32.06 - Songsongsau (type done).

1/9/15
32.06 - Songsongsau (type done).
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-V0kzcnR3SVJ0R2s/view?pli=1


    Trồng rau muống, gọi là phù điền (ruộng nổi để trồng rau muống).

    Rau đó tức tục gọi là rau muống, đại để giải hết các thứ độc, cho nên cả nước đều trồng mà ăn.

    Ở Quảng châu có thứ hải thái (rau biển), một tên nữa là thạch-hoa (bông đá) dề làm rượu hải tảo (rượu rong biển) trị chứng anh khí (bịnh mạch lươn ở cổ), đề làm đường hổ phách trừ chứng thượng tiêu phù nhiệt.

    Người ở Quỳnh-châu hái thứ rau này mỗi năm bán được muôn vàng.

    Sách Lĩnh-nam tạp ký chép : Yến sào (ổ chim én) có mấy thứ :

    1) Thứ màu trắng có sợi như tế ngân ngư (cá bạc nhỏ) sạch-sẽ trong-trắng dễ thương.

    2) Thứ màu vàng kém hơn, ở trong có màu hồng có thể trị được bịnh huyết lỵ (bịnh kiết có máu).

    Thứ trắng hợp với lê và đường phèn [61b] đem chưng mà ăn có thể trị được chứng cách đàm.

    Sách Quảng-đông tân-ngữ chép : chim én ăn phấn đá ờ bờ biển, nhả chất ấy làm ổ đóng kết ở vách núi. Người ở hòn (hòn đảo) chờ chim én bay đi trong mùa thu, mới làm cây sào có lưỡi liềm đến đấy mà lấy.

    Hải phấn có tính hàn (lạnh) và vị mặn được chim én nuốt vào và nhả ra thì trở thành ấm và ngọt, hình và chất đều biến hỏa hết cả, cho nên có thể thanh đàm khai vị.

    Yến sào (ổ chim én) có hai thứ: màu đen và màu trắng. Còn thứ mầu đỏ thì khó được. Bởi lẽ chim én thuộc hỏa, yến sào thứ đỏ thật là tinh dịch của chim én.

    Củ nâu (Vũ-dư-lương), trong sách Bổn-thảo, Hoẳng-Cảnh (1) nói: “Người Nam gọi một giống dây leo mọc trong ao đầm nơi đồng bằng, lá như lá cây bạt-khế, rễ thành khối, có mắt (đốt), màu đỏ, mùi giồng như cây thự-dư (củ mài) là vũ-dư-lương (củ nâu)”.

    Lý-Thời-Trân vạch rõ đó là sai lầm và bảo:

    “Vũ-dư-lương, Thái-nhất-lương, Thạch-trung-lương, ba thứ đều là đá [62a] cả”.

    Tổng-quát mà nói, những thức có tên đá dùng làm thuốc hẳn là không thể biết rõ.

    Nhưng đây là loại dây mà người ở phương nam thật đã lấy tên vũ-dư-lương mà gọi. Tiếng tục lại gọi sai ra bồ đâu.

    Cây xuân (2) ở trước nhà ông Đỗ-Tuân-Hạc (3) mọc

    upload_2015-9-1_23-46-10.png

    (1) Hoằng-Cảnh, tên nhà sư đời Đường đệ-tử của Nam sơn luật sư, theo Thiên-thai Chương-an đại sư học Thiên-thai tông, trong thời Vũ-hậu, cùng với nhóm Thực sa nan đà dịch kinh hoa-nghiêm.

    (2) Nguyên văn chép chữ này có hai âm: 1) Trang là cây cọc đóng cọc dưới đất. 2) Thung là đánh.

    Chúng tôi chắc-chắn đây là chữ Xuân (bị viết sai) là một loài cây to sống lâu thường được ví với người cha.

    Đỗ-Tuân-Hợc, người ở đất Vạn - niên cuối đời Đường, tự là Ngạn chi, hiệu là Cưu-hoa sơn-nhân, trong niên-hiệu Đại-thuận đỗ tiến- sĩ, vào nhà Lương cậy thế muốn giết cả nhà địch thủ, việc chưa phát- gíac thì chết. Tuân-Hạc giỏi thơ và nhất là thể cung-từ. Ông có viết sách Đường phong tập.

    lên cây cỏ chi. Năm sau ông thi đỗ, ông lấy sơn và phấn trang-sức cây cỏ chi ấy và đặt ơ chỗ chiếu ghế gọi là khoa danh thảo (cỏ thi đỗ nên công danh).

