tam lão ca thanh lý (2)

    Bạch trú than tiền cao lãng trung.


    Dịch nghĩa

    Ba lão lái đò sống mãi trong tiếng hát tiếng hò.

    Giữaban ngày đánh me với nhau trong những ngọn sóng to.


    Dịch thơ

    Ba lái đò vui trong hò hát.

    Trong sóng cao đánh bạc ban ngày.

    Than tiền là đánh bạc, đánh me.


    [33a] Thiên Thiên lạc chí dư trong sách Thuyết linh (3) chép: Nhà họ Đường họ Vi ưa đánh bài lá. Cách đánh bài lá này đã có từ niên-hiệu Hàm-thông (860-873) đời vua

    ------------------------------------

    (1) Trưởng niên, người cầm lái thuyền.

    (2) Thấy trong bài Nhập Thục ký của Đỗ-Mục đúng 1à câu thơ trên, nhưng nguyên văn trong sách Vân Đài loại ngữ đã chép sai ra:


    長年三老長歌裡

    Trưởng niên, tam lão trường ca lý


    (3) Thuyết linh, tên sách, 1) do Ngô Chấn Phương đời Thanh biên soạn, chép những tiểu-thuyết bút-ký đầu đời Thanh, có 47 loại, phân làm 2 tập. 2) do Uông Uyển đời Thanh soạn, chép những dật sử của danh nhân đời đường. 


    Đường Ý-tông, tức nay là bài lá (làm bằng miếng mỏng), lúc đầu đều sơn màu đỏ, há phải là cái ý còn sót lại vì con lúc-lắc có sáu mặt sơn đỏ kẽ chữ vàng (1) của người xưa chăng ?


    Sách Quy điền lạc cùa Âu-dương-Tu chép : Cách đánh bài lá khoảng giữa đời Đường đã có. Trong lúc yến hội người đời Đường thích đánh bài lá. Cuối đời Đường bài lá lần lần bị bỏ và không truyền lại nữa.


    Chỉ cỏ Dương-Đại-Niên thích đánh bài lá. Dương-Đại-Niên lấy những tấm giấy màu làm quân bài, gọi là hồng hạc (chim hạc hồng), tạo hạc (chim hạc đen) bầy riêng cách đánh hạc cách.


    Lúc trẻ Âu-dương-Tu cũng thích chơi hai cách đánh bài ấy.


    Về sau mất căn-bổn về cách đánh bài ấy, đời bấy giờ tuyệt-nhiên không có ai biết cách đánh bài ấy nữa.


    Thế thì bài lá ngày xưa và bài giấy ngày nay khác nhau.


    Cách đánh bài giấy tưởng rằng bắt đầu từ giữa đời Tống, cũng lấy miếng mỏng đặt tên quân bài.


    Phần Diệp tử phổ trong sách Thuyết-phu chép về cách

    ------------------------------

    (1) Lục xích biên kim 六赤金 (nguyên văn chép sai ra 六尺金 con lúc lắc bằng xương có 6 mặt sơn đò kẽ chữ vàng dùng để đánh bạc. Tay cái bỏ con lúc-lắc vào trong hộp, lúc lắc xong rồi để yên, cho các tay con đặt tiền. Khi mở ra, người nào đặt tiền đúng mặt trôn của con lúc-lắc thì trúng.đánh bài rất rõ - ràng, phép biến - hóa lúc đánh bài thì nhiều nhất.


    Sách ấy có lời rằng [33b]: Bài lá bắt đầu từ Côn-sơn. Lúc đầu người ta dùng những tên người trong truyện Thủy-hử làm quân đánh nhau chơi :

    Môn chữ thập 十 cỏ 11 lá, như vạn vạn là tượng Tống-Giang. Thiên vạn là tượng Võ-Tòng.

    Môn chữ vạn 萬 cỏ 9 lá, như cửu vạn 1à tượng Lôi-Hoành, Bát vạn là tượng Sách Siêu.

