31.

22/11/15
31.
  • Link docx

    Link pdf

    - Chúng tôi không quan tâm ai cung cấp. -Foligni ngắt lời - Điều chúng tôi quan tâm là khi nào thì có. Còn mọi việc khác là chuyện của ông, thưa ngài lãnh sự.

    - Ông và những người bạn Vatican có xét đến khả năng bí mật bị tiết lộ, cái gì sẽ xảy ra khi mọi người biết nhà băng Vatican dùng bạc giả đề bù lấp hao hụt? Các ông có rõ đây là việc rất mạo hiểm không? Khó có công ty nào có thể cho phép mình làm điều này. Thế mà Vatican...?

    - Chính Vatican lại có thể. Hay ông nghĩ rằng chính phủ Hoa Kỹ dám cả gan buộc tội giáo hội buôn bán cổ phiếu giả? Ngay cả khi người Mỹ xác minh được cổ phiếu giả nằm trong các két nhà băng Vatican, chắc chắn họ cũng tin rằng Vatican là nạn nhân của một tên đại bịp.

    - Tốt. Tôi mạo hiểm phần tôi, các ông mạo hiểm phần các ông. Bây giờ tôi muốn biết giá cả thế nào. Các ông định thế nào? Bạn bè các ông định thế nào?

    - 65% thực giá. Chúng ta có 625 triệu đôla. Trong số đó, những người tham dự ở Vatican được chia 150 triệu đôla. Như vậy, ông còn 475.triệu.

    - Tôi sẽ cố gắng hết sức, thưa ngài, - Ledl nói và y có cảm giác như vừa giật giải vô địch thế giới. Chúng đã biết nhau hơn nửa năm nay và rất hiểu nhau, Richky Jacobs cần con buôn thế giới Ledl như tình báo viên ở thị trường châu Âu, cần lãnh sự tiến sĩ Ledl như người chuyển hàng có hộ chiếu ngoại giao, đảm bảo đặc quyền ngoại giao, có thể mang bất cứ số lượng cổ phiếu giả nào mà không bị hải quan chú ý. Chúng đã làm ăn chung một vụ trị giá 100.000 đôla để kiểm tra lẫn nhau và hài lòng với kết quả.

    Chúng gặp nhau ở Zuerich trong khách sạn Dolder, một người bạn của Ledl tên là Maurice Ajzen làm phiên dịch.

    - Trong thời gian tới đây ông có thể cung cấp được bao nhiêu bạc giả?- Ledl hỏi thẳng.

    - Ông phải biết rằng gì chứ chuyện này thì tôi có khả năng hầu như vô tận. Ông cần bao nhiêu?-Jacobs cao giọng.

    - 950 triệu đôla, - Ledl nói chậm rãi, nhấn mạnh từng từ một.

    - 950 triệu? - Jacobs nhắc lại - Lạy chúa, ông định làm gì với số tiền đó? Đấy là một đống tiền khổng lồ!

    - Tôi bán nó cho nhà băng Vatican.- Ledl thản nhiên thông báo.

    - Cái gì? Vatican? - Jacobs không tin ở tai mình nữa.

    - Nói một cách chính xác là cho các tăng lữ Vatican.

    - Cho ai, ông có thể cho tôi biết được không?

    Đấy là việc của tôi. Nhưng tôi có thể đảm bảo

    với ông rằng họ là những nhân vật tên tuổi. Họ biết họ muốn gì, và họ cũng biết làm thế nào để đạt được điều họ muốn.

    - Ông hoàn toàn chắc chắn?

    - Hoàn toàn.

    - Họ thực sự quan tâm đến cổ phiếu giả?

    - Họ chỉ đơn thuần muốn có chúng.

    - Đây là đơn đặt hàng khổng lồ. Tôi sẽ phải cần... tôi không biết nữa, có lẽ giấy chứng nhận đặt hàng để đồng nghiệp tin tôi. Ông hiểu cho, vì đây là khoản không bình thường.

    - Tôi rất sung sướng đích thân xác nhận với họ điều này,- Ledl tuyên bố.

    - Ông có thể gặp họ ở New York không?

    - Không thể được. Nếu họ muốn, họ phải bay đến đây.

    - Tốt, thưa ông Ledl, nhưng những người này, ông biết không... người cung cấp hàng cho tôi là mafia.

    - Ông cho rằng tôi không biết điều đó? - Ledl điềm nhiên nói- Ngay từ đầu tôi đã rõ, khó có ai khác có thể cung cấp đồ giả tuyệt vời như vậy, với số lượng lớn đến thế.

