32.05 - Minhhanhtuc (type done).

17/9/15
32.05 - Minhhanhtuc (type done).
  • - Xích khoáng đạo (lúa lòng đỏ).

    - Thiền minh đạo (lúa chín vào mùa ve kêu).

    - Thất nguyệt thục đạo (lúa chín vào tháng bày).

    - Lúa Cái hạ bạch, tháng giêng trồng tháng năm gặt.

    Gặt cộng lúa rồi gốc lúa lại mọc lên, tháng chín lúa lại chín nữa để gặt nữa.

    - Thanh – can đạo (lúa Thanh – can) chín vào tháng sáu.

    - Lũy – tử đạo (lúa Lũy – tử).

    - Bạch – mạc đạo (lúa Bạch – mạc) chín vào tháng bảy.

    Ba giống lúa này vừa lớn vừa cao.

    Nay chưa biết giống lúa này ở nước Nam còn trồng hay không, nhưng sách này làm từ thời nhà Đường còn chưa thấy nói có thứ lúa Chiêm Thành.

    Thơ của Liễu Tông Nguyên có câu:

    ‘…’ ‘…’ ‘…’ ‘…’ ‘…’ ‘…’

    Ngũ nguyệt thu hỏa mễ[1]

    Dịch nghĩa

    Tháng năm thu hoạch lúa hỏa mễ.


    Quyển 9

    Đấy đúng là thứ lúa mà sách Quảng- chí đã thuật.

    Lúa Cái hạ bạch [56a] đến thời vua Chân- tông (998 - 1022) nhà Tống sai xứ sang nước Chiêm thành lấy ba vạn hộc lúa phân ra cấp cho các đạo, cho nên mới có giống lúa ấy.

    Giống lúa này sách Bổn- thảo gọi là lúa tiên ‘…’[2]

    Người Giao- chỉ ở phương Nam và người Chiêm- thành tiếp xúc với nhau cho nên thứ lúa chín vào mùa hạ phần nhiều gọi là lúa Chiêm.

    Lúa Thiền- minh (lúa chín vào mùa ve kêu) nay ở Tầm – châu tỉnh Quảng – tây có, trồng được 63 ngày thì lúa chín.

    Sách Quảng- đông tân ngữ chép: Lúa ở vùng Lĩnh-nam nhiều nhựa mà ở nước Giao-chỉ thứ lúa có nhiều nhựa thì nhiều. Nếp ở An-nam có thứ nếp trắng nếp vàng, hơn mười giống, người ta lấy gạo có nhựa nấu cơm, lấy nếp làm rượu.

    Sách Đạo- phẩm (phẩm lúa) của Hoàng-Tỉnh-Tăng, người nhà Minh soạn nói về các giống lúa ở Trung-Quốc phần nhiều giống với lúa ở nước Nam, nay chép ra như sau:

    - Lúa nếp không có lông.

    - Lúa tẻ có lông.

    - Lúa tẻ thứ nhỏ hột là lúa tiên, hột nhỏ dai mà trắng, vị ngọt mà thơm, [56b]tháng 9 có hột, đó gọi là thứ lúa thượng hạng.

    - Lúa tiễn- tử.

    1) Thứ hột to mà lòng màu hồng và đỏ, tháng 5 trồng, tháng 9 chín, gọi là lúa Hồng-liên (sen hồng)

    2) Thứ hột nhỏ mà màu trắng, tháng 4 trồng, tháng 6 chín, gọi là lúa 60 ngày, thứ lúa chín trễ gọi là lúa 80 ngày, thứ lúa chín trễ hơn nữa gọi là lúa 100 ngày.

    Những giống lúa này đều do nước Chiêm-thành đem đến, thật đã nhờ mưa và nắng mà thành hột. Hột gạo lúa này nấu cơm thì hơi cứng.

    Nhà Tống sai sứ đến nước Chiêm-thành, lấy đồ trân bảo đổi lấy giống lúa ấy để cấp cho dân.

    Ở Thái- bình, lúa tiên (lúa tẻ chín sớm) trong vòng 60 ngày gọi là lúa Đả lê kiếm, có thứ lúa Xích hồng tiên, có thứ lúa Bát nguyệt tiên, nhưng vỏ hột lúa màu trắng mà không có lòng hoặc tháng 7 hoặc tháng 8 thì chín, thứ trắng có vị lạt, thứ hồng có vị ngọt.

