32.04 - Invisibleman (type done).

21/9/15
32.04 - Invisibleman (type done).
  • Lý-Thời-Trần lại nói: "Lương tức là túc. Thứ bông to, lông dài, hột lớn là lương. Thứ bông nhỏ, lông ngắn, hột bé là túc. Thân cây lương và thân cây túc đều giống như cỏ mao (cỏ tranh), có đến mấy mươi giống, có màu đỏ màu vàng màu trằng màu đen.

    Nay nước ta chỉ có ba thứ : hoàng lương, bạch lương và xích lương (lương, người nước ta gọi là hột kê).

    Trồng lương (hột kê) thì tháng hai gieo hột giống, tháng tư thu lấy hột.

    Tôi đã từng đi qua tỉnh Sơn-đòng bên Trung-quốc, dọc đường thấy có bán bánh nhỏ bằng bột gạo, ở trên có phủ lớp táo nhục (thịt trái táo) và nhân hột dưa, xem thứ bánh bằng bột gạo nầy hơi giống như kê vàng ở quê nhà.

    Sách Bồn-thảo cho tiểu mễ túc mễ.

    Sách Sơ họ ký dẫn sách Chu-lễ có chép: Vua Hoàng-đế bắt đầu hấp gạo làm cơm, nấu gạo làm cháo.

    Phó-Huyền (1) [50b] khen cơm ngon có nói câu:

    "Mạnh đông (2) hương canh (3), thượng thu (4) cao lương, Trường-anh Thành-đô hữu điền cao du, quyết đạo hình hương, phạn như ngưng chỉ" '......' = Tháng mười thì có gạo hương canh (gạo tẻ thơm, thứ không có nhựa), tháng bảy thì có gạo cao lương. Trường-an và Thành-đô có ruộng màu mỡ, nếp đạo thơm-tho, cơm như mỡ đông.

    (1) Phó-Huyền, người ở Nê-đương đất Bắc địa đời Tần, tự là Hưu-dịch, lúc bé mồ côi nghèo khó, tính cương-cường, học rộng hay viết văn, trong thời vua Vũ-đế, làm gián chức. Mỗi lần tấu sự hạch tội, ông cầm bạch giản, sửa ngay ngắn trâm đai ngồi chờ cho đến sáng. Bọn gian nịch đều khiếp phục.
    (2) Mạnh đông, tháng đàu mua đông là tháng 10.
    (3) Canh, gạo không có nhựa, tức gạo tẻ.
    (4) Thượng thu, tháng đầu mùa thu, tức tháng 7.
    Tào-Phi (1) nước Ngụy nói: "Vùng Giang-biểu chỉ có đất Trường-sa có nhiều gạo ngon, nhưng làm sao sánh được với gạo thượng canh (gạo tẻ thượng hạng) ở Tân-thành. Khi nếp đạo mọc lên gió thổi năm dạm còn nghe thơm".

    Sách Cổ kim chú chép: Niên-hiệu Diên-quang thứ 2 (123) đời vua Hán An-đế, lúa tốt mọc ở Cửu-chân,150 gốc mà được 768 bông.

    Sách Bồn thảo chép: Lúa đạo hay đồ (2) là tên thông dụng của lúa canh lúa nọa.

    Lúa canh là lúa đạo không có nhựa, lại gọi là lúa canh, tức nay là thứ gạo mà người ta thường ăn.

    Lúa nọa là gạo có nhựa (tức là nếp), lại gọi là lúa đồ có thể dùng gầy rượu hấp bánh nấu nướng (mạch-nha) hay rang thành nổ mà ăn.

    [51a] Ruộng nước ta có hai thứ: ruộng mùa thu (gọi là ruộng mùa) và ruộng mùa hạ (gọi là ruộng chiêm).

    (1) Tào-Phi, tức Ngụy Văn-đế, con của Tào-Tháo.
    (2) Đồ, lúa đồ tức lúa đạo (nếp).
    Thóc có hai thứ : lúa canh (lúa tẻ ) và lúa nọa (lúa nếp). Lúa canh gọi nôm là tẻ. Lúa nọa gọi nôm là nếp.

    Lúa canh (lúa tẻ) thích hợp với ruộng chiêm (hạ điền) có thứ gọi là :

    - lúa Sài-đường, cây mềm yếu, hột lúa màu đỏ mà nhọn dài, vỏ dày, hột gạo màu trắng chín sớm nấu cơm dẽo.