    Thế là bố già mafia Hoa Kỳ Matteo đi Lorenzo và phụ tá Vincent Rizzo đến khách sạn Palace ở Muenchen nơi thanh tra cảnh sát New York Coffey, người theo dõi hoạt động nghi vấn Rizzo đang sốt ruột chờ chúng. Nhưng trước đó, ngày 29.6.1971, còn có cuộc họp của các bên hữu quan.

    Cú áp phe lớn đòi hỏi phải chuẩn bị thận trọng. Vì thế đại diện mafia Hoa Kỳ và các bạn hàng châu

    Âu gặp nhau tại khách sạn Churchill ở London. Leopold thiết lập bộ tổng tham mưu ở Roma gồm có Foligni. Barbieri và người mới lái Remigio Begni. Cùng bay với bộ ba này còn có Marina Giurati Neubert, cố vấn của Bộ trưởng tư pháp Ý Spadaro, vợ goá một sĩ quan cao cấp quân lực Tây Đức, thành viên tổng hành dinh NATO ở Roma. Có mặt ở cuộc hội đàm về phía Ledl còn có Maurice Ajzen và Winfried Ense, những người, có nhiệm vụ làm việc với chưởng bạ nhà băng Vatican Rudolph Cuschall trong việc giao nhận cổ phiếu giả. Ricky Kacobs bay đến cúng vào tù, vì ở Mỹ, Jacobs đang có nguy cơ ra tòa. Bố già Mafia Matteo di Lorenzo tự giới thiệu với những người có mặt là tiến sĩ Greenwald từ Los Angeles, Vincent Rizzo im lặng theo dõi đàm phán. Trước khi trả lời bất cứ câu hỏi nào, Jacobss đểu thảo luận với Rizzo.

    Mafia đòi có bảo đảm. Các bố già muốn đảm bảq chắc chắn rằng những khoản tiền lớn trả cho thợ khắc mẫu, thợ in, thợ giấy, người chuyển hàng và vệ sĩ không bị bỏ ra vô ích Ledl đã tính đến điều này.

    - Tôi hiểu, thưa các ngài, - y nói, - tôi vừa mang bảo đảm từ Roma đến, các ngài hãy xem xét đi,- Sau đó y đưa bức thư cho người gần nhất và nói: - Ông làm ơn chuyển vòng quanh cho mọi người.

    Sau này bản chính xuất hiện trước tòa như là tang chứng. Hiện nay nó nằm trong Cục lưu trữ hồ sơ của FBI ở Washington. Với tiền đề “Sacra Congregazione del Religiosl” đây là đơn đặt “hàng” trị giá 950 triệu đôla và ấn định thời gian giao hàng như sau:

    [​IMG]

    Trong đó những số cuối cùng có nghĩa là triệu đôla.

    Văn bản thứ hai có dấu ấn hãng Rami Rtablissement, ngoài những điều trên, còn cam kết trả 1% tiền phạt nếu thời hạn không được tuân thủ.

    Đại diện mafia hài lòng. Trước mắt chúng là cú áp phe thế kỷ với lời lãi tương xứng. Chúng có thể quay vê Mỹ đặt hàng in cổ phiếu giả cho Vatican. Kỹ thuật thì đã có chuyên gia hàng giả nổi tiếng với kinh nghiệm cộng sản thừa và thiết bị hoàn hảo đảm nhận. Mafia trao nửa đơn đặt hàng cho Lonis Milo, chủ xưởng in ở góc phố 12 và đại lộ A, gần nhà ở của Rizzo, Nửa thứ hai được trao cho Ely Lubin ở Los Angeles, người này có xưởng in ở đại lộ Marlose. Cả hai thợ in được yêu cầu chuẩn bị lô hàng mẫu đầu tiên gồm cổ phiếu các hãng American Telephone and Telegraph Company, Chrysler Corporati- on, General Electric Company, Pan American Wprld Airwys.

    Họ làm việc ngày đêm. Khi đơn đặt hàng được thực hiện xong, những người chuyền hàng Mafia đến các xưởng in nhận hàng. Khi xem xét các mẫu hàng giả những tên đại bịp Ricky Jacobs, Vinnie Rizzo hay bố già di Lorenzo cũng phải tấm tắc khen rằng cổ phiếu giả giông y như thật, rằng chuyên gia kinh nghiệm nhất mới nhìn cũng không phát hiện ra. Hàng được chuyển đến London, rồi sau đó bằng máy bay hãng Lufthansa, qua Muenohen đến Roma. Trong khi đó, Ledl chuẩn bị giai đoạn hai của chiến dịch. Y chọn Marina Neubet làm cộng sự Marinagoij điện thoại cho chưởng bạ Rudolph Guschall thông báo kết quả. Ngày 9 tháng 7, ả cùng Ledl đến gặp Gusechall. ả thậm chí mang theo cả máy chữ để viết giấy bàn giao cô phiếu(vẫn còn chưa :in), trị giá 14 triệu 410 ngàn đôla.

