32.03 - Juicy (type-done)

7/10/15
32.03 - Juicy (type-done)
  • đông thông (cây hành mùa đông) đem ban bố ra khắp thiên hạ.

    Qúach-Phác ([1]) nói: “Nhung thúc là giống đậu to, tức là giống đậu vàng (đậu nành) dùng làm đậu hủ làm tương.”

    Sách Bồn-thảo nói nhung thúc là giống đậu xanh nhỏ hột là không phải.

    Đậu to có hai giống: đậu vàng và đậu đen. Đậu thúc khác với đậu xanh. Lục đậu tức là thanh đậu (đậu xanh).

    Sách Thiên-trung-ký chép: Đậu có hai thứ: đậu to và đậu nhỏ. Thúc (…) là đậu to. Đáp (…) là đậu nhỏ mọc thành nhóm (thành bụi). Vỏ trái đậu gọi là giáp (…), lá đậu gọi là hoắc (…). Cây đậu gọi ky (…) (cơ).

    Lại có thứ mọc thành dây leo, có nhiều giống, đều gọi là loài ngũ cốc.


    Quyển 9

    Sách Bồn-thảo chép: Phép làm đậu hủ bắt đầu có từ thời Hoài-nam vương Lưu-An.([2])

    [46b] Một giống đậu xanh, miền Nam miền Bắc đều sản xuất nhiều, người ta hoặc xay, lược lấy bột, hoặc ngâm nước cho lên mầm thành giá ăn như rau, hoặc nấu cháo nấu cơm đều ngon cả.

    Trong sách Chu-lễ, cửu-cốc (chín thứ hột để ăn) được chú thích là:

    1) Tắc (…) (thứ lúa cao, cây dài đến hơn một trượng, là giống lúa chín sớm nhất).

    2) Thuật (…) (một thứ lúa nếp nhiều nhựa dính).

    3) Thử (…) (nếp nhiều nhựa dính, thường dùng để làm rượu hay xay thành bột để làm bánh).

    4) Đạo (…) (lúa dé, một thứ lúa ưa ruộng có nước, một năm chín hai mùa).

    5) Ma (…) (mè, vừng, có hai thứ: trắng và đen. – Cũng gọi là hồ ma).

    6) Đại đậu (…) (thứ đậu to).




    7) Tiểu đậu (…) (thứ đậu nhỏ).

    8) Đại mạch (…) (lúa mì thứ hột có lông dài, chuyên dùng để nấu cơm, thân cây dùng để đan mũ).

    9) Tiểu mạch (…) (lúa mì, thứ hột không có lông dài, nhiều phấn, xay ra bột mì để làm bánh, làm tương).

    Ngũ cốc (năm thứ hột để ăn) được chú thích là:

    1) Ma (…) (mè).

    2) Thử (…) (nếp).

    3) Tắc (…) (lúa gạo).

    4) Mạch (…) (lúa mì).

    5) Đậu (…) (các thứ đậu).


    Sách Bồn-thảo chú chép: Thử, tắc, đạo, lương, hòa, ma, thúc, mạch, đó là tám thứ hột để ăn, thói tục còn chưa phân biệt được.

    Sách Vật-lý luận của Dương-Tuyền đời Tấn chép:

    1) Lương (…) (lúa) là tên chung của thử (nếp) và tắc (gạo).

    2) Đạo (…) là tên chung của giống khái.

    3) Thúc (…) là tên chung của các giống đậu.

    Ba thứ cốc này, mỗi thứ có 20 giống, được cả thảy là 40 (= 2x20) giống.


    QUYỂN 9

    Ba thứ cốc và rau trái cây cộng chung được 100 giống (60 + 40 = 100) gọi là bách cốc.

    [47a] Sách Tề dân yếu thuật [3]chép: Phàm là hột cốc để ăn thì thứ đậu xanh đậu nhỏ là thượng hạng, nếp mè (vừng) là hạng nhì, vu linh (củ cải) và đậu to là hạng chót, đều gọi chung là cốc.

    Luận thuyết về nghề nông của các nhà nho đời Minh rất hay. Luận về cấy mạ thì nói rằng: Xua cái cũ mà lấy cái mới, khí giao hợp chất chứa dồi dào thì thoát thai, được phần tinh tủy để rụng cái cũ đổi thay cái mới mà hóa sinh.