    - lúa Bồ-lộ, cây lúa cứng mọc thẳng, hột lúa màu trắng mà nhỏ, tròn, vỏ mỏng, hột gạo có hai màu: đỏ và trắng, chín không sớm cũng không muộn, nấu ra hột cơm cứng.

    - lúa Thạch cũng như lúa Bồ-lộ rất dễ sống, không cần chọn ruộng mầu-mỡ hay ruộng sỏi đá, cây cao lớn mà ngay thẳng, bông chia ra mấy gié, chín muộn, hột gạo trắng rất nhiều nhựa, mềm dẽo, giã và xay bột được.

    - lúa Chiêm-di, gieo chậm, mọc cây rất mềm, ruộng phải cày bừa (1) hai lần, có tính không sợ nước, ưa ngâm giầm trong nước, một tháng cũng kết thành hột, cơm rất dẻo.

    - lúa Chiêm-dự, lá to, bông thưa, thích hợp với ruộng màu mỡ, hột lúa màu đỏ, hột gạo rất trắng, cơm cũng mềm.

    - lúa Chiêm-hoàng, cây cao, lá [51b] to, gió mưa không ngã, bông hơi to, thích hợp với ruộng màu mỡ, hột lúa màu đỏ, hột gạo không trắng lắm, cơm cứng.

    (1) Nguyên văn: Điền nghi tái dịch '.....' Chữ dịch ở đây không có nghĩa là thay-đổi mà là sửa sang cày bừa.
    - lúa Chiêm-bão, rất dễ sống, nên cấy thưa, và cấy ở ruộng thấp có nước.

    - lúa Chiêm-hâm thích hợp với ruộng sâu, lộ Sơn-nam hạ có rất nhiều, thứ lúa nầy có ba giống:

    1) Giống hột lúa nhỏ mà dài màu đỏ có lông.

    2) Giống hôjt luá màu lợt, mỏng không có lông.

    3) Giống hột lúa màu đỏ, to có lông rất ưa ruộng thấp.

    Cả ba giông hột gạo đều trắng rất nhiều nhựa, không chịu giã và xây bột, nấu cơm cũng khó chín.

    Lúa tẻ thích hợp với ruộng muà, có thứ gọi là:

    - lúa Bát-xuân ưa ruộng cao, cây cao bông dài mà mềm, bột thưa mà nhỏ hơi vàng, hột gaọ rất trắng mùi vị rất thơm.

    - lúa Thông, lại goị là lúa Tảo-thế, lại gọi là lúa Ô-canh, lại gọi là lúa Sùng-canh, cây nhỏ mà yếu, ưa ngã có hai giống:

    1) Giống hột lúa to mà nhiều màu vàng, hột gạo trắng.

    2) Giống hột lúa [52a] to mà nhiều, hột gạo màu rất tiá.

    - lúa Bão-thế, hột lúa màu trắng, ở bụng hột gạo có điểm trắng, nấu rất nhiều nhựa và mềm, giã và xay bột được.

    - lúa Tề-cảnh, lại gọi là lúa Tứ-bồn, lại gọi là lúa Vân-thế, thích hợp với ruộng không cao không thấp, cây thấp bé, bông hơi cứng có hai giống:

    1) Giống hột lúa nhiều, bột gạo nhỏ màu đỏ, có tên là gaọ Hoa khế, cơm mềm, mùi lạt.

    2) Giống hột lúa nhỏ toàn màu trắng, hột không nhiều, nấu cơm cứng, mùi càng lạt.

    - Lúa Bát-ải, cây thấp, hột lúa nhỏ, bột gạo trắng, nấu cơm rất ngon, để lâu vẫn mềm.

    - Lúa Bát-lại, gọi là lúa Bát-quảng, cây cao, hột lúa rậm màu vàng, hơi đen, hột gạo màu trắng.

    - lúa Bát-tu, hột lúa nhỏ màu vàng, lông dài một tấc, hột gạo màu trắng.

    - Lúa Canh, cây hơi rậm, hột lúa giẹp, to có hai tai, [59b] chính rất sớm, hột gạo màu trắng , mùi càng thơm, lúc mạ cây xuông, người đi qua cách năm buóc cũng nghe mùi thơm.

    - Lúa Hiên, cây cao, bông dài, có hai giống:

    1) Giống chín muộn thì hột cơm trắng mềm và thơm.

    2) Giống chín sớm thì hột cơm màu đỏ mà nhọn và cứng.