    Khi đại diện mafia xuất hiện với va li cổ phiếu, Ledl gọi điện đến Vatican và hẹn gặp Barbieri. Chúng gặp nhau trong quán cà phê và thoả thuận cách thức trao nhận hàng. Ngày 20.7.1971, Leopold, Maurice Ajzen, Amato và Begni đến cổng thành Vatican. Chúng đi qua hai, ba phố, vào lâu đài gặp một vị giám mục không rõ tên tuổi. Ông này tiếp chứng và nhận hàng. Song khi trả tiền thì xảy ra hiểu lầm. Mafia có điều kiện của mình mà nó cưomg quyết không nhượng bộ và Leopold Ledl nhất định đòi sáu triệu (sau khi trừ phần ăn chia cho Vatican) phải được trả bằng đôla Mỹ hav mác Tây Đức.

    - Tôi rất lấy làm tiếc, thưa ngài,- tổng giám mục nói,- trong cả Vatican, thậm chí trong cả nước ý, các ông không chạy đâu ra số đôla lớn như vậy nội nhật một ngày. Tiền lia thì có ngay lập tức.

    - Thưa cha tôn kính,- Ledl phận đôi,- xin cha thứ lỗi. Nhưng tôi đã thoả thuận các điều kiện với người giao hàng và tôi phải tuân thủ. Nếu theo tỷ giá đôla hiện nay mà chúng tôi nhận tiền lia thì chúng tôi phải mang ra khỏi đây khoảng ba tỷ năm trăm triệu lia và phải một xe tải lớn mới chở hết.

    Họ thoả thuận cách khác. Nhà băng Vaticăng thu sếp chuẩn bị tiền ở Turino, tạm thời các con buôn hãy cứ giữ vali cổ phiếu giả và đại diện Vatican sẽ nhận hàng khi trả tiền. Chúng bay đến Torino, trọ trong khách sạn Piemote. Sau đó chúng được báo đi gặp các giáo chức tại một nhà thờ cũ ở ngoại ô. Ở đó chúng đàm phán vài giờ với một vị tổng giám mục lạ mặt, cả bọn Amato, Neubert, Ajzen, Barbieri và Ledl có cảm giác trục trặc trong tổ chức. Không rõ tại sao các giáo chức Vatican bỗng nhiên do dự.

    Có hai giả thiết. Họ lo ngại hợp tác với mafia Hoa Kỳ hoặc họ cho là chất lượng “hàng” không đảm bảo. Giả thiết thứ hai có vẻ không thuyết phục lắm. Đúng là họ định dùng cổ phiếu giả làm vật đảm bảo, không định bán tiếp, nhưng sau này thì sao? Nếu loại bạc giả này không bao giờ được đưa ra thị trường thì giá mua chúng lại quá đắt. Hay là ở Vatican, người ta biết chiếc thòng lọng của thanh tra Coffey đang thít dần trên đầu những tên mafia Hoa Kỳ?

    Các cổ đông vụ án áp phe lớn nghi ngờ lẫn nhau. Chúng có trong vali cổ phiếu giá trị 14 triệu và nôn nóng chờ nhận tiền. Thế rồi chúng phạm sai lâm tai hại, bởi vì chúng cố gắng bán bốt một phần. Như vậy, chúng đã không tuân theo mafia, các bố già tức tối và bỏ mặc chúng chết chìm.

    Theo một nguồn tin thì người giữ vali cổ phiếu giả là Murice Ajzen. Vinie Rtzzo chỉ thị rõ ràng cho y không được ròi vali cho tới khi được trả tiền bằng đôla. Song sự cám dỗ của đồng tiền quá lớn và người đầu tiên bị khuất phục là Ledl. Ledl thuyết phục Ajzen đưa y vài cổ phiếu để y bán cho một nhà băng Ý, đặng kiểm tra chất lượng “hàng”. Chuyển khoản tiến hành thắng lợi. Có lẽ vì thế cả Mario Foligni cũng lấy một tập cổ phiếu và nói với Ajzen rằng xét cho cùng thì ai mua “hàng” và ai trả tiền thì cũng thế thôi, điều quan trọng là có đôla. Y đến Zuerich, đưa xấp cổ phiếu cho ngân hàng thương nghiệp và chuyển 1,5 triệu đôla sang tài khoản chung với luật sư Mario Fornassarl. ở đó người ta biết Foligni là người tin cậy của các giáo chức cao cấp Vatican.