    Nhưng sách Tề dân yếu thuật chép: Hột giống đã lên bảy tám tấc liền nhổ lên mà cấy xuống (chỗ khác).

    Lại có một phép nữa: Rửa gạn cho sạch hột giống, ngâm nước ba đêm, lược ra, lấy cỏ bọc lại, trữ ba đêm, mầm lên được ba phân, đem ném xuống nước, đất đã cày bừa chín chắn, một mẫu lấy ba thăng thóc. Lúa mạ lần lần lớn lên thì phải nhổ cỏ, tháo nước ra, phơi gốc lúa cho bền vững, liệu trời nắng hạn tưới nước mà [47b] thôi. Như thế cũng không cần phải cấy mạ.

    Sách Bổn-thảo chép lời của Lý-Thời-Trân rằng: “Đời xưa chỉ gieo hột giống thì thành ruộng lúa. Đời nay mọi nơi đều nhổ mạ lên rồi cấy xuống chỗ khác.”


    Sách Tề dân yếu thuật chép cách thức làm cho ruộng được tốt: Trước hết trồng đậu xanh, kế đến trồng đậu nhỏ và mè (vừng). Các loại này đều phải trồng vào tháng sáu, đến tháng bảy tháng tám (thu góp xong hoa lợi mùa màng) thì cày úp xuống làm mùa lúa Xuân. Như thế thì mỗi mẫu ruộng thu hoạch được 10 thạch lúa. Bón phân bằng cách này cũng tốt như bón phân tằm và phân người.

    Sách này lại chép: Năm nào có tháng nhuận thì tiết khí đầy đặn, phải làm ruộng trễ.

    Nhưng đại để làm ruộng sớm thì hoa lợi bội phần nhiều hơn làm ruộng trễ.

    Năm thứ hột đại khái trồng vào thượng tuần thì thu được trọn vẹn (hoa lợi), trồng vào trung tuần thì thu được trung bình, trồng vào hạ tuần thì thu được hạng chót. Điều này cũng phải biết.

    Sách Uyên-giám loại hàm chép:

    - Cốc (…) là tên chung của hàng trăm thứ thóc.

    - Trồng lúa thóc gọi là giá (…).

    - Thu góp lúa thóc gọi là sắc (…).

    - Gíe lúa [48a] gọi là hòa (…).

    - Xôi là bằng lúa thử (…) (nếp).

    - Tắc (…) (gạo) cũng là thử (…) (nếp).

    - Gíe lúa giống như bông lau, nhưng hột gạo có thể ăn được.


    QUYỂN 9

    Đào Uyên Minh [4]nghe tiếng nước trong ruộng chảy, chống gậy nghe hồi lâu mà than rằng:

    “Hòa đạo dĩ tú, thúy sắc nhiễm nhân, thời phẫu hung khâm, nhất tẩy kinh cức” (………..) = Lúa nếp đã trổ bông, màu xanh biếc nhiễm lòng người, đúng lúc phanh bày lòng dạ, rửa sạch hết gai góc trong lòng.

    Ông có câu thơ:

    (……………….)

    (……………….)

    Binh trù giao viễn phong

    Lương điền diệc hoài tân



    Dịch nghĩa

    Ruộng bằng gió xa thổi qua thổi lại,

    Ruộng tốt cũng muốn đổi mới.


    Dịch thơ

    Nương bằng qua lại gió xa

    Một vùng ruộng tốt muốn ra mới đều


    Thì tâm tình của ông có thể tưởng tượng mà hiểu được.

    Sách Thông-giám của Ôn-công (Tư-mã-Quang) chép: Quân nhà Đường vây Lạc-dương, trong thành gạo lứt (khang, hột) không đủ để ăn.

    Chú-thích: Mạnh-Khang nói: “Hột, mạch khang trung bất phá giả (……………….)” = Hột, là hột gạo chưa vỡ (còn nguyên) trong lớp vỏ trấu.

    Tấn-Thước nói: “Hột, âm hột. Kinh sư nhân vị tô thiết vi hột đầu” (……………………..) = Chữ hột, đọc hột. Người ở kinh-đô gọi tấm to là hột đầu.