    Lúa ở đất Mân không có lòng mà hột gạo thì nhỏ, có thứ 60 ngày gặt được, có thứ 100 ngày gặt được. Những giống lúa này gọi là lúa Chiêm- [57a]thành, hột gạo nhọn màu hồng mà tính cứng, tháng 4 trồng, tháng 7 chín, gọi là lúa Kim-thành. Đó là giống lúa mà Cao-Trọng đã trồng.

    Thứ gạo mà Tùng-giang gọi là Xích-mễ (gạo đỏ) lại là thứ thóc hạng chót, hột dài mà có đốm, tháng 5 trồng, tháng 9 chín.

    Thứ gạo mà Tùng-giang gọi là:

    - Lúa Thắng hồng liên thì cứng cơm, vỏ hột lúa và cây lúa đều màu trắng.

    - Lúa Bã á đạo thì hột gạo to màu trắng, cộng lúa mềm có lông.

    - Lúa Tuyết lý đống thì hột không có lông mà cây lúa thấp, tháng 5 trồng, tháng 7 chín.

    - Lúa Sự hộ đạo thì trồng vào tháng 4.

    - Lúa Ải-bạch thì hột gạo màu đỏ, vỏ hột lúa màu trắng có lông, đầu tháng 5 trồng, tháng 8 chín.

    - Lúa Tảo-bạch, ở Tùng-giang người ta gọi là lúa Tiểu-bạch, chín vào tháng 9.

    - Lúa Vãn-bạch, lại gọi là lúa Lư-hoa bạch,ở Tùng-giang người ta gọi là lúa Đai-bạch, tháng 3 trồng, tháng 6 chín.

    - Lúa Mạch dương-trường (lúa mạch ruột dè), cấy lại [57b] mà chín muộn.

    - Lúa Ô-khẩu (lúa mỏ quạ) ở Tùng-giang, màu đen mà chịu nước và khí hàn, lại gọi là lúa Lãnh thủy kết, đó là thứ lúa thượng hạng.

    Có thứ lúa ngọn đã gặt rồi, gốc lại mọc lên cây và kết hột một lần nữa, gọi là lúa Tái-thục (chín hai lần), lại gọi là lúa Tái-liêu (lấy lần thứ hai), hột gạo trắng mà to, tháng 4 trồng, tháng 8 chín.

    - Lúa Trung-thu ở Tùng-giang, thứ chín vào lúc trăng tròn tháng 8 gọi là lúa Tảo trung thu, lại gọi là lúa Nhân tây phong (nhân gió tây), hột gạo màu trắng, hột lúa màu tía, tháng 5 trồng, tháng 9 chín.

    - Lúa Tử-mang (lúa lông màu tía), rất dễ trổ bông.

    - Lúa Hạ mã khán (lúa xuống ngựa mà xem) lại gọi là lúa Nhất triêu khán (lúa xem một buổi sáng) ở Tùng-giang hột nhỏ, có tính mềm, có hai loại:

    1) Lúa lông hồng.

    2) Lúa lông trắng, chín vào tháng 7.

    - Lúa Hương-canh, hột nhỏ mà có đốm. Lấy 30 hay 50 hột gạo thứ nầy bỏ vào mấy đấu gạo khác đem nấu thì nghe mùi thơm ngon. [58a]

    - Lúa Hương-tử ở Triều-châu, một giẻ lúa có hơn một trăm hột.

    - Lúa Tam tụy tử, dùng để nấu cơm mà ăn hay gầy rượu thì được nhiều gấp bội.

    - Nếp Kim-thoa, hột gạo màu trắng có tính mềm, tháng 5 trồng tháng 9 chín.

    - Nếp Yên-chi[3], ở Thái-bình gọi là nếp Chu-sa, màu sắc có đốm trắng, tháng 5 trồng, tháng 10 chín.

    - Nếp Hổ-bì (nếp da cọp), hột gạo rất dài, vỏ lúa màu trắng, tháng 4 trồng, tháng 7 chín.

    - Nếp Tảo-trần, cũng gọi là nếp Chỉ, hột gạo to màu trắng, tháng 4 trồng, tháng 9 chín.

    - Nếp Ải cũng gọi là nếp Ải nhi (nếp thằng lùn), vỏ lúa màu vàng, lông màu đỏ, lúa lúa đã chín mà cây lúa còn hơi xanh, thích hợp với ruộng tốt, tháng 4 trồng, tháng 9 chín.

    - Nếp Thanh-cán (nếp cây xanh), hột gạo to màu trắng, hột lúa có lông dài mà chín rất sớm, màu sắc dễ biến đổi, nhưng [58b] gầy rượu ngon nhất.