    Việc chuyển khoản do một nhân viên ngân hàng to béo thực hiện. Ông ta xem xét các cổ phiếu và thấy ngờ ngợ. Thế là ông ta lập tức gửi vài tờ đến New Yok cho viện giám sát thị trường chứng khoán* nơi có danh mục tất cả các cổ phiếu phát hành và số

    các cổ phiếu bị mất cắp, ở đây còn có một nhóm chuyên gia có khả năng phát hiện các loại giấy giả. Bức điện khẩn gửi cho ngân hàng thương nghiệp ở Zuerich đã gây nên báo động. Các cổ phiếu mới mua vào vô giá trị, vì chúng là đồ giả.

    Ở Roma, Foligni cũng lặp lại việc chuyển khoản tại ngân hàng Roma và kiếm được hai triệu rưỡi đôla.

    Ngược lại, các lời khai của các nhân chứng lại phương hại trước hết cho Vatican. Các giáo chức cao cấp bị buộc tội lừa đảo và thực hiện các mánh lỏi tài chính phi pháp. Người chỉ huy sau hậu trường là Mareinkus, chủ nhà băng Vatican, vệ sỹ của giáo hoàng. Ông ta biết cụ thế về hoạt động của mafia Hoa Kỳ, đồng ý với nó, thoả thuận và phê chuẩn các chi tiết kỹ thuật, là người đề xuống ít nhất là hai vụ lừa đảo.

    Khi bị hỏi cung, để tự vệ, Mario Foligni tuyên bố rằng vụ lừa đảo ở ngân hàng thương nghiệp Zuerich được chính giám đốc nhà băng Vatican, giám mục Marcinkus, vạch kế hoạch và chỉ huy. Ồng ta muốn xác minh chất lượng cổ phiếu giả và xem nó có thể sử dụng được trên thị trường tiền tệ hay không. Đồng thời Foligni tuyên bố rằng khoản cô phiếu giả không lớn đến như vậy và chúng chỉ phải mua với giá 5% thực giá. Foligni còn đàm phán chuyển khoản được với một giám đốc nhà băng là Line Buzzolini. Người này không có ý định kiểm tra xem cổ phiếu thật hay giả mà chỉ ra lệnh cho một nhân viên hỏi Viện giám sát thị trường chứng khoán xem chúng có thuộc loại bị mất cắp trên sổ đen hay không. Song người nhân viên đã sốt sắng yêu cầu kiểm tra cổ phiếu thật hay giả.

    Khoảng một tháng sau, theo lệnh Marcinkus, Foligni lại thực hiện chuyển khoản tương tự ở nhà băng Roma. Người tổ chức chính vụ lừa đảo này là Maro Barone, một trong các lãnh đạonhà băng Romavà là bạn thân của Marcinkus. Chưởng baRudolf Guschall được Marina Neabert mời đến Roma gặp tỷ phú Marchini trong văn phòng ông ta. Ngài chưởng bạ (sau này bị cách chức và .rút phép thông công) không hỏi gì cả, ông ta đóng dấu vạ xác nhận đồ giả là cổ phiếu thật. Foligni đến nhà băng gửi số cổ phiếu giả này và mở tài khoản đứng tên Alfio Marchini. Tên tuổi nhà tỷ phú được coi là sự đảm bảo nghiêm túc. Nhưng không. Sự việc ở Zuerich được lặp lại. Một nhân viên qua sổ sắng gửi cổ phiếu đến New Yok kiểm tra. Điện trả lời tác động như bom nổ. Tất cả đều là đồ giả.

    Trước các ký giả, tỷ phú Alfio Marchini đóng kịch, bẻ tay, rứt râu rên rỉ bị mắc lừa và dọa đưa bọn lừa bịp vào tù.

    Cả hai lần thử nghiệm kết thúc nhục nhã. Song trohg vali của Ajzen còn hơn mười triệu đôla cổ phiếu. Joe Goffey và đồng sự cố gắng truy tìm nhưng không kết quả, như thể chúng biến xuống đất. Bởi vậy, không loại trừ khả năng rằng nhà băng Vatican đã nhận “hàng”. Song cũng rất có thể lànhững kẻ tham dự áp phe chia nhau khoản còn lại. ít ra thì một vài sự kiện sau này xác nhận khả năng đó.