    Môn chữ sách 索có 9 lá.

    Môn chữ văn 文có 11 lá

    Hai môn này không có tượng nhân vật trong truyện Thủy-Hử.

    Có lối Thinh hồ sắc (tục gọi là Đả Ngô, có lối xả tam trương, cỏ lổi xá ngũ chương (tục gọi là Đả linh) đều là cách đánh bài biến hóa.

    Lại có lối Vận hoa kinh, Vận chưởng kinh, Mã mậu bài kinh đều là nói về việc đánh bài, như nói:

    Lợi tắc tốc vãng利則速往 = Lợi thì đến gấp.

    Bại tắc cải đồ 敗則改圖 = Thua thì đổi mưu đồ.

    Mỹ bất dục tận 美不欲盡 = Đẹp thì không muốn hết.

    Cầm bất dục tảo 擒不欲早 = Bắt thì không muốn vội

    Tiểu khả đơn chiến 小可單戰 = Bé thì nên đánh đơn

    Đại mạc cô hành 大莫孤行 = Lớn thì không nên đi một mình.

    Cầm quý cập thời 擒貴及辰 = Bắt quý phải kịp thời

    Diệt diệc hữu tự 滅亦有序 = Tiêu diệc phải có thứ tự

    Trạch thiểu giả ngu 擇少者愚 = Chọn lấy cái ít là ngu.

    Bị đa giả thuyết 備多者拙 = Phòng bị nhiều là vụng.


    Đấy là những [34a] phép hay.


    Sách ấy lại nói: Được và thua tuy nhỏ mọn nhưng dấu hiệu đã thấy trước. Điềm khốn-đốn hay hanh-thông đã quyết-đoán không sai, rất hiệu-nghiệm.


    Sách Tuy khấu ký lược (1) chép: Thời cuối niên-hiệu Vạn-lịch (1573-1619) đời Minh, nhân-dân thích đánh bài lá, vẽ hình dáng, biên tên họ bọn trộm cướp ở Sơn-đông dưới thời nhà Tống vào tấm lá bài mà dùng đánh bạc, thạnh-hành nhất là thời niên-hiệu Sùng-trinh (1628 -1643) đời vua Minh Tư-tông.


    Phép đánh bài ấy lấy việc còn hay mất hàng trăm quan làm ăn hay thua. Có 1ối gọi sấm 闖, hiến 獻., gọi đại thuận. Lúc đầu không biết khởi từ đâu, về sau đều hiệu-nghiệm.


    Sách Tuy khấu ký lược chép: Thời triều vua Hy-tông (1621 - 1627) nhà Minh, bài đồng-dao (ca-dao của con trẻ) có câu :

    -----------------------------------

    (1) Tuy-Khấu-ký lược, tên sách, có 12 quyển, do Ngô-Vĩ-Nghiệp đời Thanh soạn, ghi chép những giặc cướp cuối đời Minh, phàn ra 12 thiên, sau mỗi thiên có một phần bình-luận quyết-đoán, ghi chép rất gần đúng với sự thật. Thiên chót là Ngu-Uyên-Trầm, chia làmThượng, Trung, Hạ, đều chép những việc tai-biến cuối đời Minh. 




    天地兵起

    徧地皆煙

    Thiên hạ binh khởi

    Biến địa giai yên


    Dịch nghĩa

    Thiên bạ dấy binh

    Khắp mặt đất đều là khói.


    Dịch thơ

    Khắp thiên-hạ quần binh đầu khởi,

    Cùng mọi nơi lửa khói bốc lên.


    Chẳng bao lâu, người đất Mân có thứ gọi 1à yên tửu có thể trị bịnh hàn (lạnh). Đó cũng là [34b] kỳ lạ quá. Sách Thuyết-linh chép: Thuốc lá (yên diệp) sản-xuất từ đất Mân. Người ở biên-giới bị bịnh hàn, nếu không cỏ thứ này thì không trị được. Vùng quan-ngoại, thuốc lá rất quý, đến nỗi có người đêm một con ngựa đổi lấy một cân thuốc lá.