    - Nếp Lô-hoàng (nếp bông lau vàng), hột gạo tròn màu trắng mà vỏ hột lúa màu vàng, trời nắng to thì gặt được, không nên gầy rượu.

    - Nếp Thu-phong (nếp Gió-thu) có thể thay lúa tẻ đem nộp thuế, lại gọi là nếp Cách, Tùng-giang người ta gọi là nếp lãnh-lạp (hột gạo lạnh), không chịu được gió mưa, tháng 4 trồng, tháng 8 chín.

    - Nếp Tiểu-nương (nếp cô gái bé) ở Triều-trâu, màu đen mà thơm.

    - Nếp Ô-nương (nếp đen thơm), lông như bờm ngựa, màu đỏ.

    - Nếp Xích mã tông (nếp bờm đỏ ngựa)

    Đất 12 tổng huyện Đông-thành trấn Nghệ-an đều là cát, theo thói tục, nhân-dân làm ruộng mỗi năm chờ tiết Mang-chủng (mùng 5 mùng 7 tháng 6) báo-hiệu, thì cày xới đất lên, gieo rải hột giống rất rậm, trong ngày ấy lại bừa qua, cát và hột giống lẫn lộn nhau, chẳng bao lâu hột giống mọc mầm, được nước mưa rưới tưới, đất cát bồi vun, cây mạ tươi tốt như cỏ dồi-dào, lại bừa qua một lần nữa không câu-nệ là đã có mạ, bừa như thế không hại mạ mà có thể trừ cỏ.

    Lúc lúa chín, thu [59a] gặt xong, gốc ra mục nát không phải cắt, để bón ruộng càng tốt, hoặc bừa qua một lần nữa cho rơi ngã xuống đất, hột lúa lại mọc lên, mạ lúa không đợi phải gieo trồng.

    Một nhà một con trâu cày hơn mười mẫu ruộng, thật không tốn công mấy.

    Ở Nghệ-an, ven theo bờ biển cách nước Chiêm-thành mấy trăm dặm, còn nước Chiêm-thành cách nước Chân-lạp, đường đi phải nửa tháng.

    Xem sách Chân-lạp phong thổ ký[4] thì biết nước Chân-lạp và đất Nghệ-an đại lược không khác nhau về phong-thổ.

    Nước Chân-lạp, nữa năm có mưa, nửa năm không mưa. Từ tháng 4 đến tháng 9, mỗi ngày sau giờ ngọ (12 giờ trưa) thì đổ mưa. Từ tháng 10 đến tháng 3, một giọt cũng không có.

    Người cày cấy chỉ rõ: Đến lúc nào lúa chín thì lúc bấy giờ nước sẽ tràn đến chỗ nào, tùy theo cuộc đất mà gieo trồng.

    Nay vùng phía trên Nghệ-an mỗi năm đến tháng 5 thì mưa nhiều, đến tháng 6 thì nước lụt tràn ngập, [59b] đến đầu mùa đông (tháng 10) trời mới tạnh, nước mới rút.

    Tục lệ ở huyện Hương-sơn thuộc tỉnh Quảng-đông, người ta chỉ lấy số thóc nộp thuế nhiều hay ít của miếng ruộng làm lượng độ, chớ không lấy số mẫu của miếng ruộng làm lượng độ. Hỏi ruộng được bao nhiêu thì nói: «Nộp thóc được bao nhiêu ?» Chớ không nói: «Ruộng được bao nhiêu mẫu ?»

    Ở nước ta thời tiền triều chưa làm sổ Tu tri điền bộ, chưa định mẫu sào trượng thước. Người ở Kinh-bắc Hải-dương chia ruộng cho con cháu cũng nói: «Một sở ruộng ở mỗ xứ mỗ xã được lúa bao nhiêu gánh » mà không nói: được bao nhiêu mẫu»

    Sách Kinh sở tuế thì ký[5] chép: tháng trọng đông (tháng giữa mùa đông là tháng 11) sương xuống, người ta đem rau quỳ củ cải và các thứ rau lặt vặt phơi khô mà làm dưa.

    Chú thích: Ngày nay người nước Nam làm dưa, lấy nếp rang giã làm thành bột (gọi là thính) và nghiền mè [60a] lấy nước mà gầy dưa, lấy đá dần cho chín thì dưa đã ngọt bở và nước cũng đều chua ngon.

    Sách Thảo mộc trạng chép: dây củ-tương (dây trầu) là dây tất-bạt (cũng một loại trầu), sinh sản ở nước Phiên thì to mà màu tía thì gọi là cây tất-bạt, sinh sản ở Phiên-ngung thì nhỏ mà xanh gọi là dây củ-tương. Vì có thể ăn được cho nên gọi là tương.