    Ngày 15.2.1972, một người tên là Edoard Cattaneo đến chi nhánh liên hiệp ngân hàng Thuỵ Sỹ ở Lugano để bán cổ phiếu của các hãng American Telephone and Telegraph Company, Pan American Wrld Airways và Chrysles Corporation. Ngân hàng kiểm tra và phát hiện đây là cổ phiếu giả.

    Chỉ hai ngày sau, một người ý là Stefano Colmbo mang cổ phiếu gịả đến Banco Commerciale Italiano ở Milan. Khi bị hỏi, Colombo nói rằng anh ta nhận số cổ phiếu này từ luật sư Oswald Pedroni, luật sư thì nhận từ thân chủ Adrianá Radaelli, bà này lại nhận từ Bifani. Dấu vết biến vào cát bụi, không dẫn đến mafia, cũng không đến cổng thành Vatican.

    Còn xuất hiện một số cổ phiếu nữa, nhưng tổng cộng tất cả chưa tới một triệu đôla. Khoản còn lại đi đâu mất? Mafia Hoa Kỳ chẳng đã cho in cổ phiếu trị-giá 950 triệu đôla sao?

    Michale Sindonna là tên đầu cỡ thế giới. Y có khoảng 140 hãng buôn ở mười nước, nhiều khách sạn ỏi các thành phố lớn trên thế giới,y là chủ nhân công trình Watergate ở Washington, được dùng đặt tên cho vụ bê bối chưa từng có trong lịch sử. Y mua lại của Mareinkus hãng Condotte Daqua cung cấp nước cho thủ đô Roma. cả hai là cô đông của hãng Edilcentro International ở Bahama, nơi giám mục Marcinikus đồng thời là giám đốc nhà băng Cisalpine Overseas Bank of Nasau. Họ cùng chung cổ phần hãng Fasco Interna- tional Holding ở Luxemburg, các nhà băng Bangue de Finnancement de Geneve, Banco Unione ở Milano và Banco Privato Finanziarfo Italiano. Tất cả những cơ quan tiền tệ này cùng với các nhà băng khác như Continental lllineis National Bank. Trust Company ở Chicago và Hambros Bank ở London phục vụ những mưu đồ mờ ám. Sindonna và Marcinkus gian lận biển thủ với qụy mô khổng lồ. Khi phó giám đốc nhà băng Vatican Luigi Mennini bị ra toà, Sidonna bị phát giác lợi dụng nhà băng Vatican để làm sạch những đồng đôla nhơ bẩn và đẫm máu của mafia Hoa Kỳ và mafia Siculie hàng triệu đôla thu được do buôn lậu thuốc phiện đã được nhập vào các tài khoản nhà bàng Vatican, chẳng lẽ sếp nhà băng Vatican, giám mục Marcinkus không biết điều này. Sindonna vừa là bạn thân và là chiến hữu của ông ta cơ mà.

    Họ đõ đòn cho mafia và mafia lại đỡ đòn cho họ. Khi vụ bê bối Sindonna bùng no, mafia đã chia lửa cùng y bằng cách cho thủ tiêu năm điều tra viên. Sidonna bị ra trước vành móng ngựa vì tội sử dụng tiền bất hợp pháp của mafia, song đồng bọn không bỏ rơi y. Giám mục Marcinkus và hai hồng y giáo chủ đã cung cấp chi luật sư bào chữa các lời khai của mình trên băng video, song cuối cùng,Sindonna bị phạt 207000 đôla và kết án 25 năm tù. Vụ án Sindonna đã dẫn đến kết luận như lời tổng uỷ viên công tố John Kennedy, rằng nhà băngVaticăng đã tham dự các vụ chuyển khoản phi pháp “hoàn toàn phản lại giáo lý của giáo hội chính thông La Mã”. Thanh tra Joe Coffey, một số chuyên gia và cả cấp trên của họ tin chắc rằng mafia Hoa Kỳ đã trao cho những kẻ đặt hàng tất cả cổ phiếu giả và chính những đồ giả này đã đóng vai trò quan trọng trong các trò gian lận của mafia, nhà băng Vatican và tên đại bịp Sindonna.

    Vincent Rizzo, Ricky Jacobs và bố già đi Lorenzo có thu nhập cao một cách đáng ngờ trong thời gian này. Nếu chiến dịch thất bại, các bố già mafia khó mà tha tội cho Rizzo và Jacobs, và theo truyền thống hiệp hội tội ác, không tên nào có thể sông sót được. Nhưng ngược lại, uy tín của chúng tăng lên. Song không được bao lâu.