    Bên nhà ông Trương-Cửu-Linh (1) có một cây đã chết khô, bị gió thổi bạt gốc lên, người ta xẻ ra đề làm vật- dụng, thấy có vân rất kỳ lạ.

    Người ta cho ông là đứng đầu về văn-học trong một thời, mới gọi cây khô ấy là văn chương mộc (cây văn chương).

    Sách Dã nhân nhàn thoại chép: có vị đạo-sĩ trao cho Vương-Xử-Hồi trồng cây tinh tiết hoa của tiên gia.

    Cây nầy có thề đổi với cây văn chương mộc.

    Sách Hoasớ của người nhà Minh chép : Cây chi-tử (cây dành dành), sách Phật kinh gọi là chiêm-bặc, thứ cánh đơn có sáu cái, hột dùng làm [62b| thuốc, và nhuộm đồ, thứ cánh kép thì hoa to mà trắng, mùi hương thật không tao nhã.

    Cây xương-bồ, lấy loại một tấc chín đốt làm thứ báu, lấy loại râu cọp làm thứ qúy, loại mọc trôn đá chổ suối nước thì thật có tiên khí.

    Tô-Đông-pha có câu thơ:


    (1) Trương-Củu-Linỉh, người vùng Khúc-giang đời Đường, tự là Tử- thọ, đứng đầu về văn-học một thời. Vua Huyền-tông cất nhắc cho đỗ tiến-sĩ, làm chức Tã thập di, chức Trung thư lịnh, làm tể-tướng, được phong Khúc-giang nam.

    Lục hoa chiêm-bặc làm gian Phật
    Cửu tiết xương-bồ thạch thượng tiên.


    Dịch nghĩa

    Hoa dành-dành sáu cánh là Phật trong rừng.
    Cây xương-bồ chín mắt là tiên trên lá ở suối nước.


    Ở Lăng cổ-pháp của triều Lý huyện Đông-ngàn tỉnh Bắc-ninh, trong rừng có một giống cây thự-dự (củ mài), củ nhỏ chỉ bằng ngón tay, da mịn và mỏng, mùi vị ngọt ngon.

    Tương truyền họ Lý dựng nước lấy giống củ mài này ở bên Tàu đem về trồng ở đây.
    Nay hàng năm từ tháng 2 đến tháng 4 người ta tìm lấy để dâng lên vua.

    Củ mài sản-xuất ở chỗ khác thì to, nhiều nhớt mà phong vị thì kém xa.

    Phép bào-chế củ mài: Cạo sơ bỏ lớp vỏ, lẩy vải thô lau chùi, đừng nhúng vào nước, ban đêm phơi gió, ban ngày phơi nắng thì cù mài lự nhiên hoan-toàn trắng tinh, làm thuốc thì sao mà dùng.

    Có thứ củ mài do thuyên buôn người Tàu đem đến, đó là thứ sản-xuất ở [63a] núi Hiền-sơn phía nam huyện Tương-dương tĩnh Hồ-bắc cũng "không tốt bằng.
    Thơ của Lão-Đỗ (Đỗ-Phù) có câu :

    Hoàng - độc vô miêu sơn tuyết thịnh

    Dịch nghĩa

    Củ hoàng-độc không mọc mầm vì tuyết trên núi nhiều.
    Theo sách Bản-thảo củ Hoàng-độc có một tên nữa là thổ-vụ lại gọi là thổ-noãn, mọc leo lên cây khác, củ màu trắng, vỏ màu vàng, người đời Hán gọi là củ hoàng-độc, trong những nam đói kém, người bản-thổ đào lấy củ nầy làm lương-thực mà ăn.

    Nay ở Thanh hoa tục gọi là củ cáo, con trẻ và sản-phụ không ai lại không nấu mà ăn, nào có độc gì.

    Sách Thực-vật bản-thảo lại chép : Ở Việt-trung cỏ một loại củ, củ lớn như trứng ngỗng, củ nhỏ như trứng gà trứng vịt, hấp mà ăn rất ngọt ngon gọi là củ cam-chư, sách Bôn-thảo gọi là củ cam-chư, nay tụcgọi là củ từ.
    Tục nước ta, hễ rễ loài cỏ ăn được đều gọi là củ.

    Sách Thảo-mộc trạng chép : Cam-chư thuộc về loại thự- dự, rễ và lá như rễ lá khoai, trái như nắm tay lại to như cái [63b] ô, vỏ màu tía mà thịt màu trắng, người ta hấp mà ăn.

    Người ờ vùng biển đào đất trồng cây cam-chư này, mùa thu thì chín, người ta thu lấy hấp mà ăn, xốt nhỏ như
    hột gạo, tích trữ ở kho vựa làm lương-thực mà ăn thì sống lâu hơn trăm tuổi.