    Nay tục nước Nam ta gọi hột gạo là hột, gốc là từ đấy.

    Sách Chu-lễ chép: Chức phương thị giữ bản-đồ trong thiên hạ, phân biệt số mục chín thứ thóc của nước nhỏ nước to đô-thành và đồng-nội [48b].

    - Nước ở vùng Dương-châu và Kinh-châu chỉ trồng lúa đạo (nếp).

    - Dự-châu và Tinh-châu thích hợp cho năm thứ thóc




    - Thanh-châu thích hợp cho lúa đạo lúa mạch.

    - Duyễn-châu thích hợp cho bốn thứ thóc.

    - Ung-châu và Ký-châu thích-hợp cho lúa thử (nếp) lúa tắc (gạo).

    - U-châu thích hợp cho ba thứ thóc.

    Phạm Thử tính chung mà nói: “Ngũ cốc là sinh mệnh của muôn dân, vật quý báu quan trọng của quốc gia

    Phương đông nhiều lúa đạo lúa thử.

    Phương bắc nhiều đậu.

    Trung-ương nhiều lúa hòa.

    Phương nam nhiều lúa thử.

    Phương tây nhiều mè.

    Sự thích nghi của năm phương đều có chỗ cao chỗ thấp.

    Chỗ cao mà nóng thì có nhiều đậu.

    Chỗ phẳng mà lạnh có nhiều ngũ cốc.”

    Sách Tố-vấn chép: Năm thứ quả (trái cây) trợ giúp vào là: (trái mận), đào (trái đào), hạnh (trái hạnh), lật (trái lật), tảo (trái táo).

    Sách Chiêm-thư chép: Muốn rõ việc thu góp ngũ-cốc được mùa hay không hãy xem sự thịnh suy của ngũ cốc thì biết:


    Trái lý chủ về thứ đậu nhỏ.

    Trái hạnh chủ về thứ lúa đại mạch.

    Trái đào [49a] chủ về lúa tiểu mạch.

    Trái lật chủ về lúa đạo.

    Trái táo chủ về lúa hòa.

    Ngũ quả (năm thứ trái) mà dồi dào thì ngũ cốc cũng dồi dào, ngũ quả mà ít kém thì ngũ cốc cũng ít kém.

    Ấy là trái cây và lúa thóc do khí hậu cảm ứng nhau và có quan hệ đến nông nghiệp.

    Tục ngày nay bảo; Trái yêm-la[5] mà dồi dào thì ngũ cốc thất mùa. Trái yêm-la ít kém thì ngũ cốc được mùa.

    Việc ứng hợp rất linh nghiệm nhưng trái ngược với năm thứ trái cây kể trên.

    Sách Thành trai tạp-ký chép: Yêm-la tên riêng của một loại trái cây, hình dáng giống trái đào.

    Sách Nhất thống chí chép: Trái yêm-la tục gọi là trái hương cái là ngon nhất trong các loài trái cây sản xuất ở Tây vực. Nước An-nam cũng có loại trái này.

    Sách Giới am mạn bút chép: Hễ bông lúa đạo (nếp) trắng mà cánh ít thì gạo giá rẻ, hễ bông lúa đạo cánh nhiều màu vàng thì gạo giá đắt.



    Thói tục có câu: hoa bạc gạo rẻ, hoa vàng gạo đắt.

    [49b] Về bắp (ngọc Thục-thử) sách Bồn-thảo chép: Giống như cây ý-dĩ (cây bo-bo), cây cao ba bốn thước, lòng cây mọc ra một cái bông, bông này mọc lên râu trắng, bông tách ra, hột chi chit gom lại màu vàng vàng trắng trắng. Hột có thể rang mà ăn. Rang thì hột nổ như rang nếp. Ăn nổ này thì điều trung khai vị (điều hòa nội tạng và làm cho biết ăn ngon).

    Hột này nước Nam gọi là lúa ngô (bắp).

    Người ta lấy dao xoi đất rải hột mà trồng.