    Joe Coffey có các bằng chứng về tội ác của Rizzo.Anh-bắt y ra toà và Rizzo lãnh án 15 năm tù, không phải vì tội lừa đảo và hợp tác với nhà băng Vatican, mà vì tội nhúng tay vào vụ giết một người tên là Joe Rrocer và tội buôn đôla giả. Bố già di Lorenzo thì phải ngồi tù 12 tháng.

    Leopold Ledl cũng phải vào nhà đá. Điều ngạc nhiên là y không bị buộc tội buôn cổ phiếu giả, mà bị kết án vì tội in và lưu hành bằng đại học giả và chức vụ ngoại giao phi pháp. Trước khi ngồi tù, y đã giúp thanh tra Cofey có được một thông tin đáng chú ý.

    Trong một chuyến “công cán” đến Tây Đức, di Lorenzo và Rizzo ở tại khách sạn baye rischer Hò ở Muenchen. Chúng đã bị thanh tra Cofẹy và cảnh sát địa phương nghe lén. Mùa xuân năm 1971, Leo pold và Maurice Ajzen đến khách sạn này để bàn bạc chi tiết một vụ chuyển khoản. Trong hội trường khách sạn, chúng nhìn thấy Ricky Jacobs. Tên này đang tranh luận gì đó với một người đàn ông cao lớn, tóc muôi tiêu, mặc com le trắng. Chúng gặp nhau tay bắt mặt mừng và Jacobs giới thiệu ông bạn đồng hành như là “cố vấn tài ba trong các vấn đề tài chính”. Chúng hàn huyên một lúc,rồi chia tay nhau.

    Saunày, khi Maurice Ajzen bay đến New Yok để khai báo về Vincent Rizzo và đồng bọn, thanh tra Cofey nói ai là người nói chuyện với Jacobs. Ajzen lắc đầu.

    - Ông có thể nhận ra người đó trên ảnh?

    - Chắc chắn là nhận ra.

    Người ta cho Ajzen xem 12 ảnh. Y không do dự chọn ngay một ảnh.

    - Người đó đây này,- Ajzen khẳng định.

    - Ông chắc chắn không?- Thanh tra Coffey còn hỏi lại.

    - Hoàn toàn.

    Đấy là ảnh John Connally, cố thông đốc bang Texas. Năm 1963, Connally nổi tiếng thế giới vì ở Dallas, khác với tổng thongjohn F.Kennedy, ông ta sống qua vụ ám sát. Sau đó Connally giữ chức bộ trưởng tài chính Hoa Kỳ và là một trong những cô vấn trọng vọng của Tổng thống Nixon.

    Bộ trưởng tài chính và thành viên mafia Ricky. Jacobs, cả hai có thể có gì chung? Tại sao găngxtơ và tên đại bịp Jacobs lại nói rằng người đàn ông tóc hoa râm nọ là cố vấn tài chính tốt nhất của y. thanh tra Cofey tường trình lại với sếp là uỷ viên công tố FrankHogan. Ông này biết rằng đây là con cá qua lớn, và thế là ông đến Washington để bàn bạc với bộ trưởng đang có những lo lắng khác.

    Washington. Đêm 16 rạng ngày 17-6-1972, vụ bê bối Watergate bùng nổ. Những khoản hối lộ khổng lồ mad các cố vấn tổng thống hứa với những kẻ đột nhập vào văn phòng đảng Dân chủ, bị tiết lộ và phải ra toà. Hogan phó sếp của ông la William Aronwald hoàn toàn không gặp nổi Bộ trưởng tư pháp, vì họ phải quay về New Yok và tê nhị ra lệnh cho thanh tra Cofey và những người dưới quyền không được điều tra quan hệ giữa bộ trưởng tài chính John Connally và mafia Hoa Kỳ.

    Nhưng Coffey là thám tử chuyên nghiệp cả thể chất lẫn tinh thần, nên ít ra thì anh không bỏ qua một chi tiết. Cofey xác minh được rằng đúng vào ngày Ledl và Ajzen gặp Jaciobsvdi cô vấn tài chính của hắn, Connally quả có ở Muenchen. Sau đó không lâu, Con- nally bị buộc tội nhận 10 triệu đôla hôi lộ của hội sản xuất sữa và thanh tra Coffey tin chắc rằng bộ trưởng tài chính hợp tác với cả mafia Hoa Kỳ. Nếu được cấp trên cho phép điều tra, nhất định Coffey sẽ thu thập được các bằng chứng về chuyện làm ăn giữa Connally và tên mafia Jacobs.