    Năm Quý-vị (1643) trong niên-hiệu Sùng-trinh, vua Tống Tư-tông hạ lịnh cấm thuốc lá. Người nào trồng riêng cây thuốc thi bị tội đồ. Nhưng phép thì nhẹ mà lợi thì to, nhân-dân không tuân theo chiếu lịnh của vua.

    Rồi nhà vua lại ra lịnh: Ai phạm tội trồng cây thuốc thì bị chém đầu. 

    Nhưng binh-sĩ ở biên-giới mắc bịnh hàn không trị đuợc. Chẳng bao lâu nhà vua phải đinh chỉ lịnh cấm ấy.


    Vùng Chiết-giang khắp nơi đều trông cây thuốc lá, tuy là trẻ con bé tí-ti mà không đứa nào là không hút thuốc lá. Phong-tục đổi hẳn.

    Sách ấy lại chép: cây thuốc lá sản xuất ở Lữ Tống (Luzon), vốn tên là đạm ba cô (tobacco).

    Sách Xích kinh hoặc vấn chép: Nuốt thuốc hít khói có thể làm cho người ta say.


    Nước Nam ta lúc đầu không có cây thuốc lá ấy. Từ năm Canh-tý tức niên-hiệu Vĩnh-thọ thứ 3 (1660) đời vua Lê Thần-tông nhằm niên-hiệu Thuận-trị thứ 16 (1) đời vua Thanh Thế-tổ, người Ai-lao mới đem đến, nhân-dân nước ta bắt đầu trồng cây thuốc lá. Quan dân đàn bà con gái tranh nhau hút thuốc lá, đến nỗi có câu: [35a] «Có thể ba ngày không ăn, chớ không thể một giờ không hút thuốc lá».


    Ba ngày có thể không ăn,

    Hút thuốc thì không thể cấm ngăn một giờ.


    Năm Ất-tỵ niên-hiệu Cảnh-trị thứ 3 (1665) đời vua Lê Huyền-tông, triều-đình đã hai lần xuống lịnh chỉ nghiêm cấm, lùng bắt những người trồng thuốc, bán thuốc vi lén hút thuốc, nhưng rốt cuộc không dứt tuyệt được.

    -----------------------------

    (1) Phải là niên hiệu Thuận-trị 17 mới đúng



    Người ta phần nhiều khoét cột tre làm ống điếu và chôn điếu sành xuống đất (1). Tro than thuốc lá lắm lần gây thành hỏa-hoạn. Lâu đần lịnh cấm bãi bỏ, Nay thì việc hút thuốc lá đã thành thói thông-thường. Gần đây, năm Mậu dần (1758) đời Càn-long nhà Thanh bên Trung-quốc, Ngô-Nghi-Lạc làm sách Bản thảo tùng tân đã lắm lần liệt thuốc lá vào loại độc-dược (thuốc độc) vì tinh của nó cay mà ấm trị được bịnh phong hàn tê thấp trệ khí, ngăn đàm và sơn lam chướng khi. Hơi thuốc lá hút vào miệng thì không theo thường độ, chốc lát chạy khắp thân-thể khiến người ta thấy khoan-khoái khắp người. Người ta lấy thuốc lá thay rượu thay trà mà không chán. Cho nên thuốc lá có một tên nữa 1à tương tư thảo (loài cỏ mà người

    ta tưởng nhớ), nhưng lửa khỏi hun đốt làm hao huyết tổn thọ mà người ta không tự [35b] hiểu biết.