    - Lúa Nghệ, cây khá cao, bông to, hột nhiều, bột lúa rất đỏ, bột gạo hơi vàng, cơm hơi mềm.

    - Lúa Di, thích hợp với ruộng cao màu mỡ, cây rậm, lá ngay, bông rậm, hột nhiều, hột lúa giẹp nhỏ mà trơn bóng, bột gạo trắng, nấu bến đấi bằng gạo năm đấu.

    - Lúa Sóc, cũng là giống lúa Sài-đường.

    - Lúa Dự-đội, cây ngắn, bông dài, hột lúa nhỏ, hột gạo trắng mà thơm, thích hợp xay làm bột.

    - Lúa Dự-hâm, hột nhỏ, có lông, hột gạo rất trắng, mùi thơm nồng, hơi độc, sản phụ (đà bà đẻ) ăn vào thì hết sữa cho con bú.

    - Lúa Tông-tông, hột lúa tròn, to, có lông mà trơn, hột gạo màu trắng có nhựa, thom như nếp, nên nấu cháo.

    - Lúa Bát- [53a] nguyệt (tháng tám) thích hợp với ruộng không cao không thấp, hột gạo tròn trắng, chín rất sớm.

    - Lúa Bát-tru, cây cứng thẳng, hột lúa màu vàng màu đen xen kẽ, hột gạo trắng, cơm mềm.

    - Lúa Tam-nguyệt (ba tháng) sản xuất ở Nghệ An, từ lúc lúa được gieo trồng đến lúc lúa chín thì vừa tới ba tháng, hột gạo trắng, cơm thơm, mềm, xay được hột rất bột rất nhiều.

    - Lúa Điền-kê (lúa ếch), trồng vụ chiêm vụ mùa, chín sớm chín muộn đều được cả, có khi tháng tư trồng, tháng bảy thu gặt, hột lúa dài, hột gạo trắng, hơi nhỏ, mùi vị thơm nồng, lực hậu, hai năm phải cày bừa lại.

    - Lúa Mộ, sản xuất ở Thái-nguyên, thích hợp với ruộng đất núi, phá rừng đốt cây lấy tro bón ruộng, tháng hai trồng tháng sáu thu gặt, cây tươi tốt, bông to, hột lúa nhỏ, hột gạo đỏ, nên xem đất ở bến sông ngòai đê mà trồng như bắp.

    Lúa nếp thích hợp với [53b]ư vụ chiêm (mùa hạ) có thứ gọi là:

    - Nếp Lệ-chi (nếp vải), cây cao, bông lớn, bột lúa dài hơi giẹp, màu như trái lệ-chi (trái vải), hột gạo trắng.

    - Nếp Nhị-nương (nếp Nàng Hai), cây cao, cứng, bông dài rất nhiều rậm, hột lúa có lông, hơi tròn, hột gạo trắng.

    - Nếp Đoản-đâu, cũng gọi là nếp Tông, bông mới lú thì lá đã dài một hai tấc, hột lúa và hột gạo đồng như nếp Nàng Hai, đều mướt à có nhựa.

    - Nếp Bột, cây cứng, bông rậm, hột lúa hơi tròn mà màu vàng hơi đen, hột gạo trắng.

    - Nếp Hoàng-ngưu-chi (nếp mỡ bò), hột lúa tròn, màu vàng, có lông, hột gạo trắng, xôi mềm dẻo.

    - Nếp Quảng, cây lớn, bông dài, hột lúa tròn ngắn mà giẹp, màu rất vàng, hột gạo trắng.

    - Nếp Bồ-lộ, lại gọi là nếp Trần, lại gọi là nếp Anh, cây thấp, bông nhỏ, hột lúa nhọn mà trắng, hột gạo màu trắng lợt, xôi không mềm lắm.

    Những giống nếp kể trên đều ưa ruộng sâu.

    - Nếp Đăng-sơn, lại gọi là nếp Sóc, cây rất cao, mạnh không sợ gió mưa, bông to, nhiều, hột lúa dài [54a] cũng có lông, hột gạo trắng, ưa đất ẩm thấp,, xôi hơi mềm.

    - Nếp Ba-tiêu (nếp chuối) cũng sản xuất ở Nghệ An, trồng không cần phải chọn đất, hột lúa to, gạo trắng.

    Nếp thích hợp với vụ mùa (mùa thu). Có thứ gọi là:

    - Nếp Hương sản xuất ở phủ Cao Bằng thì thì nhiều lắm, cây không cao không thấp, bông dài mà thưa, hột lúa tròn, hột gạo trắng mà thơm mềm.