    Từ đầu niên hiệu Khang-hy (1662-1723) nhà Thanh, Trần Thế Vinh người ở huyện Tiên-phong thuộc lộ Sơn-tây, đi sứ mới bắt đầu được thứ giống ngô này đem về nước. Cả một lộ Sơn-tây nhờ thứ lúa ngô này làm lương thực. Con trẻ ăn lúa ngô nhiều có thể đầy ruột.

    Lúa ngô ở Nghệ-an phần nhiều là giống trắng, ở Lạng-sơn thì có đủ năm màu/

    Đến như giống Thục-thử cây cao như cây lau, bông to như bông chổi, hột như hột tiêu, màu hồng đen, màu vàng đỏ thì gọi là cao lương rất nhiều ở tỉnh Sơn-đông (Trung-quốc), và vùng Lạng-sơn Thái-nguyên nước ta cũng [50a] có. Người ta gọi là lúa mộc mạch.

    Sách Bổn-thảo phân biệt lương và túc (thóc) làm hai giống.




    [1] Qúach-Phát, người đất Văn Hỉ đời Tấn, học rộng, có tài cao, thích cổ văn ký tự, đứng đầu Đông-Tấn về từ phú, lại giỏi về âm-dương, lịch-toán, ngũ-hành, bốc-phệ, lại giỏi chuyển tai trừ họa. Trong thời vua Nguyên-đế, ông làm bài Giang-Phú và bài Nam-Giao phú, lời văn hung vĩ, vua đọc phải khen ngợi, triệu ông vào làm chức Trứ-tác tá lang. Vua Nguyên-đế băng, ông lấy cớ có tang mẹ xin từ chức. Trong thời vua Minh-đế, Vương-Đôn khởi loạn, ông làm chức Ký-thất. Vương-Đôn mưu nghịch, đến ông xem bói. Ông bói đại hung: Vương-Đôn nổi giận chém ông chết. Ông có soạn những sách: Đông-lâm, Tân-lâm, Bốc-vận, Nhĩ nhã chú, Sơn hải kinh chú, Mục-thiên-tử truyện chú, Sở từ chú, Từ-Hử Thượng lâm phú chú.

    [2] Lưu An, cháu nội của vua Hán Cao-đế, được phong Hoài-nam vương, thích đọc sách, đánh đàn, làm văn, Vũ-đế thích văn-nghệ cho nên rất trọng Lưu-An, xuống chiếu cho Lưu An làm Ly-tao phú. Buổi sáng nhận chiếu, buổi chiều dâng lên. Ông thường với tân khách và phương sĩ làm 21 thiên Nội-kinh, lại có 8 quyển nói về các thuật của thần tiên. Về sau ông mưu nghịch, việc bị phát giác phải tự sát.


    [3] Tề dân yếu thuật, tên sách, có 10 quyển, do Gỉa-Tư-Hiệp đời Hậu-Ngụy soạn, có 92 thiên, khởi đầu nói về việc cày cấy làm ruộng, cuối cùng nói về việc mắm muối.

    [4] Đào-Tiềm, người ở Sài-tang đất Bình-Dương đời Tấn, tự là Uyên-Minh, hoặc nói ông tên là Uyên-Minh, tự là Uyên-Lượng hoặc nói tên ông là Uyên-Lượng, tự là Thân-Minh, chí thú cao khiết, không ham danh lợi, thơ của ông đạm nhã, văn của ông siêu việt, mới đầu làm chức Châu Tế-tửu, sau làm Bành-trạch lịnh, làm quan được hơn 80 ngày, đến cuối năm, trên quận sai viên Đốc-bưu đến huyện, chức lại xin ông ăn mặc chỉnh tề ra tiếp kiến. Ông bảo: “Ta há vì năm đấu gạo mà phải khum gãy lưng đón tiếp thằng con trẻ trong làng?”


    Liền ngày ấy ông trả ấn từ quan, làm bài phú Quy khứ lai từ, để tỏ ý mình, ông an bần lạc đạo, lấy rượu thơ làm vui. Cuối niên-hiệu Nghĩa-hy, được vời ra làm Trứ-tác-lang, ông không ra. Trong đầu niên-hiệu Nguyên-gia, ông mất, người đời gọi ông là Tĩnh tiết tiên sinh. Sách của ông để lại có Đào Uyên Minh tập.

    [5] Yêm-la: trái xoài
  • Đang tải...