    Trầm-hương (2), tốc-hương (3), đàn hương (4), quế,

    ---------------------------------

    (1) Vì việc này có câu ca-dao còn lưu-truyền nhắc nhở:

    Nhớ ai như nhớ thuốc lào

    Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên

    (2) Trầm-hương (aquilaria agallocha), một loại cây sản xuất ở các nước Hải-Nam, Giao-châu, Quảng-châu, Nhai-châu, gỗ chắc màu đen, bỏ vào nước thì chìm, cũng gọi là trầm thủy hương, mật hương, thân cây là sạn hương, rễ cây là hoàng thục hương.

    (3) Tốc-hương, cây trầm hương, phần nào chìm xuống nước gọi là trầm hương, phần nào nổi lên mặt nước gọi là tốc hương.

    (4) Đàn hương (santalum album), một loài cây mà gỗ cỏ mùi thơm nhẹ, dùng làm hương-liệu, hay làm đồ khí-dụng, và làm thuốc. Cây đàn-hương, thứ vỏ chắc màu vàng gọi là hoàng (huỳnh) đàn, thứ vỏ sạch màu trắng gọi là bạch-đàn, thứ vỏ bở mầu tía gọi là tử-đàn.


    long-não (1), giáng-chân (2) kỳ-nam (3), uất-kim (4), tường-vi, các thứ bương nầy phần nhiều sản xuất ở cõi phương nam.


    Phạm-Thành-Đại (5) đời Tống nói: « Phương nam thịnh về hỏa (lửa), khí nóng bốc lên, tinh chất tự nhiên của vạn vật ở đấy đều có mùi cay mà thơm».

    Thẫm-Tác-Triết (6) cũng nói: «Hỏa thịnh ở phương nam, thực có thể sinh thổ, vị của thổ 1à ngọt và thơm. Ở phương nam thì được vượng khí của hỏa (lửa) bồi dưỡng, anh hoa phát tiết ra ngoài, cho nên cây cỏ đều thơm ngát.


    Sách Quế hải ngu hành chí (7) chép: Bài-hương sản-xuất

    -------------------------------------

    (1)Long-não (camphor), chất hóa-học lấy ở cây long-não.

    (2) Giáng-chân-hương, gọi tắt là giảng chân, nói đốt thử hương nầy thì có thể làm cho thần tiên giáng xuống, cũng gọi là kê-cốt-hương, tử-đằng-hương,

    (3) Kỳ-nam-hương, cây dung & lâu năm thành cây kỳ-nam-hương.

    (4) Uất-kim (tulipa gesneriana), một loài cỏ, sản-xuất ở Đại Tần-quốc

    (6) Phạm-Thành-Đại, người đất Ngô-huyện đời Tống, tự là Tri-năng, hiệu là Thạch-hồ cư-sĩ, giỏi về thi-văn, cũng nổi danh với Lục-Du, Dương-Vạn-Lý, trong niên hiệu Thiệu-Hưng đỗ tiến-sĩ, làm quan đến chức Lại-bộ-lang, trong niên hiệu Long-hưng đi sứ sang nước Kim, thăng chức Tham-tri chính-sự, có viết những sách Thạch-hồ-tập, Lãm bí lục, Quế hải ngu hành chí, Ngô quận chí, Ngô thuyền lục.

    (6) Thẩm-Tác-Triết, người ở Hồ-châu đời Tống, tự là Minh-viễn, hiệu là Ngu-sơn, trong niên-hiệu Thiệu-hưng đỗ tiến-sĩ, trong niên-hiệu Thuần-Hy làm chức Giang-tây tào ty cán quan. Sicb cũa ông viết có Ngụ lãm tập.

    (7) Quế hải ngu hành chí, tên sách, có 1 quyển, do Phạm-Thành-Đại đời Tống soạn. Phạm Thành Đại đi dọc đường từ Quảng-hữu vào đất Thục truy ức những việc đã qua mà viết lại, phàm những núi sông phong vật vùng Lĩnh-nam mà các sách địa dư chưa chép đều gom lại thành một quyển, cộng được 13 thiên. Những điều ghi chép về kim thạch thảo mộc có thể đính-chính những sai lầm trong sách Bồn-thảo.