    Sách Thực-vật bản-thảo chép: ở Việt-trung có một thứ củ, hình-trạng như gan heo, củ to nặng hơn 10 cân, củ nhỏ nặng hơn năm cân. Đấy tức tục gọi là củ khái mật xắt ra trộn vởi gạo nếp hấp mà ăn đều ngon.

    Sách ấy lại chép: Có một thứ củ nữa, vỏ màu hồng, ăn sống có vị ngọt, gọi là củ hồng-thư, cũng gọi là củ phiên-thự, nấu ăn có vị ngon, trị được chứng động phong, phát sang, lãnh tỳ. Củ đó tục gọi là củ lương. Thứ củ nầy nưởc Lữ-tống (Lucon) đem đến vào cuối đời Minh.

    Sách Lĩnh-nam tạp chí chép: Củ phiên-thự có hai loại: hồng vỏ trắng, cỏ thề xắt nhô phơi khô làm lương-thực, [64a] lại có thể chế làm bột.

    Sách Quảngđông tân ngữ chép: Khoai nấu là món ăn phụ cho cơm gạo.

    Khoai xứ Quảng cỏ 14 giống, lại gọi là đại-mễ (gạo lớn, có củ to). Các thứ khoai cũng thế.
    Hoa cây lăng (cây ấu) nở trái với hướng mặt trời.

    Hoa cây kiệm (cây bông súng) nở hướng theo mặt trời.

    Cho nên cây lăng (cây ấu) thì hàn, mà cây kiệm (cây bỏng súng) thì ấm.

    Trần-úc đời Tống nổi: “củ bột-tề một tôn nữa lù ô-vu, một tên nữa là địa-lật tán nhỏ mà uổng trừ được

    chứng cổ độc (1) và tiêu tan được chất đồng. Nước Việt nưởc Sở sản-xuất củ nầy nhiều nhất”.

    Tục nước ta gọi củ năy ià củ năn, củ do nước ta sản- xuất thì nhỏ không bằng như của nước Tàu mà có thể ăn được.
    Hột sen bỏ vào trong nước thì chìm, bỏ vô trong nước mặn thì nổi.

    Khi nấu muổi người ta dùng hột sen đề thử muổi, hỗ thấy hột sen nổi lên thì biết muối dùng được.

    [64bl Củ tì-giải cỏ hai thứ: vàng và trắng. Thử vàng thì cứng, thứ trắng thì mềm, tục gọi là củ kim-cương.

    Củ thổ phục-linh có hai thứ: đỏ và trắng. Thử trắng mới tốt, tục gọi là củ khúc-khắc.

    Sách Hương-phổ chép: bạch mao hương (cây sả) nấu nước tắm thì người được thơm tho, nấu nước uống thì trị được chứng đau bụng lạnh, sinh-sản ở nước An-nam. Nhà đạo-gia lấy củ sả nấu nước tắm gội.

    Giáng chân hương (đốt hương nầy thì thần tiên giáng xuống) chủ trị bịnh thời khí do trời ban hành. Trong nhà có quái dị đốt giáng chân hương thì trừ được. Con trẻ đeo giáng chân hương thì trừ được khí tà.

    (1) Cổ-độc, lấy chất độc thuốc người. Cách chế-tạo chất thuốc độc nầy: Bắt một trăm thứ sâu bỏ vào trong chén cho chúng ă lẫn nhau. Bắt con sâu sống sót cuối cùng làm thuốc độc.

    Trước đầu hương tức hương phụ tử ở Giao-châu thì tốt nhất, nó hạ khi trừ nhiệt. Hợp vởi các thứ hương khác mà dùng thì tốt.

    Sách Vong hoài lục chép: Cỏ vân, người xưa gọi là vân-hương, để vào trong sách vở thi trừ được mọt, để vào trong chiếu thi trừ được rệp. Lá vân-hương giống lá cây tiểu-đậu, mọc thành bụi nhỏ, trong mùa thu, trên lá sinh ra tí phấn trắng, [65a] người Nam gọi là thất-lý-hương (hương thớm tỏa ra bảy dặm).

    Giống cỏ nầy người ta đứng cách mười bước đã nghe thơm, từ mùa xuân đến mùa thu không dứt.

    Sách Bổn-thảo gọi cỏ ấy là cây sơn-phàn.
    Các nhà chú-thích tranh biện không đồng nhau.