    Thanh tra Joe Coffey không thể bằng lòng với kết quả nửa vời đó. Hơn nữa, anh có thể dựa vào ủng hộ của các sếp Hogan và Aronwwald. Mọi người đều biết, điều tra trên đất Vatican không dễ dàng và cảnh sát Hoa Kỳ chưa chắc được phép vượt qua biên giối giáo hội. Bởi vậy, trước hết họ yêu cầu đại diện chú trời Mỹ là Hồng y giáo chủ Terene Cook giúp đõ, nhưng vị tổng giám mục đã kịch sự từ chối. Thế là Aronwald lại hải khăn gói đến Wachington gặp bộ trưởng tư pháp và bộ trưởng ngoại giao. Lần thứ hai Aronwald đến thủ đô trong thời điểm không thuận lợi. Trong ba tháng đầu năm 1973, vụ Watergate đã phát triển tối mức nguy kịch cho vị trí đang lung lay của Tổng thống Nixon, các bộ trưởng chính phủ Nixon bị buộc tội và đang chờ ra toà, các cố vấn tổng thống đã bị hỏi cung. Xếp FBI Patrick Gray, người mà sau khi Hoover chết đã được quốc hội bổ nhiệm ghê Giám đôc FBI, phải từ chức.

    Sau đó Arowlda còn được biết rằng chủ nhà băng Michele Sindonna là bạn thân của Tổng thống Nixon, và ông ta hiểu không thể đạt được gì ở đất Washington hỗn quan hỗn quân này .Trong những năm 60, Richard Nixon là đồng chủ nhân một văn phòng luật ở New Yok. Khi các thân chủ của Nixon cần một chuyên gia ngân hàng và tài chính, bao giờ ông ta cũng giới thiệu họ với Sindonna. Trong quá trình điều tra vụ Wastergate, người ta được biết Sindonna đã tặng quỹ tranh cử của Nixon một triệu đôla. Giám mục Marcinkus và Sindonna cũng quan hệ mật thiết với bộ trưởng tài chính đầu tiên của Nixon là Dacid Kennedy, trước đó là giám đốc ngân hàng Continental Illinois National Bankand Trust Company mà Sindonna có cổ phần. Thế là Aronwald tay không quay về New Yok.

    Khi không qua được cửa chính, Joe Coffey và các sếp của anh ta tính đến chuyện lọt vào Vatican bằng cửa sô. Họ đề nghị cấp trên chính thức yêu cầu cho phép thẩm vấn một vài giáo chức ở Vatican. không xuất hiện một trở ngại nào cả và hồng y giáo chủ Villot nhắn rằng ở Vatican người ta đang chờ các nhà hình sự hoa Kỳ. Nghe đâu Vatican đồng ý vì được ngoại trưởng Henry Kissinger đảm bảo rằng đó chỉ là thủ tục hoàn toàn hình thức.

    Joe Coffey chỉ là một thanh tra cảnh sát nên anh phải ở nhà. A ronwld và Tmmaro tháp tùng giám đốc phòng chống tội ác thuộc Bộ tư pháp, William Lynch đến vaticăng. Ngày 25-4-1973, họ ra mắt phó bí thư chính phủ, giám mục Giovanni Benelli. Benelli niềm nỏ tiếp ba thám tử Hoa Kỳ và dẫn họ đến gặp ba vị giám mục Edward Martinez, Carlo Laubero và Justino Tigalli. cả ba đều không hay biết gì cả, họ không nghe biết chuyện buôn bán cổ phiếu giả. Khi cảnh sát viên bắt Leopold Ledl, người ta tìm thấy trong nhà y đơn đặt hàng cổ phiếu giả trị giá 950 triệu đôla, ghi kèm thời hạn giao hàng. William Lynch đưa đơn đặt hàng này cho các giám mục và yêu cầu giải thích. Họ lắc đầu không biết, mặc dù giám mục Marlinez thú nhận rằng bức thư với dấu ấn Sacra. Congreazicez del Religiosi trông giống như thật. Khi Lynch đưa ra danh mục số các cổ phiếu giả và đề nghị lãnh đạo ngân hàng Vatican kiểm tra xem trong các két sắt ngân hàng có các cổ phiếu này không, thì các giám mục phản đối. Việc này không thuộc quyền hạn của họ, chỉ duy nhất giám mục Marcinkus có thể quyết định mà thôi.