    Ở Nhật-nam, hình-trạng như bạch-mao-hương, thơm ngát như lạ-hương (1), cũng dùng đề hợp chung các thứ hương. Các thứ cỏ thơm không có thứ nào thơm bằng cây bài hương này.


    Theo tục ngày xưa, các thứ nhang hợp nhiều loại hương đều có pha bài-hương.


    Sách Quế hải ngu hành chí có chép : Rêu cau, mọc trên cây cau cũng như những rên cỏ bám ở thân cây tùng đất một mình thì rất hôi. Người Giao-châu dùng để hòa-hợp với các thứ hương khác làm nhang bột thi có thể được mùi vị ôn hòa thơm ngát, công dụng cũng như Giáp-hương. Nay các thứ nhang (2) đều dùng thứ nằy vi nó có thể dẫn khói cho nghi-ngút thấu triệt.

    Sách Quế hải ngu hành chí lại chép: Hương cảm-lãm tức là nhựa cây cảm-lãm (cây trám), hình-trạng giống như kẹo dẽo màu đen.

    Người ở Giang-đông lấy nhựa cây hoàng-liên (3) và nhựa cây phong (cây bàng) làm lãm hương (hương cảm-lãm) bởi vì nó cùng một loại với cây cảm-1ãm (cây trầm).

    --------------------------------------------

    (1) Xạ-hương, con xạ, một loài nai, dưới bụng có hương tuyển, xông ra một mùi hương nồng.

    (2) Nguyên văn: Hương phương, trong các sách từ điển và tự điển đều không có danh từ Hương phương này. Nhưng nghiệm xét câu chuyện ở đoạn này, chúng tôi tạm dịch chữ hương phương là cây nhang, có lẽ cũng không sai.

    (3) Hoàng-liên (coptis japonica), một loài cỏ, rễ dùng làm thuốc. Nhưng hương cảm-lãm (cây trám) riêng có mùi thơm ngào-ngạt thoát tục, phẩm cách của nó bơn hẳn hương hoàng liên và hương cây phong (cây bàng).

    Theo sách Bổn-thảo, nhựa cây cảm-lãm (cây trám) như chất keo đen, đốt lên thì thơm ngào-ngạt.


    Tục ngày nay, người ta dùng nhựa cây cảm-lãm chế-tạo hắc [36b] tuyến hương.


    Sách Quế hải ngu hành chi chép: Hương-châu (nhang vò thành hột như bột châu) sản-xuất ở Giao-chỉ. Người ta lấy hương bột vò thành hình-trạng như hột tiểu ba-đậu, cho xen kẽ với hột lưu-ly, lấy chỉ màu xâu chung vào, làm

    thành tràng hạt của đạo-nhân, Nay nước ta không chế-tạo thứ nhang này nữa, nhưng hương châu (nhang hột) bán ở chợ Dương-châu rất khéo-léo.


    Mặc-Tử nói: «Vua Vũ chế-tạo ra phấn».


    Sách Bác-vật chí chép: Vua Trụ đốt chì và thiếc làm ra phấn. Theo tục nước Nam ta, người ta lấy sáp ong xắt thành miếng hòa với dầu sở hay dầu mè, để và trong nồi, chưng cách thủy, rồi lấy ra đề nguội nhồi bóp hàng trăm lần, nặn thành bánh, ướp với bông hoa thơm có tiếng, lại nhồi bóp nữa khá lâu cho thành nhuyễn [37a] mịn, đầy khí-vị thơm-tho cho phụ-nữ dùng trang-điểm trong khuê các.


    Lúc chưng cách thủy, bỏ vào chu-sa thì nó có màu tươi hồng, bỏ vào sáp trắng thì cỏ màu trắng hơi lỗi,thường dùng đề tặng sứ-giả thiên-triều (Trung-quốc).
  • Đang tải...