    Nhà người ở Cửu-chân quận Giao-chỉ thường trồng cho bò leo lên cây khác, thứ đó tức là lá lốt cũng có thể nấu ăn mà không thể làm tương được, rất giống với dây trầu.

    Có người cho hai thứ dây nầy là một thì lầm.

    Lá trầu cay không thể làm dưa (tương)

    Nhưng sách Ích bộ phương vật lược ký[6] của Tống-Kỳ[7] có nói: Dây củ-tương như vương-qua (dưa chuột) dày mà trơn, trái như trái dâu, mọc leo lên cây khác, trái lúc chín thì ở ngoài đen, ở trong trắng, dài ba bốn tấc, ngậm mật để được lâu, ăn ngon thơm, ôn nhuần ngũ tạng làm dưa, hòa với các món khác rất ngon, tục gọi là dưa chuột. Hình trạng hoàn-toàn khác với cây tất bạt.

    Tống-Kỳ lại nói: « Có người bảo đó là dây trầu ». Nói như thế là lầm.

    Tống-kỳ lại nói: « Nó mọc leo lên dây khác, ra trái như trái dâu, có người bảo là dây trầu (phù lưu)». Nói như vậy cũng không phải.

    Dây trầu trồng bằng gốc (chớ không có trái hột để trồng) và vốn không có trái.

    Người Quảng-châu hễ ăn cau thì ăn phụ thêm lá trầu. Lúc sương xuống nhiều thì trầu ít lá, người ta ăn rễ trầu với vôi.

    Trầu tức là dây phù lưu.

    Sách Thảo-mộc trạng chép: Úng thái (rau muống) có tính đạm, vị ngọt. Người Nam kết cỏ lau làm bè chừa lỗ nhỏ cho nổi trên mặt nước, rồi trồng hột rau muống ở trong bè ấy như bèo nổi trên mặt nước. Khi rau muống lớn lên, cây và lá đều [61a] mọc lên ở lỗ bè. Đó là thư rau kì lạ ở phương Nam.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép: Ở Quảng-châu cứ 10 khu ao hồ, thì 3 khu nuôi cá, 3 khu trồng ấu, trồng sen, trồng bông súng, còn 4 khu còn lai thì gọi là ruộng rau muống, lấy bè thả vào cho lên xuống theo mặt nước để



    (1) Hỏa mễ, đốt rừng lấy tro bón phân trồng lúa, thứ lúa ấy gọi là hỏa mễ.

    (2) Lúa tiên, lúa tẻ mà chín sớm.

    (1) Yên-chi, thứ sáp để phụ nữ ngày xưa dùng thoa mặt, sản xuất ở nước Yên, chế bằng nước hoa hồng lam.

    (1) Chân lạp phong thổ ký, tên sách, có 1 quyển, do Chu-Đạt-Quan đời nhà Nguyên soạn. Chân-lạp vốn là một nước nhỏ ở biển Nam-hải, thuộc-quốc của Phù-nam, trong đầu niên-hiệu Nguyên-trinh (1295-1296) nhà Nguyên sai sứ đi chiêu-dụ nước Chân-lạp, Chu-Đạt-Quan đi theo và qua lại trong ba năm, nhân những điều nghe thấy mà viết sách nầy.

    (1) Kinh sở tuế thì ký, tên sách, có một quyển do Tông-Lẫm đời Lương soạn. Tông-Lẫm là người nước Sở, ghi chép phong tục của nước Sở tất cả được 36 việc.

    (2) Ích bộ phương vật lược ký, tên sách, có một quyển, do Tống-Kỳ đời Tống soạn. Tống-Kỳ làm tri-châu ở Ích-châu, dùng sách Kiếm nam phương vật lược của Thẫm-lập bổ-túc những điều thiếu sót mà làm sách nầy. Về cỏ cây có 41 loại, thuốc có 9 loại, chim thú có 8 loại, côn trùng và cá có 7 loại, cộng chung được 65 loại đều có vẽ hình và có lời tán.

    (3) Tống-Kỳ, người đất An-lục đời Tống, tự là Tử-kinh, đỗ tiến-sĩ, thăng chức Long-đồ các học-sĩ, Sử quán tu-soạn, cùng với Âu-Dương-Tu làm sách Đường-thư, ra làm tri-châu ở Bạc-châu, đi đâu cũng mang theo sử cảo, thăng chức Tả-thừa, chức Công-bộ Thượng thư, chức Hàn-lâm học-sĩ thừa chỉ.
  • Đang tải...