    Ngày hôm sau, các thám tử Hoa Kỳ gặp Marcinkus và cũng không đạt kết quả gì hơn. Marcinkus kể. chuyện, phàn nàn vê quan hệ ở Vatican và địa vị khó khăn của mình. Nhiều người ghen tức vị trí đặc biệt của ông ta nên họ thọc gậy bánh xe. Ông ta không quên nhấn mạnh đến lòng yêu nước Mỹ và tình cảm của mình. Còn về các lời buộc tội buôn bán cổ phiếu giả, thì đấy là những lời nói xấu.

    “Thưa các ngài. Đức cha thiêng liêng có hỏi tôi có nghe tới một để nghị nghi ngờ nào về cổ phiếu giả không. Tôi nói với Ngài rằng tôi hoàn toàn không hay biết gì về những việc loại này. Và nếu tôi có biết điều gì thì tại sao tôi lại phải nói với chính các ngài nhỉ”.

    Giám mục Mareinkus chiến thắng. Sau này trước uỷ ban điều tra của thượng nghị viện, Aronwsll tuyên bố rằng Vatican không liên quan gì đến vụ áp phe cả.

    Giám mục Marcinkus vẫn đứng vững ở vị trí của mình dưới thời giáo hoàng Paul VI, và người kế tục ông ta là Jan Paull. Khi giáo hoàng tiếp theo Kan Paul II, đến New York, trên sân bay Kennedy, giám mục to cao Marcinkus, đứng sau giáo hoàng như là vệ sĩ. Mùa hè. năm 1982, người ta lại bắt đầu nghi ngò các kinh doanh của nhà băng Vatican và giám mục Marcinkus. Ngân hàng tư nhân lớn nhất Ý, Banco Anibrosiano ở Miano, bị phá sản, vì nó trả một khoản vay mạo hiểm tới một tỉ năm mươi triệu đôla. Dư luận công khai bàn tán về sự lừa đảo và biển thủ.

    London, ngày 18.6.1982. cảnh sát phát hiện một người đàn ông treo cổ ở chân cầu Blackfrias. Theo vẻ ngoài và cách ăn mặc thì đây không phải người không có tiền. Quả vậy, cảnh sát lục soát thấy hơn hai mươi nghìn đô la trong túi nạn nhân. Theo hộ chiếu, cũng ở trong túi, thì đây là công dân ý Gian Roberto Calvini.

    Các nhà hình sự Seotland yard xác minh rằng nạn nhân mang hộ chiếu giả, và nhanh chóng xác định nạn nhân thực tế là ai. Chả là Roberto Calvi bị mất tích từ ngày 10 tháng 6. Không những cảnh sát Ý mà cả Interpol (cảnh sát quốc tể) cũng tìm ông ta. Roperto Calvi là chủ tịch nhà băng Banco Ambrositano ở Milano, nắm trong tay . những ngân khoản khổng lồ đi lại với các nhà công nghiệp và chính trị tên tuổi, calvi còn có quan hệ rất mật thiết với nhà băng Vatican và giám mục Maricnkus. Các nhà báo đã đặt cho ông ta biệt hiệu “chủ nhà băng chúa trời”. Banco Ambrosiano và nhà-băng Vatican làm ăn chung nhiều vụ.

    Năm 1981, giám đốc Calvi ra tòa, bị kết án bốn năm tù và nộp phạt 11,7 triệu đôla vì tội xuất bất hợp pháp tư bản Ý. Song Calvi có thừa quen biết thế lực và trong phiên tòa phúc thẩm, ông ta được tha bổng. Tháng 5-1982, uỷ ban kiểm tra ngân hàng quốc gia Ý phát giác một vụ lừa đảo tài chính khổng lồ trong sổ sách Banco Ambrosiano. Giám đốc Calvi cho các hãng ma ở Panama vay gần một tỷ rưỡi đôla: 200 triệu đôla từ ngân khố Banco Ambrosiano và một tỷ hai trăm triệu do Calvi vay các nhà băng châu Âu khác. Cả đống tiền khổng lồ biến mất và đến nay vẫn chưa được tìm ra.

    Đêm ngày 20.9.1982. Roberto Calvi đổi tên thành Gian Roberto Calvini và bay qua thủ đô Nam Tư, Áo và Thụy Sĩ đến London. Một tuần sau, nữ thừ ký của ông ta tự sát uỷ ban kiểm tra ngân hàng quốc gia Ý và cảnh sát Ý, trong quá trình
  • Chia sẻ trang này