    - Nếp Hắc (nếp đen), hột lúa to mà màu đen, hột gạo trắng, mùi vị ngọt thơm, hoa và lá đều có mùi thơm.

    - Nếp Bão Hương, hột lúa tròn, lớn, màu vàng, hột gạo trắng thơm, đầu tháng tám thì chín, rang sơ rồi đâm giũ làm cốm giẹp ăn sống rất ngọt, tẩm nước đường mà ăn hay rang ma ăn đều ngon, người ta thường gói bằng lá sen đem tặng biếu nhau.

    - Nếp Hoàng-hoa (nếp Hoa-vàng), lại gọi là nếp Ả, cây to, bột nhiều, bông cao, [54b] hộ lúa giẹp to màu vàng, hột gạo trắng, xôi mềm.

    - Nếp Lũ, hột lúa màu đỏ màu vàng xem kẽ nhau như hột thầu-dầu, hột gạo màu trắng, xô mềm mà không thơm.

    - Nếp Long (nếp Rồng), hột lúa nhỏ mà vàng, hột gạo trắng mà thơm, làm xôi trước mềm sau cứng.

    - Nếp Kỳ-lân, cây cao, bông dài, hai đầu nhọn hơi đen, hột gạo trắng, ít thơm.

    - Nếp Hoàng ngưu chi (nếp mỡ bò), lại gọi là nếp Chúc, hột rất nhiều rậm, hột gạo tròn trắng, rất nhiều nhựa, mềm.

    Những giống kể trên đều ưa ruộng sâu, gọi chung là nếp, đại khái là thứ thượng hạng.

    - Nếp Đoản (nếp ngấn), bông không lú ra ngoài lá, hột lúa hột gạo đều màu trắng, mùi vị cũng thơm,mềm.

    - Nếp A (nếp Quạ) sản xuất ở Nghệ An, hột lúa vàng đỏ mà dài, hột gạo trắng, chín sớm, không thơm.

    - Nếp Miệt, lại gọi là nếp Tư-sinh, trồng một cọng mà mọc ra ba bốn cây, [55a] hột gạo không trắng lắm.

    - Nếp Lương-khương hoa, cũng gọi là nếp Sản-phụ, trồng một cây mọc ra bốn năm cây, bông to mà thưa, lúc kết hột màu vàng trắng, hột lúa nhọn mà có điểm đen, hột gạo trắng.

    - Nếp Thọ, hột lúa nhỏ mà dài màu vàng, hột gạo trắng, giã gạo nấu xôi đều hao.

    - Nếp Cẩm (nếp Giấm), cộng màu tía, bông màu đen, hột gạo xanh biếc.

    - Nếp Diên-cảnh (nếp Vươn cổ), lại gọi là nếp Hùng, cây cao, bông dài khỏi lá, hột gạo hột lúa đều trắng.

    - Nếp Lao (nếp Lèo), cây mạnh dài, hột lúa nhỏ mà vàng, hột gạo dài trắng.

    Những giống nếp kể trên đều không mềm dẻo, cũng thích hợp với ruộng sâu.

    - Nếp Vũ-dư lương (nếp củ nâu), thích hợp với đất núi, phá rừng đốt cây lấy tro bón phân làm ruộng, bông nhiều tươi tốt, hột gạo đỏ lợt, làm xôi ngon ngọt, năm ngày còn thơm dẻo.

    - Nếp Lộc (nếp Hương), một cộng mọc ra ba bốn cây, cũng thích hợp với đất núi, hột lúa màu vàng, hột gạo màu trắng sạm, chín rất sớm.

    Người ta thường nấu cơm gạo tẻ [55b] mà ăn, có cúng tế yến tiệc hội hè mới nấu xôi nếp.

    Chỉ có người dân ở núi rừng không có giống gạo tẻ mới lấy xôi nếp dùng thông thường.

    Hai thứ gạo tẻ và gạo nếp gọi chung là lúa đạo.

    Sách Sơ học ký trưng dẫn sách Dị vật chi nói : Người ta Giao-chỉ một năm hai mùa lúa đạo (một mùa lúa tẻ và một mùa lúa nếp), tức là đấy.

    Sách Quảng-chi chép có mấy thứ lúa:

    - Hồ chưởng đạo (lúa bàn tay cọp).

    - Tử mang đạo (lúa lòng tin).