    Sách Hương-phổ chép: Vân thảo giống như cỏ tà hao trừ được giống mọt trong giấy, cho nên người ta đem cất ở thư đài (nhà chứa sách) và nhà chứa sách được gọi là vân đài.

    Sách Thư truyền chinh ngộ chép: Người ta cho thứ hoa bách nhật hồng (nở hồng đủ một trăm ngày) nở vào tháng 6 là hoa tử-vi. Thứ hoa này cỏ hai màu: màu hồng và màu tía, cây cao được một tầm một trượng, vỏ mỏng mà trắng, hoa nhiều mà nở loét ra cũng thơm nồng dễ thương. Ngày nay mọi nơi đều có thứ hoa nầy.

    Hoa cúc kể có đến hàng ngàn giống, sắc hoa không giống nhau.
    Sách Ngũ tạp trở chép : Lúc nhụy hoa cúc sắp nở, lấy sáp bịt miệng hoa lại, qua lúc ấy lấy nước nóng nhỏ vào thi sáp tan, hoa nở rộ một lần, hương thơm nồng [65b| nực, càng là kỳ phẩm.

    Sách Phong song tiêu độc chép : Hoa mồng gà (kê quán hoa), người ở Biện-trung gọi là tẩy thủ hoa (hoa rửa tay). Trước tiết Trung-nguyên, con trẻ tranh nhau mua để cúng tô-tiên. Ngày nay tục gọi là hoa tử-hiện.

    Sách Lĩnh nam tạp kýchép: Cây tiên-nhân-chưởng (tay người tiên) người ta trồng ở bờ ruộng để ngăn trâu bò đạp vào ruộng, người ta trồng ở đầu tường để trừ hỏa tai.

    Loại cây này không có cành lá, thân cây màu xanh non, giẹp và dày có gai, mỗi từng có mấy nhánh mọc tẽ ra, thật trông không đẹp tí nào.
    Mũ cây này vào mắt khiến người ta đau mắt.

    Cây nầy ngày nay người ta gọi là cây xương rồng.

    Súc sa sản-xuất ở trấn Thái-nguyên, tượt nó giống như tượt gừng, trái nó giống như trái hạch đậu khấu (tức lồ cây sa-nhân).

    [66a] Cây hậu phác được chú-thích là mọc ở nước Giao- chỉ, nay tục gọi là cây vối, người ta hái hoa và cành cây này để nấu nước uống.

    Sách Quê hải ngu hành chí chép : Trái cây niêm to như ngón tay, màu xám, tức tục gọi là cây sâm truật, ưa mọc trên núi, người ta thường hái trái đem bán. Trái này cỏ thể trị bịnh ỉa kiết. Trị bịnh ỉa thì lấy trọn vỏ, trị bịnh kiết thi bỏ vô lấy hột, sắc thành thuốc thang mà uổng thỉ đều rất hay.
    Sảch Tiềm đối loại thư chép : Nhân-sâm sản-xuất ở hốc núi Thượng-đảng. Các châu ở Liêu-đông đều có nhân-sâm nhưng không bằng ở Thượng-đảng.

    Lục-Vũ (1) nói: Sâm thượng hạng sản-xuất ở Thượng- đảng, sâm hạng trung sản-xuất ở Bách-tế Tân-la, sâm hạng chót sản-xuất ở Cao-ly.

    Nay người Tàu phần nhiều quý sâm Liêu-đông mà rẻ sâm Thượng-đảng, vì ở Thượng-đảng đã không còn sâm nữa.
    Thứ sâm ấy sản-xuất ở Kế-châu do nhà nông trồng, màu hồng trắng khá xinh nhưng rất lạt không mùi vị, một lượng chỉ đồng ba tiền.

    [66b] Những xã Phù-lưu Tiên-lễ ở châu Bố-chính trấn Nghệ-an có sản-xuất nhân-sâm, trong khoảng tháng 4 tháng



    (1) Lục-Vũ, người đất Cánh-lăng đời Đường, tự là Hồng-tiệm, có một tên nữa là Tật, một tên nữa là Qúy-tỳ, không biết sỉnh đẻ ở đâu, lớn lên mới lấy họ Lục và tên Vũ, tự xưng là Tăng-trữ ông, hiệu là Cánh-lăng-tử, đầu niên-hiệu Thượng-nguyên, ở ẩn nơi Điều-khê, hoặc đi một mình trong đồng nội, đọc thơ, khóc đau-đớn rồi trở về, thích uống, có viết sách Trà kinh 3 thiên, nói rõ nguồn gốc của trà, do đó thiên-hạ có phong-trào thích uống trà. Đời sau người ta thờ Lục-Vũ làm trà thần.
  • Đang tải...